Quản lý nợ công và thẩm quyền của Quốc hội

Đại biểu Quốc hội còn băn khoăn về phạm vi điều chỉnh của dự án luật quản lý nợ công…

Đại biểu Quốc hội còn có nhiều ý kiến khác nhau xung quanh các dự án luật – Ảnh minh họa

Thẩm quyền của Quốc hội là một trong số các nội dung của dự án Luật Quản lý nợ công, được Quốc hội tập trung thảo luận tại hội trường, chiều 29/5.

Tại kỳ họp thứ tư, Quốc hội đã cho ý kiến lần thứ nhất về dự thảo luật này. Sau đó dự luật đã tiếp tục được lấy ý kiến và chỉnh sửa.

Về thẩm quyền của Quốc hội và Chính phủ, dự thảo luật quy định Chính phủ có thẩm quyền phê duyệt chiến lược nợ dài hạn, Thủ tướng Chính phủ có thẩm quyền phê duyệt chương trình quản lý nợ trung hạn, kế hoạch vay trả nợ hàng năm .Quốc hội có nhiệm vụ phê duyệt tổng mức vay, trả nợ hàng năm.

Theo báo cáo giải trình tiếp thu của Ủy ban Thường vụ Quốc hội thì đa số ý kiến đại biểu Quốc hội cho rằng, việc quy định Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ quyết định những định hướng quan trọng, trong khi đó Quốc hội lại phê duyệt kế hoạch hàng năm nằm trong định hướng mà Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ đã quyết định là chưa hợp lý, không phù hợp với chức năng, nhiệm vụ luật định đối với từng cơ quan.

Tiếp thu ý kiến này, dự luật được chỉnh sửa lại theo hướng: Quốc hội có thẩm quyền quyết định những vấn đề cốt lõi mang tính định hướng trong quản lý nợ công; bao gồm quyết định các mục tiêu, định hướng huy động, sử dụng vốn vay và quản lý nợ công trong từng giai đoạn 5 năm; quyết định các chỉ tiêu an toàn về nợ, tổng mức, cơ cấu vay và trả nợ hàng năm.

Còn Chính phủ với chức năng điều hành nền kinh tế, có nhiệm vụ, quyền hạn quản lý, sử dụng các nguồn lực tài chính, trong đó có nguồn vốn vay theo đúng mục đích, định hướng đã được Quốc hội quyết.

Chỉnh sửa này đã nhận được sự đồng tình của nhiều đại biểu trong phiên thảo luận.

Đại biểu Trần Đình Long (Đắc Lắc) góp ý thêm: “Tôi nghĩ một chỉ tiêu an toàn đối với nợ nước ngoài và chỉ tiêu trả nợ so với kim ngạch xuất khẩu là rất quan trọng mà Quốc hội phải quyết định trong luật này”.

Cũng liên quan đến nhiệm vụ, quyền hạn của Quốc hội, đại biểu Trương Văn Vở (Đồng Nai) đề nghị trong dự án luật thể hiện rõ nếu vượt chỉ tiêu an toàn nợ, vượt hạn mức nợ đã được Quốc hội phê duyệt thì cũng là một hành vi bị cấm trong quản lý Nhà nước về nợ công.

Nợ của doanh nghiệp Nhà nước, tính sao?

Nợ của khối doanh nghiệp nhà nước có thuộc phạm vi điều chỉnh của luật hay không là vấn đề còn có nhiều ý kiến khác nhau.

Theo Ủy ban Thường vụ Quốc hội, nếu quy định mọi khoản nợ của doanh nghiệp nhà nước thuộc phạm vi điều chỉnh của luật thì đồng nghĩa với việc khẳng định trách nhiệm pháp lý của Nhà nước đối với cả những khoản nợ doanh nghiệp nhà nước tự vay, tự trả. Điều này sẽ tạo hệ quả pháp lý bất lợi, dẫn đến nguy cơ phát sinh nghĩa vụ trả nợ của Nhà nước trong trường hợp các doanh nghiệp này mất khả năng thanh toán.

“Trong cơ chế thị trường, việc vay, trả nợ của doanh nghiệp Nhà nước sẽ do doanh nghiệp tự quản lý, tự chịu trách nhiệm trước pháp luật”. Do vậy, Ủy ban Thường vụ Quốc hội thống nhất phạm vi điều chỉnh của luật bao gồm nợ Chính phủ bảo lãnh và nợ chính quyền địa phương.

Đại biểu Hồ Quốc Dũng (Bình Định) đề nghị cần giải trình rõ hơn, vì dự án luật quy định doanh nghiệp cũng như chính quyền địa phương đều là đối tượng được vay lại từ nguồn vay nợ của Chính phủ. Cũng có nghĩa là cả hai cùng vay một nguồn tiền của Nhà nước, Nhưng khoản nợ này đối với chính quyền địa phương gọi là “nợ công” và được điều chỉnh bởi luật này, còn đối với doanh nghiệp thì lại cho rằng không phải.

Ông Dũng cho “đây là vấn đề sơ hở” và đề nghị nếu xác định phạm vi điều chỉnh của luật không bao hàm nợ của doanh nghiệp vay lại của Nhà nước thì phải bỏ quy định là cho doanh nghiệp được vay lại. Còn  nếu xác định doanh nghiệp cũng được vay lại từ nguồn vay của Nhà nước như chính quyền địa phương thì phải bổ sung nợ vay của doanh nghiệp Nhà nước cũng thuộc phạm vi điều chỉnh của luật.

“Doanh nghiệp Nhà nước mà vay vốn do Chính phủ đi vay về cho vay lại thì đó cũng là khoản nợ công”, đại biểu Nguyễn Văn Nhượng (Quảng Bình) đồng tình. Nếu quy định như dự luật thì “tôi thấy chưa thông”, ông nói. Một số ý kiến khác cũng chia sẻ với đại biểu Nhượng về nội dung này.

Đổi mới tài chính giáo dục: Học phí đại học tăng dưới 33%/năm

Mức tăng học phí tại đề án đổi mới cơ chế tài chính giáo dục vẫn gây nhiều tranh cãi…

Chủ nhiệm Ủy ban Văn hóa – Giáo dục – Thanh niên, thiếu niên và nhi đồng của Quốc hội Đào Trọng Thi đọc báo cáo thẩm tra đề án – Ảnh: TTXVN.

Thay vì “nhảy vọt” từ 180.000 đồng lên 800.000 đồng (mức tối đa), học phí đại học sẽ  tiến từ từ, năm 2009 chỉ là 255.000 đồng. Còn mức tăng từ năm 2010 so với năm 2009 và của các năm sau so với năm trước liền kề dưới 33%.

Đây là điểm khác biệt lớn của đề án đổi mới cơ chế tài chính giáo dục được Phó thủ tướng kiêm Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo Nguyễn Thiện Nhân trình Quốc hội sáng 30/5, so với dự kiến ban đầu.

Phó thủ tướng cũng nhấn mạnh: “Đề án đổi mới cơ chế tài chính giáo dục gồm 8 nội dung thì 7 nội dung là nhằm làm cho việc sử dụng ngân sách và đóng góp của người dân cho giáo dục có hiệu quả ngày càng cao. 7 loại giải pháp này cần triển khai ngay mà không phụ thuộc vào mức học phí là bao nhiêu”

Tại tờ trình đề án này, Chính phủ cũng đã giải trình một số ý kiến còn khác nhau trong quá trình góp ý cho đề án.

6% có khả thi?

Theo đề án, đối với giáo dục mầm non và phổ thông, mức học phí cụ thể do hội đồng nhân dân cấp tỉnh quyết định trên nguyên tắc học phí và các khoản chi cần thiết khác cho con em đi học không vượt quá 6% thu nhập bình quân của hộ gia đình.

Cơ quan thẩm tra – Ủy ban Văn hóa – Giáo dục – Thanh niên, thiếu niên và nhi đồng của Quốc hội chưa đồng thuận. Vì 6% là mức chi trả khá cao trong tương quan so sánh chung và không phù hợp với thực tế thu nhập của các hộ dân hiện nay.

Mặt khác, ghép “các khoản chi cần thiết khác” mà gia đình học sinh tự chi tiêu chung với học phí người học phải đóng cho cơ sở giáo dục là không rõ ràng, dễ dẫn đến vận dụng tùy tiện khi xác định mức học phí cụ thể.

Bởi vậy, ủy ban này đề nghị tách riêng học phí và quy định khoản này không vượt quá 5% thu nhập bình quân của hộ gia đình để giảm bớt phần đóng góp của người dân, đồng thời tạo điều kiện chủ động cho địa phương.

Tuy nhiên, cơ quan soạn thảo đề án cho rằng 6% là khả thi, không gây gánh nặng tài chính cho gia đình. Đây là mức phù hợp với mức bình quân của các nước, vừa dễ dàng chi trả hơn là các mức học phí tối đa năm 1988 so sánh với thu nhập hộ dân lúc bấy giờ.

Dù vậy, cơ quan thẩm tra vẫn cho rằng, đối với giáo dục mầm non và phổ thông, nếu áp dụng ngay từ đầu mức học phí trần như đề án đề xuất thì mức tăng quá lớn và đột ngột đối với một số địa phương và một bộ phận học sinh. Bởi vậy, nên có lộ trình tăng dần từng năm và mức học phí trần dự kiến chỉ nên áp dụng vào năm cuối của đề án.

Nhiều ý kiến trong ủy ban cũng lo ngại, việc xác định thu nhập của hộ gia đình là rất phức tạp. Vì quản lý thu nhập hiện nay chủ yếu dựa vào lương và bằng tiền mặt nên việc tính toán thu nhập bình quân của hộ gia đình khó đảm bảo chính xác và công bằng.

Hơn nữa, hiện nay mới chỉ tính được mức thu nhập bình quân ở cấp tỉnh mà chưa tính được ở cấp huyện, xã. Ủy ban này lo ngại sẽ xảy ra tình trạng sau khi đã xác định mức thu, học sinh sẽ dồn vào vùng học phí thấp.

Học phí cần tương xứng với chất lượng

Tại đề án trình Ủy ban Thường vụ Quốc hội xem xét trước khi trình Quốc hội, khung học phí đại học của các nhóm ngành đào tạo đại trà giai đoạn 2008 – 2012 từ 200.000 –  800.000 đồng. Đối với trung cấp nghề và cao đẳng nghề có khung học phí từ 200.000 – 700.000 đồng. Nhiều ý kiến cho rằng mức tính này vừa không công bằng vừa đột ngột, có thể gây sốc cho người nộp.

Trong đề án trình Quốc hội, khung học phí đã có lộ trình tăng theo từng năm, nhằm “không tạo ra sự tăng đột ngột, mức độ lớn của việc đóng học phí, gây khó khăn cho người học”, theo giải trình của Chính phủ.

Riêng năm học 2009 – 2010, học phí đào tạo sẽ tăng bằng 50% mức mất giá đồng tiền năm 2008 so với năm 2000. Học phí đại học tăng từ 180.000 đồng/tháng lên 255.000 đồng/tháng, học phí học nghề tăng từ 120.000 đồng/tháng lên 170.000 đồng/tháng, Chính phủ đề xuất.

Tuy nhiên, cơ quan thẩm tra chỉ chấp nhận tăng không quá 1/3 mức tăng chỉ số giá tiêu dùng từ năm 2000 đến 2009. Cụ thể là tăng mức trần học phí đại học từ 180.000đ/tháng lên 230.000đ/tháng (bậc cao đẳng có hệ số bằng 0,8 lần đại học) và đối với cao đẳng nghề từ 120.000 đ/tháng lên 155.000đ/tháng.

Cạnh đó, cơ quan thẩm tra còn băn khoăn vì mỗi năm chỉ có một mức học phí trần duy nhất khá cao và có khoảng cách rất lớn so với mức học phí hiện hành.

Ủy ban đề nghị coi đây là mức trần học phí của từng năm và chia nhỏ khoảng chênh lệch giữa mức học phí hiện hành và mức trần học phí của năm cuối đề án thành một số mức tương ứng với các mức chất lượng khác nhau và quy định các cơ sở giáo dục chỉ được thu học phí ở mức tương ứng với chất lượng đã được kiểm định công nhận.

Việc áp dụng nghiêm túc, công khai, minh bạch cơ chế này sẽ tạo động lực khuyến khích cơ sở giáo dục chủ động tham gia kiểm định chất lượng và tích cực phấn đấu nâng cao chất lượng giáo dục, chủ nhiệm Đào Trọng Thi nhấn mạnh.
.
Một điều khác khiến nhiều ý kiến trong ủy ban “khó chấp nhận” là mức học phí của trung cấp nghề và cao đẳng nghề bằng nhau. Mức học phí của trung cấp nghề quá chênh lệch so với cấp trung học phổ thông là không hợp lý, không công bằng đối với các đối tượng cùng lứa tuổi và không khuyến khích học sinh sau trung học cơ sở đi học nghề.

Theo Chủ nhiệm Đào Trọng Thi, sau khi áp dụng chế độ học phí mới trong các cơ sở giáo dục công lập, dễ xảy ra tình trạng nâng học phí đồng loạt tại các cơ sở giáo dục ngoài công lập (đặc biệt là hệ cao đẳng, đại học), Vì vậy  ủy ban cho rằng nên công bố mức “trần” học phí đối với chương trình giáo dục đại trà tại các cơ sở giáo dục ngoài công lập để các trường căn cứ vào đó tính mức học phí hợp lý, tránh tình trạng thu học phí tuỳ tiện.

Mức trần học phí này có thể xác định trên cơ sở tham khảo mức trần học phí tương ứng của các cơ sở giáo dục công lập cộng với mức hỗ trợ của ngân sách Nhà nước cho các cơ sở giáo dục công lập. Ngoài ra, cần kịp thời ban hành quy chế sử dụng học phí trong các trường ngoài công lập và có biện pháp để kiểm tra giám sát việc thực hiện.

Ngân hàng Nhà nước nới điều kiện cho vay cầm cố giấy tờ có giá

Ngân hàng Nhà nước nới điều kiện cho vay cầm cố giấy tờ có giá nhằm hỗ trợ thêm cho các ngân hàng thiếu hụt thanh khoản…

Tiêu chuẩn của giấy tờ có giá của các ngân hàng được cầm cố để vay vốn tại Ngân hàng Nhà nước không nhất thiết phải được phát hành bằng đồng Việt Nam – Ảnh: Quang Liên.

Ngân hàng Nhà nước nới điều kiện cho vay cầm cố giấy tờ có giá nhằm hỗ trợ thêm cho các ngân hàng tạm thời thiếu hụt khả năng thanh khoản.

Ngày 27/5, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước ban hành Thông tư số 11/2009/TT-NHNN về việc sửa đổi Khoản 1 Điều 7 Thông tư số 03/2009/TT-NHNN ngày 2/3/2009, quy định về việc cho vay có bảo đảm bằng cầm cố giấy tờ có giá của Ngân hàng Nhà nước đối với các ngân hàng.

Theo Ngân hàng Nhà nước, việc ban hành thông tư này nhằm giúp cho công cụ tái cấp vốn bằng cầm cố giấy tờ có giá của Ngân hàng Nhà nước được sử dụng một cách linh hoạt, hiệu quả hơn, đặc biệt trong nền kinh tế hiện đang có nhiều biến động và đang phải đối mặt với cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu.

Nội dung chủ yếu của thông tư mới là sửa đổi Khoản 1 Điều 7 của Thông tư số 03/2009/TT-NHNN ngày 2/3/2009 của Ngân hàng Nhà nước, quy định về tiêu chuẩn của giấy tờ có giá của các ngân hàng được cầm cố để vay vốn tại Ngân hàng Nhà nước không nhất thiết phải được phát hành bằng đồng Việt Nam.

Tiêu chuẩn cụ thể của các giấy tờ có giá này bao gồm: được phép chuyển nhượng; giấy tờ có giá thuộc sở hữu hợp pháp của ngân hàng xin vay; có thời hạn còn lại tối thiểu bằng thời gian vay. Một điều kiện theo quy định cũ là phải được phát hành bằng đồng Việt Nam (VND) đã được loại bỏ.

Theo đó, Ngân hàng Nhà nước cho biết sẽ xem xét cho vay cầm cố đối với các ngân hàng được bảo đảm bằng các giấy tờ có giá có đủ tiêu chuẩn như trên nhằm cung ứng vốn ngắn hạn và phương tiện thanh toán cho các ngân hàng tạm thời thiếu hụt khả năng thanh khoản.

Tin vắn chứng khoán ngày 29/5

Những thông tin đáng chú ý ngày 29/5/2009 về doanh nghiệp trên thị trường chứng khoán Việt Nam…

Ngày 1/6/2009, 20.361.040 cổ phiếu của Công ty Cổ phần Dịch vụ Tổng hợp Sài Gòn (mã SVC) được chính thức giao dịch tại sàn Tp.HCM, với giá tham chiếu trong ngày giao dịch đầu tiên là 21.600 đồng/cổ phiếu; biên độ dao động giá: +/- 20% so với giá tham chiếu.

Những thông tin đáng chú ý ngày 29/5/2009 về doanh nghiệp trên thị trường chứng khoán Việt Nam.

* Từ ngày 29/5/2009 – 28/8/2009, ông Lê Quốc Bình – Giám đốc tài chính kiêm Kế toán trưởng Công ty Cổ phần Đầu tư Hạ tầng Kỹ thuật Tp.HCM (mã CII-HOSE) đăng ký bán 50.000 cổ phiếu, số cổ phiếu sẽ nắm giữ còn 76.600 cổ phiếu, chiếm 0,19% vốn điều lệ, nhằm giải quyết việc gia đình.

* Ngày 20/5/2009, Công ty Quản lý quỹ SSI – Quỹ tầm nhìn SSI – cổ đông lớn Công ty Cổ phần Dược phẩm OPC (mã OPC-HOSE) công bố: Công ty Quản lý Quỹ SSI đã mua 6.650 cổ phiếu; Quỹ tầm nhìn SSI đã mua 25.000 cổ phiếu, nâng số cổ phiếu nắm giữ lên 437.950 cổ phiếu, chiếm 5,34% vốn điều lệ. Trong đó, Công ty Quản lý Quỹ SSI nắm giữ 140.250 cổ phiếu, chiếm 1,71% vốn điều lệ; Quỹ tầm nhìn SSI nắm giữ 297.700 cổ phiếu, chiếm 3,63% vốn điều lệ.

* Từ ngày 22/5 – 27/5/2009, bà Hoàng Thị Thúy Hương – thành viên Hội đồng Quản trị kiêm Kế toán trưởng Công ty Cổ phần Kỹ nghệ Đô Thành (DTT-HOSE) đăng ký bán 4.000 cổ phiếu, số lượng cổ phiếu nắm giữ sau khi giao dịch là 2.500 cổ phiếu.

* Từ ngày 11/5/2009 – 25/5/2009, Tổng công ty Tài chính Cổ phần Dầu khí Việt Nam đã bán 1.000.000 cổ phiếu của Công ty Cổ phần Nhiệt điện Phả Lại (mã PPC-HOSE), số cổ phiếu nắm giữ còn 6.527.625 cổ phần, chiếm 2% vốn điều lệ.

* Từ ngày 29/5/2009 – 29/12/2009, ông Trần Văn Hoạt – Phó tổng giám đốc Tổng công ty Cổ phần Khoan và Dịch vụ Khoan dầu khí (mã PVD-HOSE) đăng ký bán 2.840 cổ phiếu, số cổ phiếu sẽ nắm giữ còn 1.000 cổ phiếu, nhằm đáp ứng nhu cầu cá nhân.

* Ngày 1/6/2009, 20.361.040 cổ phiếu của Công ty Cổ phần Dịch vụ Tổng hợp Sài Gòn (mã SVC-HOSE) được chính thức giao dịch tại Sở Giao dịch Chứng khoán Tp.HCM, tổng giá trị chứng khoán niêm yết là 203.610.400.000 đồng với giá tham chiếu trong ngày giao dịch đầu tiên là 21.600 đồng/cổ phiếu; biên độ dao động giá: +/- 20% so với giá tham chiếu.

* Từ ngày 29/5/2009 – 30/9/2009, ông Phạm Tiến Dũng – Phó tổng giám đốc Tổng công ty Cổ phần Khoan và Dịch vụ Khoan dầu khí (mã PVD-HOSE) đăng ký bán 15.190 cổ phiếu, số cổ phiếu nắm giữ còn 8.750 cổ phiếu, nhằm đáp ứng nhu cầu cá nhân.

* Từ ngày 1/6/2009 – 31/12/2009, ông Văn Đức Tờng – Phó tổng giám đốc Tổng công ty Cổ phần Khoan và Dịch vụ Khoan dầu khí (mã PVD-HOSE) đăng ký bán 12.000 cổ phiếu, số cổ phiếu sẽ nắm giữ còn 14.235 cổ phiếu, nhằm đáp ứng nhu cầu cá nhân.

* Từ ngày 1/6/2009 – 1/12/2009, Ngân hàng Thương mại Cổ phần Xuất nhập khẩu Việt Nam (Vietnam Eximbank) do ông Tôn Thất Diên Khoa làm đại diện – thành viên Ban kiểm soát Công ty Cổ phần Phát triển Nhà Thủ Đức (mã TDH-HOSE) đăng ký bán 300.000 cổ phiếu, số cổ phiếu dự kiến nắm giữ còn 576.150 cổ phiếu, chiếm 2,28% vốn điều lệ, nhằm đáp ứng chính sách đầu tư của ngân hàng.

* Ông Nguyễn Đại – người có liên quan với ông Nguyễn Ân – Phó Chủ tịch Hội đồng Quản trị kiêm Tổng giám đốc Công ty Cổ phần Sản xuất Thương mại May Sài Gòn (mã GMC-HOSE) đã bán 5.000 cổ phiếu GMC vào ngày 21/5/2009 nhưng không công bố thông tin.

* Từ ngày 28/5/2009 – 28/6/2009, bà Lương Thị Sinh vợ ông Nguyễn Hồng Hiệp – thành viên Ban kiểm soát Công ty Cổ phần Dầu khí An Pha S.G (mã ASP-HOSE) đăng ký bán 51.900 cổ phiếu, số cổ phiếu sẽ nắm giữ còn 0 cổ phiếu, nhằm giải quyết kinh tế gia đình.

* Từ ngày 29/5/2009 – 30/7/2009, ông Võ Đình Thanh – Ủy viên Ban kiểm soát Công ty Cổ phần Cao su Đà Nẵng (mã DRC-HOSE) đăng ký bán 7.900 cổ phiếu, số cổ phiếu sẽ nắm giữ còn 3.432 cổ phiếu, chiếm 0,02% vốn điều lệ.

* Công ty Cổ phần Hàng hải Hà nội (mã MHC-HOSE) công bố thành lập công ty TNHH Vận tải và Xếp dỡ Hải An, vốn điều lệ 150 tỷ đồng. Trong đó, công ty góp 55% vốn; Công ty Cổ phần Đóng mới và Sửa chữa tàu Hải An góp vốn 35%; Công ty Cổ phần Cung ứng và Dịch vụ kỹ thuật Hàng hải góp vốn 6,7% và Công ty Cổ phần Hải Minh góp vốn 3,3%.

* Từ ngày 27/5/2009 – 26/9/2009, ông Lê Doãn Cường em bà Lê Thị Tiến – thành viên Hội đồng Quản trị Công ty Cổ phần Mía đường Lam Sơn (mã LSS-HOSE) đăng ký bán 15.000 cổ phiếu, số cổ phiếu sẽ nắm giữ còn 4.270 cổ phiếu, chiếm 0,014% vốn điều lệ.

* Từ ngày 25/5/2009 – 25/8/2009, ông Phạm Tuấn Mai – Ủy viên Hội đồng Quản trị Công ty Cổ phần Dịch vụ Ô tô Hàng Xanh (mã HAX-HOSE) đăng ký bán 50.000 cổ phiếu, số cổ phiếu sẽ nắm gữ còn 177.212 cổ phiếu, chiếm 4,09% vốn điều lệ, nhằm giải quyết việc cá nhân.

* Kết thúc giao dịch ngày 22/5/2009, Công ty Cổ phần Đầu tư Vina – tổ chức có liên quan đến ông Bùi Tuấn Ngọc – Chủ tịch Hội đồng Quản trị Công ty Cổ phần Kho vận Giao nhận Ngoại thương (mã TMS-HOSE) đã mua 8.670 cổ phiếu, nâng số cổ phiếu nắm giữ lên 357.060 cổ phiếu, chiếm 5,79% vốn điều lệ.

* Từ ngày 21/5/2009 – 16/11/2009, ông Lý Thanh Tùng – thành viên Hội đồng Quản trị kiêm Phó tổng giám đốc Công ty Cổ phần Vật tư Kỹ thuật Nông nghiệp Cần Thơ (mã TSC-HOSE) đăng ký bán 50.000 cổ phiếu, số cổ phiếu sẽ nắm giữ còn 212.850 cổ phiếu, chiếm 2,56% vốn điều lệ, nhằm cân đối tài chính gia đình.

* Từ ngày 21/5/2009 – 21/8/2009, bà Trương Thị Phi Loan – vợ ông Vương Kim Phụng – Phó tổng giám đốc Công ty Cổ phần Thương mại – Xuất nhập khẩu Thiên Nam (mã TNA-HOSE) đăng ký bán 12.000 cổ phiếu, số cổ phiếu dự kiến nắm giữ còn 545 cổ phiếu, nhằm lo việc gia đình.

* Từ ngày 28/5/2009 đến 26/6/2009, bà Nguyễn Thị Nguyệt – Uỷ viên Hội đồng Quản trị Công ty Cổ phần Chứng khoán Hải Phòng (mã HPC-HASTC) dự kiến bán 8.750 cổ phiếu, số cổ phiếu dự kiến nắm giữ còn 15.000 cổ phiếu (chưa tính số cổ phiếu thưởng chốt ngày 14/4/2009 theo tỷ lệ 100:30), nhằm đáp ứng nhu cầu tài chính cá nhân.

* Từ ngày 28/5/2009 – 28/6/2009, ông Đoàn Văn Minh – Uỷ viên Hội đồng Quản trị Công ty Cổ phần Chứng khoán Hải Phòng (mã HPC-HASTC) dự kiến bán 100.000 cổ phiếu, số cổ phiếu dự kiến nắm giữ còn 50.000 cổ phiếu (chưa tính số cổ phiếu thưởng chốt ngày 14/4/2009 theo tỷ lệ 100:30), nhằm đáp ứng nhu cầu tài chính cá nhân.

* Từ ngày 23/4/2009 – 23/5/2009, bà Nguyễn Thị Phúc Lâm – Chủ tịch Hội đồng Quản trị Công ty Cổ phần Chứng khoán Bảo Việt (mã BVS-HASTC) đã mua 12.600 cổ phiếu, nâng số cổ phiếu nắm giữ lên 50.000 cổ phiếu, nhằm cơ cấu lại danh mục đầu tư.

* Từ ngày 20/5/2009 – 20/6/2009, ông Nguyễn Văn Thới – người liên quan đến ông Nguyễn Văn Thời – Chủ tịch Hội đồng Quản trị Công ty Cổ phần Đầu tư và Thương mại TNG (mã TNG-HASTC) đăng ký bán 30.863 cổ phiếu, số cổ phiếu dự kiến nắm giữ 0 cổ phiếu, nhằm giải quyết nhu cầu tài chính cá nhân.

* Từ ngày 20/5/2009 – 20/6/2009, ông Vũ Tuấn Anh – Uỷ viên Hội đồng Quản trị kiêm Giám đốc Công ty Cổ phần Đầu tư CMC (mã CMC-HASTC) đăng ký bán 5.000 cổ phiếu, số cổ phiếu nắm giữ còn 20 cổ phiếu, nhằm đáp ứng nhu cầu tài chính cá nhân.

* Từ ngày 20/5/2009 – 20/6/2009, bà Nguyễn Thị Khương – Phó Giám đốc Công ty Cổ phần Chế tạo Kết cấu Thép VNECO.SSM (mã SSM-HASTC) đăng ký bán 18.000 cổ phiếu, số cổ phiếu dự kiến nắm giữ còn 18.740 cổ phiếu, nhằm giải quyết nhu cầu tài chính cá nhân.

Kinh tế Việt Nam: Thăng trầm và đột phá

Đây là tên cuốn sách của hai tác giả Phạm Minh Chính và Vương Quân Hoàng, do Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia xuất bản…

Bìa cuốn sách “Kinh tế Việt Nam: Thăng trầm và đột phá”.

Đây là tên cuốn sách của hai tác giả Phạm Minh Chính và Vương Quân Hoàng, do Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia xuất bản.

Cuốn sách dày 538 trang, gồm 3 phần, viết về nền kinh tế của Việt Nam với trọng tâm nghiên cứu đặt vào hệ thống tài chính – tín dụng – tiền tệ.

Bức tranh toàn cảnh nền kinh tế Việt Nam được các tác giả trình bày với mong muốn để lại trong độc giả những suy nghĩ về hành trình tiếp tục chinh phục nền kinh tế toàn cầu, cùng giấc mơ nước Việt Nam thịnh vượng.

Sách gồm 3 phần. Phần 1: Thăng trầm, gồm 6 chương: Sóng gió, Những hạt mầm đầu tiên, Cam go độc lập tiền tệ: 1945-1954, Kinh tế Việt Nam thời kỳ 1955-1985, Kinh tế tài chính thời kỳ Đổi Mới 1986-2000, Đặc trưng biến động kinh tế trong quá trình chuyển đổi.

Phần 2: Đột phá, gồm 4 chương: Đột phá tư duy kinh tế: Đổi Mới, Hệ thống ngân hàng hai cấp, Tài sản và Thị trường, Thị trường chứng khoán.

Phần 3: Vấn đề và hiện tượng, gồm 3 chương: Một số vấn đề của các thị trường tài sản, Quản lý nhà nước đối với các thị trường và tài sản, Việt Nam hội nhập toàn cầu

Ba phần này tiếp cận nền kinh tế như một chỉnh thể sống trong không gian và thời gian hợp lý, có tính logic và những nhận thức có lợi cho tư duy kinh tế lâu dài.

Các nhà quản lý, nghiên cứu chính sách, đầu tư, giới phân tích, người quan tâm kinh doanh, có nhu cầu tìm hiểu kiến thức kinh tế – xã hội tìm thấy ở cuốn sách nguồn tra cứu thuận tiện với các thuật ngữ, vấn đề, hiện tượng nổi trội của kinh tế Việt Nam được liệt kê cùng số trang tương ứng trong phần tra cứu ở cuối sách.

Đã giải ngân được hơn 319 nghìn tỷ đồng vốn hỗ trợ lãi suất

Ngân hàng Nhà nước vừa cho biết, tính đến ngày 28/5/2009, số dư nợ cho vay hỗ trợ lãi suất đã đạt 319.074,63 tỷ đồng…

Tính đến ngày 21/5/2009, dư nợ của nhóm ngân hàng thương mại nhà nước và quỹ tín dụng nhân dân Trung ương đạt 230.597,24 tỷ đồng – Ảnh: Quang Liên.

Ngân hàng Nhà nước vừa cho biết, tính đến ngày 28/5/2009, số dư nợ cho vay hỗ trợ lãi suất đã đạt 319.074,63 tỷ đồng.

Như vậy, so với ngày 21/5/2009, dư nợ cho vay vốn hỗ trợ lãi suất đã tăng thêm 17.692,86 tỷ đồng, tương đương 5,87%.

Trong đó, dư nợ của nhóm ngân hàng thương mại nhà nước và quỹ tín dụng nhân dân Trung ương đạt 230.597,24 tỷ đồng – tăng 12.124,82 tỷ đồng, tương đương tăng 5,54%; nhóm ngân hàng thương mại cổ phần đạt 71.407,96 tỷ đồng – tăng 3.931,51 tỷ đồng, tương đương tăng 5,82%; nhóm ngân hàng liên doanh, chi nhánh ngân hàng nước ngoài và ngân hàng 100% vốn nước ngoài đạt 15.067,81 tỷ đồng – tăng 1.300,23 tỷ đồng, tương đương tăng 9,44%; công ty tài chính đạt 2.001,62 tỷ đồng – tăng 336,3 tỷ đồng, tương đương tăng 20,19%.

Đối với số dư nợ phân theo đối tượng khách hàng vay vốn, tính đến ngày 28/5, doanh nghiệp nhà nước đã vay 50.934,9 tỷ đồng – giảm 13.862,19 tỷ đồng, tương đương -21,39% so với ngày 21/5/2009.

Doanh nghiệp ngoài nhà nước gồm: công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần, doanh nghiệp tư nhân, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài… đã vay 209.485,95 tỷ đồng.

Hợp tác xã đã vay 2.256  tỷ đồng; hộ gia đình, cá nhân vay 56.027,37 tỷ đồng; tổ chức khác vay 370,16 tỷ đồng.

Giá vàng lập kỷ lục mới, giá dầu lên 65 USD/thùng

Giá vàng trong nước sáng nay đảo chiều và tăng thêm hơn 20.000 đồng/chỉ so với sáng qua, thiết lập đỉnh cao lịch sử mới…

Những thông tin kinh tế tích cực gần đây làm vàng giảm sút sức hấp dẫn ở phương diện chống khủng hoảng, nhưng lại kích thích giới đầu tư mua vào kim loại quý này nhằm đề phòng rủi ro lạm phát và sự trượt giá của các đồng tiền, đặc biệt là đồng USD, một khi kinh tế toàn cầu phục hồi – Ảnh: Reuters.

Giá vàng trong nước sáng nay đảo chiều và tăng thêm hơn 20.000 đồng/chỉ so với sáng qua, thiết lập đỉnh cao lịch sử mới, sau khi giá vàng thế giới trải qua một phiên phục hồi khá mạnh. Giá dầu thô thị trường quốc tế leo lên mức 65 USD/thùng, cao nhất trong vòng 6 tháng trở lại đây nhờ những thông tin kinh tế tích cực vừa xuất hiện.

Đầu giờ sáng nay, giá vàng miếng các thương hiệu đồng loạt nâng thêm trên 20.000 đồng/chỉ so với giá mở cửa sáng qua. Giá vàng bán ra tại các công ty kim hoàn lớn khá đồng đều, phổ biến quanh mức 2.090.000 đồng/chỉ.

Trong khi đó, các nhà kinh doanh vàng tỏ ra khá dè dặt và thận trọng khi niêm yết giá mua vào với độ khác biệt khá lớn giữa các điểm giao dịch khác nhau. Tại nhiều nơi, giá vàng mua vào phổ biến quanh 2.080.000 đồng/chỉ, trong khi tại một số điểm như SJC Hà Nội, giá mua vào chỉ trên 2.070.000 đồng/chỉ.

Tuy nhiên, các nhà kinh doanh vàng cho biết, họ sẽ căn cứ vào diễn biến giá vàng thế giới trong ngày và hoạt động giao dịch để điều chỉnh khoảng chênh lệch giá mua/bán về mức hợp lý.

Tại thị trường Hà Nội, không khí giao dịch vàng đầu giờ sáng nay chưa có diễn biến gì mới, một phần do thời tiết mưa gió. Tuy nhiên, nhiều nhà kinh doanh vàng vẫn kỳ vọng mức giá vàng tiến về 21 triệu đồng/lượng, cao chưa từng có trong lịch sử, sẽ giúp hâm nóng giao dịch trong ngày hôm nay.

Giá vàng SJC tại chi nhánh Hà Nội của Công ty Vàng bạc đá quý Sài Gòn (SJC) mở cửa ở mức 2.072.000 đồng/chỉ (mua vào) và 2.090.000 đồng/chỉ (bán ra). Tại Công ty Vàng bạc đá quý Phú Quý (PQJ), giá vàng miếng SJC tương ứng là 2.083.000 đồng/chỉ và 2.090.000 đồng/chỉ.

Giá vàng Rồng Thăng Long của Công ty Vàng bạc đá quý Bảo Tín Minh Châu đầu giờ đứng ở mức 2.079.000 đồng/chỉ (mua vào) và 2.089.000 đồng/chỉ (bán ra).

Giá vàng miếng SBJ giao dịch tại hệ thống ngân hàng Sacombank mua vào và bán ra lần lượt là 2.082.000 đồng/chỉ và 2.090.000 đồng/chỉ. Tại thị trường Tp.HMC, giá vàng miếng hiệu Phượng Hoàng PNJ-DongA Bank của Công ty Vàng bạc đá quý Phú Nhuận (PNJ) tương ứng là 2.078.000 đồng/chỉ và 2.085.000 đồng/chỉ.

Tại sàn vàng SBJ, giá vàng khớp lệnh tính tới 10h25 dao động từ 20,37-20,68 triệu đồng/lượng. Cùng thời điểm, tại sàn này có hơn 180.000 lượng vàng được các nhà đầu tư trao tay.

Giá vàng trong nước bật tăng sáng nay sau hai ngày trượt giảm là do được tiếp “lửa” từ thị trường vàng thế giới. Giá vàng thế giới đêm qua phục hồi tương đối mạnh do đồng USD mất giá trở lại.

Những thông tin tích cực về kinh tế Mỹ đêm qua đã giúp giới đầu tư yên tâm hơn về triển vọng phục hồi của nền kinh tế này, khiến USD giảm giá trở lại so với Euro, còn suýt soát 1,40 USD đổi được 1 Euro.

Trong những phiên giao dịch trước, do xuất hiện một số thông tin đáng ngại về kinh tế Mỹ, các nhà đầu tư đã chuyển vốn mua vào các đồng tiền có lãi suất thấp như USD và Yên Nhật để tìm kiếm sự an toàn, khiến những đồng tiền này lên giá.

Bộ Thương mại Mỹ hôm qua cho biết, số đơn đặt hàng lâu bền ở nước này trong tháng 4 đã tăng 1,9% – mức tăng mạnh nhất trong 16 tháng qua, từ mức giảm 2,1% trong tháng 3. Cũng theo bộ này, doanh số bán nhà mới xây trong tháng 4/2009 ở Mỹ đã tăng 0,3%.

Sáng nay, kinh tế thế giới xuất hiện thêm tin tốt. Sản lượng công nghiệp của Nhật Bản trong tháng 4 vừa qua đã tăng 5,2% so với tháng 3, đánh dấu tháng tăng mạnh nhất trong vòng 56 năm trở lại đây, nhờ hoạt động xuất khẩu đang trên đà phục hồi.

Những thông tin kinh tế tích cực gần đây làm vàng giảm sút sức hấp dẫn ở phương diện chống khủng hoảng, nhưng lại kích thích giới đầu tư mua vào kim loại quý này nhằm đề phòng rủi ro lạm phát và sự trượt giá của các đồng tiền, đặc biệt là đồng USD, một khi kinh tế toàn cầu phục hồi.

Chốt phiên tại thị trường New York đêm qua, giá vàng giao ngay tăng 10,7 USD/oz (1,1%), đạt 960 USD/oz. Sáng nay, đà tăng này tiếp tục kéo dài, đưa giá vàng giao ngay tại châu Á lên mức 963 USD/oz vào lúc 10h25 sáng nay giờ Việt Nam.

Chuyển sang thị trường dầu thô, giá dầu đêm qua đã leo qua mốc 65 USD/thùng, cao nhất trong vòng 6 tháng qua. Những nhân tố đẩy giá dầu lên phiên này bao gồm việc kinh tế Mỹ có thêm tin tốt, sự trượt giá của đồng USD, tin dự trữ xăng dầu của Mỹ sụt giảm, và quyết định giữ nguyên sản lượng của Tổ chức Các nước xuất khẩu dầu lửa (OPEC).

Kết thúc phiên giao dịch tại thị trường Mỹ, giá dầu ngọt nhẹ giao tháng 7 tăng 1,63 USD/thùng (2,6%), đạt 65,08 USD/thùng.

Sáng nay, giá dầu thế giới giảm nhẹ so với giá đóng cửa đêm qua. Vào lúc 10h30 giờ Việt Nam, giá dầu ngọt nhẹ giao tháng 7 giao dịch điện tử tại New York giảm 0,3 USD/thùng, còn 64,78 USD/thùng. Từ đầu tháng 5 tới nay, giá dầu đã tăng trên 25%.

Trong cuộc họp tại Vienna, Áo, ngày hôm qua, OPEC đã giữ nguyên mức hạn ngạch sản lượng hiện tại là 24,845 triệu thùng/ngày cho 11 quốc gia thành viên, không tính Iraq. Bộ trưởng Dầu lửa Saudi Arabia, ông Ali al-Naimi cho biết, quyết định duy trì hạn ngạch của khối xuất phát từ nhận định cho rằng, giá dầu hiện đã hợp lý và cung cầu trên thị trường dầu đã cân bằng.

Báo cáo hàng tuần của Bộ Năng lượng Mỹ hôm qua cho hay, dự trữ xăng dầu của nước này trong tuần qua đã giảm mạnh. Trong tuần, dự trữ dầu thô của Mỹ đã giảm 5,41 triệu thùng, mạnh nhất từ tháng 9 năm ngoái và vượt xa dự báo trước đó của giới quan sát, còn 363,1 triệu thùng. Dự trữ xăng cũng giảm 537.000 thùng, còn 203,4 triệu thùng.

Tỷ giá USD/VND do Ngân hàng Nhà nước công bố sáng nay là 16.938 VND/USD, giảm 1 VND/USD so với hôm qua. Tại Ngân hàng Vietcombank, giá mua và bán USD sáng nay là 17.783 VND/USD (mua vào) và 17.785 VND/USD (bán ra).

Người tiêu dùng đang góp phần “đẩy” giá sữa

Giá thành đầu vào để sản xuất sữa đã giảm, nhưng giá bán sữa vẫn không giảm, một phần cũng do người tiêu dùng…

Với chất lượng tương đương, giá sữa bột nhập ngoại luôn cao hơn từ 2-3 lần so với sữa sản xuất trong nước và cao hơn sữa ở Thái Lan 1,5 lần, Malaysia là 2 lần. Ảnh minh hoạ

Giá thành đầu vào để sản xuất sữa đã giảm, nhưng giá bán sữa vẫn không giảm, một phần cũng do người tiêu dùng.

Quan điểm trên đã được nhiều đại biểu tham gia hội thảo “Sữa với người tiêu dùng Việt Nam”, tổ chức hôm qua (28/5) tại Hà Nội, chia sẻ.

Tại đây, ông Đỗ Kim Tuyên, đại diện Cục Chăn nuôi (Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn), cho biết: người tiêu dùng Việt Nam hiện đang phải chịu thiệt thòi lớn do giá sữa trong nước và thế giới chênh lệch quá nhiều.

Giá sữa bột trên thế giới hiện nay đã giảm hơn 50% từ trên 5.000 USD/tấn xuống còn dưới 2.000 USD/tấn so với năm 2007 và giữa năm 2008. Ngoài ra, thuế nhập khẩu sữa cũng đã giảm mạnh, nhưng giá bán sữa trong nước vẫn không giảm mà chỉ chững lại, thậm chí còn tăng lên.

Cụ thể, một hộp sữa bột Dumex trong năm 2008 có giá là 300.000 đồng, nay được bán với giá 330.000 đồng. Về lợi nhuận người sản xuất hưởng lợi tới 28%, còn người phân phối hưởng là 13%. “Mức lợi nhuận trên là quá cao”, ông Tuyên nhìn nhận.

Còn ông Hồ Tất Thắng, Phó chủ tịch Hội Tiêu chuẩn và Bảo vệ người tiêu dùng Việt Nam thì cho hay: giá sữa trên thị trường nước ta hiện nay, đặc biệt là giá sữa nhập khẩu chưa phản ánh đầy đủ mối quan hệ giữa sản xuất và tiêu dùng, chưa đảm bảo lợi ích hài hoà giữa các bên.

Ông dẫn ra, với chất lượng tương đương, giá sữa bột nhập ngoại luôn cao hơn từ 2-3 lần so với sữa sản xuất trong nước và cao hơn sữa ở Thái Lan 1,5 lần, Malaysia là 2 lần.

Trong khi giá nguyên liệu sữa trên thế giới hiện nay đã giảm mạnh chỉ còn bằng ½ so với thời kỳ cao điểm năm 2007, 2008. Thuế nhập khẩu trong năm 2008 cũng đã giảm rất nhiều, nên việc các nhà nhập khẩu viện lý do chênh lệch tỷ giá để không giảm giá bán cũng là điều không hợp lý.

 “Sự chênh lệch quá lớn giữa sữa bột sản xuất trong nước và sữa bột nhập khẩu với chất lượng tương đương là việc không bình thường”, ông Thắng bức xúc.

Theo ông, nguyên nhân khiến cho sữa ngoại chiếm thị phần lớn (60%) trên thị trường nước ta và có giá cao là do tâm lý chuộng sữa ngoại của một bộ phận người tiêu dùng. Thậm chí nhiều gia đình dù khó khăn vẫn cố dành ra một khoản thu nhập để mua sữa ngoại cho con.

Bên cạnh đó, việc các hãng sữa nước ngoài liên tục quảng cáo về việc bổ sung thêm các chất có tác dụng tốt đến sự phát triển của trẻ em đã khiến người dân  “hoang tưởng” về chất lượng của sữa ngoại.

Thêm nữa, gần đây các phương tiện thông tin đại chúng lại liên tục đưa tin về các loại sữa có chất lượng và hàm lượng đạm khác xa so với công bố đã khiến người tiêu dùng càng mất niềm tin vào sữa sản xuất trong nước và chuyển sang sử dụng sữa nhập ngoại do tin rằng những sản phẩm này được kiểm soát tốt hơn về mặt vệ sinh, an toàn thực phẩm.

“Việc thiếu thông tin về các cơ sở sản xuất trong nước đảm bảo chất lượng, uy tín cũng đã làm cản trở việc sử dụng sữa nội của người tiêu dùng trong nước”, ông Thắng nhận định.

Theo đó, Hội Tiêu chuẩn và Bảo vệ người tiêu dùng kiến nghị Bộ Y tế cùng các cơ quan chức năng cần sớm ban hành quy trình kỹ thuật quốc gia về yêu cầu chất lượng, an toàn vệ sinh cho sữa và sản phẩm từ sữa; nghiên cứu thay đổi phương thức và nội dung quản lý chất lượng vệ sinh an toàn thực phẩm từ sữa; quy hoạch lại ngành sản xuất kinh doanh sữa, nâng thị phần sữa sản xuất trong nước từ 30% lên 50% và cao hơn nữa; nâng tỷ lệ nguồn nguyên liệu trong nước từ 20% lên 40%.

Song song với những việc trên cũng cần tăng cường kiểm soát hoạt động quảng cáo, tiếp thị, khuyến mại đối với sữa và sản phẩm sữa để cung cấp thông tin cho người tiêu dùng; đưa mặt hàng sữa vào danh mục các mặt hàng nhà nước bình ổn và kiểm soát về giá; tuyên truyền hướng dẫn, nâng cao hiểu biết cho người tiêu dùng về sữa, hướng dẫn người sử dụng lựa chọn sữa phù hợp với nhu cầu tiêu dùng, giá cả hợp lý; xã hội hoá hoạt động quản lý chất lượng an toàn vệ sinh sữa và sản phẩm từ sữa.

Sửa Luật Điện ảnh: “Nếu sửa như thế này thì có lẽ không nên sửa”

Quốc hội thảo luận về những vấn đề còn có ý kiến khác nhau của dự án luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Điện ảnh…

Bộ trưởng Hoàng Tuấn Anh trình bày tờ trình dự án luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Điện ảnh.

Để phù hợp với các cam kết quốc tế và đáp ứng yêu cầu thực tiễn, Chính phủ đã trình Quốc hội dự án luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Điện ảnh. Việc làm này cũng nhằm đẩy mạnh sản xuất phim Việt Nam; cho phép nhập khẩu, liên doanh, liên kết với nước ngoài để sản xuất phim theo quy định của pháp luật.

Sáng 28/5, Quốc hội đã thảo luận tại hội trường về những vấn đề còn có ý kiến khác nhau của dự án luật này. Nhiều đại biểu đã bày tỏ sự băn khoăn, từ phạm vi điều chỉnh đến những quy định cụ thể của dự thảo luật.

Đại biểu Nguyễn Ngọc Đào (Hà Nội) phát biểu: “Nếu sửa như thế này thì có lẽ không nên sửa, bởi vì thiếu rất nhiều những nội dung quan trọng để hình thành nên một luật điện ảnh tử tế”.

Ví dụ ông Đào đưa ra là trong luật này thiếu vắng một mục cực kỳ quan trọng đó là người diễn viên điện ảnh, một đối tượng của hoạt động điện ảnh. Theo vị đại biểu này, sẽ là một khiếm khuyết rất lớn nếu không điều chỉnh diễn viên điện ảnh và khâu đào tạo về diễn viên điện ảnh trong dự án luật.

“Luật này cũng thiếu một chương rất quan trọng là hợp tác quốc tế về điện ảnh”, ông Đào nói.

Đại biểu Ngô Đức Mạnh (Bình Phước) cho rằng, phần đánh giá tác động của dự án luật này chỉ nói về mặt thuận lợi, tạo công ăn việc làm, về mặt kinh tế mà chưa nói được thách thức khi mở cửa thị trường điện ảnh. Khi cho phép liên kết, liên doanh với các doanh nghiệp, tổ chức nước ngoài để sản xuất phát hành phim thì tác động đặt ra cho nền điện ảnh non trẻ trong nước sẽ thế nào?

Từ góc độ của một người làm kinh tế, TS. Nguyễn Đức Kiên (đại biểu tỉnh Sóc Trăng) đề nghị cân nhắc về quy định cho phép thành lập liên doanh với nước ngoài trong cả ba lĩnh vực sản xuất, phát hành, và phổ biến phim, với phần vốn góp của nước ngoài không vượt quá 51% vốn pháp định.

Theo phân tích của đại biểu, 51% với 90% cũng tương đương nhau. Khi biểu quyết trong hội đồng quản trị nếu quá 51% là có quyền quyết định.Từ kinh nghiệm thực tế ông Kiên cho rằng mô hình BCC (tức hợp đồng, hợp tác kinh doanh) quản lý tốt hơn, lợi nhuận mang về phía Việt Nam tốt hơn so với liên doanh

Hầu hết các ý kiến thảo luận đều phàn nàn về chất lượng và thời lượng đối với phim phát sóng trên đài truyền hình. Đồng thời đề nghị tăng cường thẩm định, quản lý với nội dung này.

Theo đại biểu Phạm Phương Thảo, hiện nay cả nước có khoảng 200 kênh truyền hình, có kênh phát sóng 10 giờ phim một ngày đêm, có kênh phát 6 – 7 phim một ngày đêm. Song kịch bản thì giống nhau, cách sinh hoạt thì cách xa với người lao động, xa lạ với thực tiễn cuộc sống. “Có phim sản xuất rất nhanh, một phim 45 phút sản xuất trong 2 ngày”, bà Thảo nói.

“Nhưng có một thực tế trên truyền hình có nhiều kênh chiếu toàn phim nước ngoài có phụ đề tiếng Việt chúng ta có quản lý không, hay Luật Điện ảnh chúng ta chỉ quản lý “cơm chấm cơm” thôi?”, đại biểu Kiên đặt câu hỏi.

Theo ông Kiên, những phim ấy không có ai kiểm soát, kiểm duyệt, không có ông giám đốc nào chịu trách nhiệm cả nên đề nghị ban soạn thảo cân nhắc lại.

Một bước lùi so với luật hiện hành, theo đánh giá của Ủy ban Văn hóa – Giáo dục – Thanh niên thiếu niên và nhi đồng, cơ quan thẩm tra dự án luật, chính là việc xóa bỏ quy định về hạn ngạch nhập khẩu phim nhưng quy định doanh nghiệp điện ảnh có rạp chiếu phim mới được quyền nhập khẩu. Ủy ban này và nhiều đại biểu khác cho rằng, để kiểm soát nội dung phim nhập khẩu thì khâu thẩm định phim mới là quan trọng chứ không phải là có rạp hay không có rạp.

Theo chương trình, dự án luật sẽ được thông qua tại kỳ họp này. Và những bất cập trên khiến nhiều đại biểu còn lo ngại về chất lượng của luật.

Bảo vệ di sản văn hóa: Nguyên trạng lại trở về… nguyên trạng

Đại biểu Quốc hội thảo luận về dự án luật sửa đổi, bổ sung một số điều của luật di sản văn hóa…

Đại biểu Quốc hội thảo luận ở tổ về các dự án luật.

Chiều 28/5, các đại biểu Quốc hội đã thảo luận ở tổ về dự án luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Di sản văn hóa.

Trước đó, dự thảo luật này đã được Ủy ban Thường vụ Quốc hội cho ý kiến tại phiên họp thứ 19. Và việc sửa đổi quy định bảo vệ nguyên trạng thành bảo vệ nghiêm ngặt tại khu vực bảo vệ 1 (gồm di tích và vùng được xác định là yếu tố gốc cấu thành di tích) như ở điều 32 của dự luật không nhận được sự đồng thuận cao của một số đại biểu.

Mặc dù, theo thuyết minh của Bộ Văn hóa – Thể thao và Du lịch, thay bằng “bảo vệ nghiêm ngặt” thì chính xác hơn.

Quá trình thẩm tra, Ủy ban Văn hóa, giáo dục, thanh niên, thiếu niên và nhi đồng của Quốc hội cũng chỉ ra điểm vướng mắc lớn nhất trong thi hành điều khoản này là quy định khu vực I quá rộng, bao trùm toàn bộ di tích. Hơn nữa, yêu cầu khu vực này “phải được bảo vệ nguyên trạng” chưa có độ mở cần thiết để giải quyết những trường hợp đặc biệt.

Trên thực tế, đối với một số di tích có diện tích rộng vài hecta hoặc hàng chục hecta và có dân cư sinh sống, làm ăn bên trong như Thành nhà Hồ ở Thanh Hoá, Hoàng thành ở Huế hay Thành Cổ Loa ở Hà Nội, yêu cầu này khó có thể thực hiện được vì người dân vẫn có nhu cầu cải tạo, xây dựng nhà cửa phục vụ đời sống.

Bên cạnh đó, trong thực tiễn, quy định “phải được bảo vệ nguyên trạng” nhiều khi còn được hiểu một cách cứng nhắc, gây khó khăn cho công tác bảo quản, tu bổ, phục hồi di tích.

Tuy nhiên, ủy ban này cũng không  nhất trí khi dự thảo luật sử dụng cụm từ bảo vệ nghiêm ngặt thay cho cụm từ bảo vệ nguyên trạng. Vì, bảo vệ nghiêm ngặt là một yêu cầu không rõ ràng, cụ thể. Điều này dễ dẫn đến tình trạng vận dụng luật tùy tiện.

Theo ủy ban, để yêu cầu khu vực I “phải được bảo vệ nguyên trạng” phù hợp với thực tiễn bảo tồn di tích hơn, chỉ cần làm rõ hơn phạm vi bảo vệ nguyên trạng và bổ sung quy định về việc giải quyết những trường hợp đặc biệt.  

Và dự án luật được trình Quốc hội lần này, quy định bảo vệ khu vực I từ nguyên trạng đã trở về… nguyên trạng.

Phần thảo luận chiều nay, nhiều đại biểu thể hiện băn khoăn về việc nhiều di tích xuống cấp trầm trọng nhưng kinh phí bảo tồn còn hạn chế, còn nhiều danh lam, thắng cảnh, di tích rất đẹp nhưng chưa được xếp hạng. Trong khi đó nhiều di tích đến khi được xếp hạng thì đã bị phá huỷ, xuống cấp hoàn toàn.

Một số ý kiến lo ngại việc tổ chức lễ hội tốn kém, lễ hội nào cũng đều bày biện, quay phim, chụp ảnh rất cầu kỳ và cho rằng luật cũng cần qui định rất chặt chẽ phần lễ hội để tránh lãng phí, các tệ nạn xã hội lợi dụng phát triển.

Bảo tồn và phát huy giá trị các di vật, cổ vật cũng là nội dung nhiều đại biểu quan tâm. Theo đại biểu Nguyễn Minh Thuyết (Lạng Sơn) hiện nay số cổ vật do tư nhân nắm giữ rất lớn.  Nhưng luật mới chỉ khuyến khích đăng ký sở hữu cổ vật.

Theo đại biểu này thì cần phải có những qui định ràng buộc chặt chẽ về việc đăng ký cổ vật. Nhà nước bắt buộc những người có cổ vật phải đăng ký và cấp giấy chứng nhận để tránh trường hợp một số người lợi dụng để lừa lọc người khác kiếm lời”.

Còn theo đại biểu Đặng Thuần Phong (Bến Tre) thì kinh doanh cổ vật đáng lẽ phải là một thị trường sôi động, nhưng ở nước ta lại không làm được việc này. Nhiều người còn không dám đăng ký sở hữu cổ vật “vì sợ đi tới đi lui một hồi rồi cổ vật đó lại không phải của mình nữa”.