Tạo liên kết sâu hơn giữa doanh nghiệp nội-ngoại

Từng bước tham gia tốt hơn vào chuỗi giá trị sản xuất, nâng cao sức cạnh tranh của các doanh nghiệp trong nước…

Ông Trần Tuấn Anh, Bộ trưởng Bộ Công Thương.

Năm 2016, năm đầu cả nước thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội 5 năm 2016-2020, diễn ra trong bối cảnh kinh tế thế giới phục hồi chậm hơn dự báo. Ở trong nước, chuyển dịch cơ cấu kinh tế còn chậm đã tác động đến hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp ngành công thương nói riêng và cả nước nói chung.

Song do kiên định thực hiện nhiệm vụ với quyết tâm cao nhất, cùng với sự chỉ đạo của Đảng, Nhà nước và Chính phủ, ngành công thương đã có nhiều nỗ lực khắc phục khó khăn, phấn đấu đạt và vượt mức nhiều chỉ tiêu, đóng góp vào sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, Bộ trưởng Bộ Công Thương Trần Tuấn Anh chia sẻ.

Thưa Bộ trưởng, nếu đánh giá ngắn gọn về những thành quả mà ngành công thương đã gặt hái được trong năm 2016, Bộ trưởng sẽ nói gì?

Năm 2016, ngành công thương đã có những bước phát triển đáng ghi nhận, giữ vai trò quan trọng trong nền kinh tế quốc dân, đóng góp vào ổn định kinh tế vĩ mô và phát triển kinh tế chung của đất nước.

Trong lĩnh vực sản xuất công nghiệp, chỉ số sản xuất công nghiệp tiếp tục duy trì được đà tăng trưởng (tăng khoảng 7,5% so với năm 2015). Trong lĩnh vực xuất nhập khẩu, kim ngạch xuất khẩu cả năm tăng khoảng 8,6% so với cùng kỳ năm trước.

Đây là mức tăng trưởng khá trong bối cảnh nhiều nước trong khu vực tăng trưởng xuất khẩu âm hoặc ở mức thấp. Xuất siêu, ước cả năm khoảng 2,68 tỷ USD, chiếm 1,52% kim ngạch xuất khẩu, đặc biệt xuất khẩu của khu vực nông lâm thủy sản có mức tăng trưởng khá (tăng 7,5%) so với cùng kỳ năm trước (giảm 1,76%).

Đối với phát triển thị trường trong nước, trật tự thị trường tiếp tục được quan tâm. Công tác quản lý thị trường được triển khai quyết liệt ngay từ đầu năm, nhất là trong một số lĩnh vực hoặc mặt hàng quan trọng như phân bón, thuốc bảo vệ thực vật, thức ăn chăn nuôi, xăng dầu, khí hóa lỏng, an toàn thực phẩm…, đã góp phần tạo điều kiện cho hàng Việt Nam phát triển. Tổng mức lưu chuyển hàng hóa và doanh thu dịch vụ tăng 10,19%, cao hơn mức tăng 9,27% của năm 2015.

Trong công tác hội nhập quốc tế về kinh tế, Hiệp định thương mại tự do (FTA) Việt Nam – Liên minh Kinh tế Á – Âu (VN-EAEU FTA) chính thức có hiệu từ 5/10/2016; đàm phán FTA Việt Nam – Israel cũng như một số FTA khác như: Hiệp định Đối tác toàn diện khu vực (RCEP); FTA ASEAN – Hồng Kông,… được triển khai tích cực, thực chất.

Việc xóa bỏ và đơn giản hóa hàng loạt thủ tục hành chính của Bộ Công Thương trong năm vừa qua đã được cộng đồng doanh nghiệp và dư luận đánh giá là cuộc cải cách “chưa từng có trong lịch sử” ngành công thương nhiều năm nay. Kết quả này có ý nghĩa như thế nào, thưa ông?

Việc xóa bỏ và đơn giản hóa thủ tục hành chính của Bộ Công Thương đã đóng góp quan trọng vào nỗ lực chung của Chính phủ về cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh; gắn xây dựng thể chế với công tác xây dựng, ban hành chính sách, pháp luật; bảo đảm các quy định, thủ tục hành chính được thực thi thống nhất, hiệu quả trên phạm vi cả nước. Qua đó, tạo điều kiện thuận lợi hơn cho doanh nghiệp và người dân khi tiếp cận thủ tục hành chính.

Kết quả năm 2016, Bộ Công Thương đã bãi bỏ 14 thủ tục hành chính, đơn giản hóa 50 thủ tục hành chính. Đặc biệt, Bộ Công Thương đã ban hành Quyết định số 4648/QĐ-BCT (9/12/2016) về phê duyệt phương án tổng thể đơn giản hóa thủ tục hành chính trong lĩnh vực quản lý nhà nước của Bộ Công Thương năm 2017.

Về cung cấp dịch vụ công trực tuyến, tất cả dịch vụ công trực tuyến của Bộ được triển khai từ ở mức độ 2 trở lên, trong đó số lượng dịch vụ công trực tuyến mức độ 3 là 17 và mức độ 4 là 9. Hiện nay đã xây dựng nền tảng kỹ thuật cho 41 hệ thống dịch vụ công trực tuyến mức độ 3 và 4.

Về cơ cấu lại tổ chức, Bộ Công Thương đang lấy ý kiến để hoàn thiện dự thảo Nghị định quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Công Thương theo hướng xây dựng bộ máy tinh gọn và hiệu quả. Dự kiến giảm số đầu mối trong Bộ Công Thương từ 35 đơn vị xuống còn 29 đơn vị.

Đồng thời, thực hiện tốt các nghị quyết của Chính phủ về hoàn thiện thể chế, tạo dựng môi trường thuận lợi trong sản xuất, kinh doanh, đầu tư, xuất nhập khẩu, tạo điều kiện cho cộng đồng doanh nghiệp phát triển và hội nhập quốc tế.

Năm 2016 cũng là năm Việt Nam đạt được nhiều thành công trong các hoạt động hội nhập kinh tế quốc tế. Đặc biệt, với việc VN-EAEU FTA chính thức có hiệu lực từ ngày 5/10/2016 được kỳ vọng sẽ mở ra nhiều triển vọng và cơ hội lớn cho các doanh nghiệp Việt Nam. Xin ông cho biết cụ thể hơn?

Xét trên tổng thể, Liên minh Kinh tế Á Âu (EAEU) mở cửa thị trường ở các mức độ khác nhau đối với gần 90% tổng số dòng thuế và xấp xỉ 90% tổng kim ngạch nhập khẩu trung bình từ Việt Nam trong 3 năm từ 2010 đến 2012. Trong đó, khoảng 60% tổng số dòng thuế được cam kết xoá bỏ thuế ngay, khoảng 25% dòng thuế mở cửa theo lộ trình (tối đa 10 năm) và một số ít (khoảng 3%) dòng thuế mở cửa một phần.

Đồng thời, việc Việt Nam là đối tác ngoài khối đầu tiên Liên minh ký FTA cũng chính là lợi thế rất lớn cho Việt Nam trong việc cạnh tranh với các nước khác trên thế giới khi xuất khẩu vào EAEU.

Những mặt hàng của Việt Nam có khả năng tăng trưởng xuất khẩu cao nhất sang khu vực EAEU bao gồm những mặt hàng trước kia phải chịu mức thuế suất cao và nay nằm trong danh mục cắt giảm thuế quan như: thủy sản, nông sản, nông sản chế biến, hàng dệt may, giày dép…

Đối với các mặt hàng thủy sản và thuỷ sản chế biến, EAEU mở cửa có lộ trình đối với 95% tổng số dòng thuế, với lộ trình tối đa trong 10 năm; trong đó hơn 70% xoá bỏ thuế hoàn toàn ngay sau khi hiệp định có hiệu lực, tương đương với xấp xỉ 100% tổng kim ngạch xuất khẩu trung bình trong 3 năm từ 2010 đến 2012 của Việt Nam vào EAEU. 5% dòng thuế còn lại là các mặt hàng Việt Nam không có thế mạnh xuất khẩu.

Đối với lĩnh vực thương mại dịch vụ và đầu tư, thông qua hiệp định, Việt Nam sẽ có thêm khả năng thu hút đầu tư trong những lĩnh vực phía EAEU (trước mắt là LB.Nga) có thế mạnh như khai thác và chế biến khoáng sản, sản xuất năng lượng, sản xuất ôtô, chế tạo máy, hóa chất… Đồng thời, Việt Nam cũng có cơ hội đẩy mạnh và mở rộng đầu tư sang các nước thành viên của EAEU trong lĩnh vực công nghiệp nhẹ, công nghiệp chế biến, khai thác dầu khí…

Hiện nay, nhiều ý kiến cho rằng, cả công nghiệp và thương mại của Việt Nam dường như đang yếu thế hơn so với các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (FDI). Ông nhìn nhận ý kiến này như thế nào?

Doanh nghiệp FDI đã có những đóng góp quan trọng trong việc đẩy mạnh xuất khẩu và chiếm tỷ trọng lớn trong tổng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam. Năm 2016, xuất khẩu của doanh nghiệp FDI (không kể dầu thô) chiếm khoảng 70% tổng kim ngạch xuất khẩu.

Tôi cho rằng, trong quá trình hội nhập phát triển, việc các doanh nghiệp FDI tham gia đầu tư, phát triển tại Việt Nam là xu hướng khách quan và tích cực. Tuy nhiên, thời gian qua Chính phủ, các bộ, ngành đã triển khai nhiều biện pháp để tháo gỡ khó khăn, hỗ trợ cho các doanh nghiệp trong nước xuất khẩu, khơi thông thị trường xuất khẩu.

Về phía Bộ Công Thương đã tập trung công tác phát triển thị trường, xúc tiến thương mại để thúc đẩy xuất khẩu, nâng cao thị phần xuất khẩu các sản phẩm của Việt Nam tại các thị trường truyền thống.

Đồng thời chú trọng phát triển các thị trường mới, thị trường tiềm năng, với mục tiêu đa dạng hóa thị trường, nâng cao hiệu quả cho xuất khẩu nói chung và xuất khẩu của khối doanh nghiệp trong nước nói riêng. Tạo sự liên kết, tham gia sâu hơn của doanh nghiệp Việt Nam với các doanh nghiệp FDI để từng bước tham gia tốt hơn vào chuỗi giá trị sản xuất… Nâng cao sức cạnh tranh của các doanh nghiệp trong nước trong quá trình hội nhập.

Năm 2017, ngành công thương đã đặt ra chỉ tiêu sản xuất công nghiệp tăng khoảng 8%, xuất khẩu tăng 6-7% so với năm 2016. Đây là chỉ tiêu khá thấp so với những năm trước đây. Ông nói gì về điều này?

Kinh tế thế giới năm 2017 được đánh giá là sẽ tiếp tục phục hồi, mở ra nhiều cơ hội cho xuất khẩu, tuy nhiên xuất khẩu sẽ còn gặp một số khó khăn nhất định. Do vậy, ngành công thương đề ra kế hoạch tăng trưởng xuất khẩu năm 2017 ở mức 6,9% và tỷ lệ nhập siêu khoảng 3,5% tổng kim ngạch xuất khẩu. Đây là chỉ tiêu với phù hợp với bối cảnh tình hình kinh tế trong nước và thế giới.

Dự báo tình hình năm 2017, thách thức đối với xuất khẩu còn nhiều. Kinh tế thế giới tiếp tục xu hướng phục hồi nhưng chậm và còn nhiều rủi ro, thách thức có thể ảnh hưởng đến tăng trưởng toàn cầu. Giá dầu thế giới diễn biến khó lường và chưa có dấu hiệu tăng trở lại.

Thực tế thương mại toàn cầu năm 2016 đã giảm so với năm 2015 và xu hướng này dự báo sẽ còn tiếp diễn trong năm 2017. Trong bối cảnh xuất khẩu giảm sút do nhu cầu sụt giảm, khả năng các nước sẽ có xu hướng quay lại tập trung vào thị trường nội địa, dẫn đến xu hướng tăng cường sử dụng các rào cản thương mại để bảo hộ sản xuất trong nước.

Ngoài ra, các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới là Hiệp định Thương mại tự do Việt Nam – EU (EVFTA) và Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP) đã kết thúc đàm phán, tuy nhiên chưa ký kết như EVFTA hoặc chưa được các bên phê chuẩn như TPP nên chưa thể tạo động lực tăng trưởng mạnh mẽ kim ngạch xuất khẩu trong năm 2017.

Trước tình hình này, ngay từ cuối năm 2016, Bộ Công Thương đã trao đổi với các hiệp hội ngành hàng xuất khẩu để xây dựng, định hướng các giải pháp phát triển sản xuất, thúc đẩy xuất khẩu cho các ngành hàng trong năm 2017 để sớm triển khai ngay từ đầu năm. Bộ Công Thương sẽ phối hợp với các bộ, ngành liên quan phấn đấu đạt và vượt các chỉ tiêu đề ra cho hoạt động xuất nhập khẩu trong năm 2017.

”Hốt bạc” nhờ nuôi gà quý hiếm

Những giống gà Chín Cựa, Đông Tảo, gà Hồ… với giá bán tiền triệu, thậm chí hàng chục triệu mỗi con, đã và đang giúp người chăn nuôi “hốt bạc” nhiều năm qua…

Những con gà Đông Tảo chuẩn có giá bán phổ biến từ 1,5-2 triệu đồng/kg.

Trong khi chăn nuôi gà công nghiệp bấp bênh, lợi nhuận thấp, nhiều giai đoạn người chăn nuôi thua lỗ vì rớt giá thì một bộ phận nông dân đã hướng về chăn nuôi những giống gà bản địa quý hiếm, luôn giữ được giá bán cao. Những giống gà Chín Cựa, Đông Tảo, gà Hồ… với giá bán tiền triệu, thậm chí hàng chục triệu mỗi con, đã và đang giúp người chăn nuôi “hốt bạc” nhiều năm qua.

Trong thời hội nhập sâu rộng, chăn nuôi gà thịt công nghiệp khó cạnh tranh trước thịt gà nhập khẩu giá rẻ tràn vào nước ta đã nhãn tiền. Bởi vậy, Cục Chăn nuôi (Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn) nhận định, thúc đẩy chăn nuôi các giống gà ta, gà cổ truyền của người Việt là hướng đi để cạnh tranh, cứu ngành chăn nuôi trước sự tấn công của thịt gà ngoại.

Gà Việt có rất nhiều giống, thịt đều thơm ngon được người tiêu dùng ưa chuộng; giá bán cao gấp nhiều lần gà công nghiệp, lại không “đụng hàng” với bất cứ loại thịt gà nhập khẩu nào nên không lo rớt giá.

Độc đáo gà chín cựa

Cách đây 7 – 8 năm, rất nhiều bài báo viết về gà chín cựa ở Phú Thọ, nói rằng đó là giống gà từ thuở truyền thuyết Sơn Tinh – Thủy Tinh nơi đất Tổ vua Hùng còn lại đến ngày nay. Các giáo sư ở Khoa chăn nuôi, Trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội (nay là Học viện Nông nghiệp Việt Nam) và Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn cũng công bố công trình khoa học nghiên cứu về gà chín cựa Phú Thọ.

Gà chín cựa có thật hay chỉ là huyền thoại? Đó là câu hỏi ám ảnh ông Nguyễn Như So, Tổng giám đốc Tập đoàn Dabaco, cũng là doanh nhân đại biểu Quốc hội suốt nhiều năm. Ông So chỉ đạo cho Nguyễn Hoàng Nguyên, Giám đốc Công ty Gà thuộc Tập đoàn Dabaco phải tìm khắp trên đất nước, nếu có con gà nào đúng chín cựa thì dù giá cao đến đâu cũng phải mua. Hễ nghe đâu có loài “thần kê” này, Nguyên đều tìm đến. Nào ở huyện Tương Dương tỉnh Nghệ An hay ở Vườn quốc gia Xuân Sơn tỉnh Phú Thọ, xa xôi nào có quản ngại nhưng khi tìm đến đều là giống gà nhiều ngón hay gà nhiều cựa song không con nào đủ chín cựa.

Cho đến ngày, một nông dân ở huyện Thuận Thành, Bắc Ninh gọi điện thoại mời Nguyên đến xem gà. Đến nơi, ôm con gà trống, giơ cặp chân lên ngắm nghía một hồi đếm đủ chín cựa, những chiếc cựa hình tròn, bằng sừng nhọn hoắt, không có da, cũng không có đốt ngón chân. Nguyên mừng húm: “Gà chín cựa rõ ràng thế này mà mình tìm mãi chẳng thấy tăm hơi”. Có được con gà quý, Tập đoàn Dabaco đầu tư hẳn hàng trăm tỷ đồng để xây dựng Trung tâm nghiên cứu gà chín cựa tại xã Lạc Vệ, huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh.

Đến thăm Trung tâm nghiên cứu gà chín cựa của Dabaco trước thềm xuân Đinh Dậu, chúng tôi được chiêm ngưỡng hàng nghìn con gà trống chín cựa đều tăm tắp như tranh vẽ, chuẩn bị tung ra thị trường phục vụ Tết Nguyên đán. Tất thảy gà trống ở đây đều đồng nhất, với 5 màu ngũ hành: đỏ son của mào, vàng rơm của chân, đen và tía xen xanh cánh trả của lông. Nguyễn Hoàng Nguyên, Giám đốc Trung tâm kể: con gà giống chín cựa mà chúng tôi “vớ được” ở huyện Thuận Thành là một con gà chọi chính cống với đặc điểm hiếu chiến và hung dữ.

Tuy có chín cựa, nhưng nó chưa đủ để thành một thần kê trong truyền thuyết vì vóc dáng xấu, lông ngắn, chân chì. Vậy là những chuỗi ngày khổ cực tạo giống bắt đầu. Trung tâm bền bỉ nghiên cứu, lai tạo từng phẩm chất lấy cựa, lấy màu lông, màu chân, cầu kỳ qua từng tháng, từng năm. Phải loại bỏ đi hàng ngàn con gà, mới chọn lọc thành hình được một thần kê đúng chuẩn với màu sắc, kích thước lẫn mùi vị thơm ngon khó trộn lẫn. Với kỹ thuật sàng lọc tinh, gà con sinh ra 98% là gà trống và chúng cùng một kiểu dáng, màu lông, như là được nhân bản.

Những chú gà lộc ngộc nặng 3-4 kg, nuôi cả chục tháng mới nhú đủ cựa, gột trên một năm cựa mới bật hết. Được biết, gà trống chín cựa chuẩn Dabaco năm nay có giá bán từ 2-5 triệu đồng, tùy trọng lượng và độ đẹp của hình thái. Tôi hỏi: khi bán gà trống chín cựa ra thị trường, có sợ người ta dùng để nhân giống tiếp và Công ty sẽ mất độc quyền giống quý này hay không? “Chúng tôi tạo giống và nhân giống theo công nghệ hiện đại. Những con gà trống chín cựa này, dù có đạp mái thông thường lúc nở ra gà con cũng sẽ không có chín cựa nên không lo có đối thủ nhân giống và cạnh tranh. Dabaco muốn xây dựng một thương hiệu gà cúng đặc biệt, thiên về tâm linh, đó là gà chín cựa”, Nguyên chia sẻ.

Gà Đông Tảo: đắt xắt ra miếng

Gà Đông Tảo được mệnh danh “gà tiến Vua” xuất xứ từ làng Đông Tảo, huyện Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên. Ngày nay, giống gà này được coi là quý hiếm và nhiều năm trở lại đây, trong giới nhà giàu rộ lên trào lưu mua gà Đông Tảo để ăn Tết, bất chấp cái giá “khủng” của nó. Những con gà Đông Tảo chuẩn có giá bán phổ biến từ 1,5-2 triệu đồng/kg, tức là trên dưới 10 triệu đồng một con trống trưởng thành cỡ 5 kg.

Có những con gà Đông Tảo kỳ dị được đại gia mua với giá lên tới cả cây vàng. Đơn cử, trang trại gà Đông Tảo của anh Giang Tuấn Vũ ở thôn Hiệp Tiến (Đông Tảo, Khoái Châu, Hưng Yên) từng bán một cặp gà “khủng” với giá 40 triệu đồng. Hay anh Giang Lê Hân, chủ trại chăn nuôi gà Hân Minh ở xã Đông Tảo, từng xuất bán cặp gà với giá 70 triệu đồng. Có người bán một con gà Đông Tảo lợi nhuận bằng những hộ nuôi 2.000 con gà công nghiệp.

Gà Đông Tảo có cặp chân sù sì, cặp chân gà trống to và bao quanh chân ở phía trước là một lớp vảy da sắp xếp không theo hàng, phần còn lại (3/4 diện tích) da sùi giống bề mặt trái dâu tằm ăn, bốn ngón chân xòe ra, chia ngón rõ nét, bàn chân dày, cân đối nên gà bước đi vững chắc. Mào gà trống là mào sun (ngắn và thun lại) màu đỏ tía, tích và dái tai màu đỏ, kém phát triển, nhìn gọn và khỏe. Lúc trưởng thành, con trống nặng 5,5-6 kg, con mái nặng 4 kg/con. Thịt gà ngon, ngọt với khối thịt ức ngồn ngộn đỏ hồng, những bắp thịt đùi với những bó cơ cuồn cuộn vắt lên nhau, không dai.

Gà Đông Tảo là loài rất khó nuôi, không thể nuôi nhốt, quen chạy nhảy nên chuồng trại phải rộng rãi, vì thế chất lượng thịt mới ngon, săn chắc. Tuy bán được giá cao, nhưng vì giống gà Đông Tảo đẻ rất ít trứng, mỗi năm gà mái chỉ đẻ được vài chục quả, bộ chân to vụng về khiến gà vụng ấp trứng và nuôi con, dễ bị bệnh nên công cuộc nhân đàn rất ì ạch. Chưa năm nào, làng Đông Tảo có được 2.000 con gà thuần chủng để xuất bán.

Theo những người nuôi gà Đông Tảo, để nuôi được những con gà đẹp, người chủ phải rất kỳ công, từ khâu chọn phối giống đến chăm sóc tới khi gà trưởng thành. Anh Giang Lê Hân, chủ trại chăn nuôi gà Hân Minh cho hay, để chọn được một con giống chuẩn, cần người chủ phải có con mắt tinh tường. Gà nuôi đến giai đoạn 3-4 tháng tuổi, người nuôi phải để ý sàng lọc và chọn những con gà có hình dáng thanh thoát, đầu to (hình củ tre), vai rộng, hai gối chân thẳng.

Đặc biệt là chân gà phải đỏ, bụ bẫm, dọc ống chân có vảy thịt xếp cài gối nhau thẳng hàng, bàn chân tù, dày, ngón chân ngắn. “Không phải đàn gà nào nở ra cũng chọn được những con có đặc điểm hoàn hảo như thế, mà có đàn chọn được 1 đến 2 con, nhưng có đàn không chọn được con nào. Dù chọn được gà giống như ý muốn, nhưng khi nuôi đến khi trưởng thành lại không thành công, do không có bí quyết chăm sóc đúng”, anh Hân chia sẻ.

Gà Hồ vẫn còn đó nỗi lo tuyệt chủng

Gà Hồ là một giống gà cổ truyền nổi tiếng của thị trấn Hồ, huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh. Theo ông Nguyễn Đăng Chung, Hội trưởng Hội chăn nuôi gà Hồ ở thị trấn Hồ, gà Hồ tương truyền có lịch sử hơn 600 năm, từng được chọn làm sản vật tiến Vua của vùng đất Bắc Ninh. Mặc dù được coi là thủ phủ của giống gà này song ở Bắc Ninh, số lượng người nuôi không nhiều. Hiện tại, câu lạc bộ gà Hồ trong làng chỉ có khoảng 34 hộ nuôi loại này với tổng số gần 1.000 con. Mô hình chủ yếu nhỏ lẻ theo hộ gia đình và để phục vụ nhu cầu trong gia đình khi giỗ chạp, lễ Tết. Mỗi hộ trung bình sở hữu 10-20 con, nhiều nhất khoảng 200, song gà thương phẩm chỉ chiếm một nửa.  

Ngoài kích cỡ lớn, gà Hồ không có đặc điểm khác biệt so với giống thông thường. Tuy nhiên, dòng giống, tiếng tăm và độ thơm ngon của thịt khiến sản phẩm được khách chuộng mua, nhiều người bỏ nhiều tiền để săn đặc sản này cho Tết Nguyên đán. Năm nay, gia đình anh Nguyễn Văn Trường ở làng Lạc Thổ, Thuận Thành, Bắc Ninh có khoảng 100 con gà Hồ bán Tết. Đặc tính của giống gà này là từ 4,5-6 kg/con, mã đẹp, thịt chắc, ngọt. “Mỗi con có giá lên tới cả 3-4 triệu đồng. Hầu như ngày nào cũng có người đến hỏi mua nên tôi chẳng dám đi đâu, phải thường trực ở nhà tiếp khách”, anh Trường cho hay.

Theo chủ hộ, số lượng gà Hồ ngày càng ít đi do khó gây giống, thời gian nuôi dài, phải 1,5-2 năm mới được xuất bán. Tùy thuộc vào mẫu mã, nguồn gốc và cân nặng của từng con mà loại đặc sản này được định giá khác nhau. Loại dưới 4 kg có giá bán tại vườn khoảng 350.000 – 400.000 đồng/kg, loại 5-6 kg là 500.000 – 600.000 đồng/kg.
Những con hậu duệ của giống gà “Hoa hậu” (gà đạt giải trong cuộc thi gà Hồ khu vực) có thể bán với giá lên tới 1 triệu đồng/kg. Hiện tại, đã có khách trả giá con gà trống to nhất đàn nặng gần 6 kg tới 5 triệu đồng nhưng anh Trường không bán. Anh Nguyễn Văn Thanh, cùng làng với anh Trường đang sở hữu 100 con gà Hồ cho hay, “Từ đầu tháng 12, gia đình không còn gà để bán. Khách mua chủ yếu là chỗ quen biết ở Hà Nội và một số tỉnh lân cận. Mỗi người đặt mua dăm ba con là hết cả đàn. Hiện tại, tôi đang nuôi cầm chừng để trả hàng cho khách vào cận Tết”.

Hội trưởng Hội chăn nuôi gà Hồ cho biết, gà Hồ không những làm nên thương hiệu của Bắc Ninh mà còn có tiềm năng phát triển kinh tế. “Dù người dân làng Hồ đã bắt đầu có ý thức chăn nuôi gà Hồ hàng hóa, phát triển kinh tế nhưng giống gà này vẫn chưa thoát khỏi nguy cơ tuyệt chủng, nếu không kiểm soát chặt sẽ bị lai tạp, đồng hóa với các giống gà khác. Vì vậy, Hội chăn nuôi gà Hồ đang thiết lập quy chế xây dựng thương hiệu cho gà Hồ, có nhãn mác sản phẩm…”, ông Chung nói.

Muôn mặt cà phê Sài Gòn

Dù Tp.HCM không phải là thủ phủ sản xuất cà phê nhưng kinh doanh cà phê ở thành phố này thì không địa phương nào sánh được…

Để thu hút khách hàng, mỗi một chủ đầu tư thường đi theo mô típ riêng.

Dù Tp.HCM không phải là thủ phủ sản xuất cà phê nhưng kinh doanh cà phê ở thành phố này thì không địa phương nào sánh được. Tất cả mọi thương hiệu cà phê lớn nhỏ đều hình thành nên mạng lưới cửa hàng kinh doanh riêng, cùng đó là mạng lưới quán xá có mặt ở khắp nơi từ ngoài mặt phố, trong hẻm rộng tới hẻm sâu.

Với người Sài Gòn-Tp.HCM, quán cà phê không chỉ là địa chỉ gặp gỡ bạn bè trò chuyện mà còn là nơi ngồi làm việc. Không ít người Sài Gòn còn có thú vui ngồi nhâm nhi cà phê thư giãn, ngắm phố phường sau một ngày làm việc. Chính vì vậy, nhiều mô hình quán cà phê ra đời để đáp ứng nhu cầu của người dân.

Nhìn nhau và chạy đua từng phút

Uống cà phê ở Sài Gòn, không nhất thiết phải có nhiều tiền. Nếu có hầu bao rủng rỉnh, muốn ngồi một nơi mát mẻ trong không gian máy lạnh, được thiết kế sang trọng, mọi người có thể tìm đến chuỗi cửa hàng cà phê của các thương hiệu có tên tuổi.

Tuy nhiên, nếu trong túi eo hẹp tiền mà vẫn muốn nhâm nhi một ly cà phê đắng thì đã có cả ngàn quán cà phê vỉa hè ghế súp dọc các tuyến đường, kể cả lúc không có thời gian chỉ cần tấp vào lề đường mua một ly mang về giá chưa đến 20.000 đồng.

Một điều chắc chắn là, thực khách có nhu cầu cấp độ nào cũng được chiều. Chính cái quy mô khổng lồ về thị trường tiêu dùng cà phê đã mang lại điểm đặc trưng của Sài Gòn.

Người xứ lạ đến thành phố, ngoài không gian kiến trúc cao tầng, đường phố lúc nào cũng đông người xe di chuyển, chắc sẽ choáng ngợp với mạng lưới quán cà phê dày đặc. Đủ các gu thưởng thức từ không khí ồn ào của đường phố, đến nhạc nhẹ trữ tình, thưởng thức biểu diễn âm nhạc, không gian sân vườn cây xanh, cà phê máy lạnh; cà phê tự phục vụ đến được phục vụ đều có đủ. 

Gọi là đi cà phê nhưng vào quán, dù nơi đó quy mô nhỏ, đơn sơ hay cầu kỳ rộng lớn, thực khách có thể lựa chọn nhiều món uống khác theo gu của mỗi người, có thể là các món chế biến từ cà phê, trái cây, kem. Trong thời gian đợi thức uống, khách thoải mái nhấm nháp ngụm trà đá được phục vụ ngay khi vừa ngồi vào bàn, rồi khởi đầu câu chuyện.

Ngay cái món trà đá mỗi quán cũng có một nét riêng. Phần lớn quán trà đá được hãm từ trà khô. Song cũng tùy theo quán mà trà có hương vị riêng. Có nơi ly trà thoang thoảng hương hoa nhài, có nơi lại có mùi thơm lá dứa. Đặc biệt một số ít quán, chăm chút cho món nước khai vị được hãm từ hạt ngũ cốc rang vàng thơm lừng.

Tính tiện lợi cũng được các quán cà phê ở Sài Gòn ngày càng khai thác triệt để. Mọi người chỉ cần chọn một điểm đến, dù sáng, trưa hay tối, bất kể thời gian nào đều có các món nóng như cơm, phở, mì gói, các món xào, bún, bánh mì… Giá trung bình từ 35.000 – 80.000 đồng, phục vụ kèm theo.

Các quán có thương hiệu còn bán kèm các loại bánh ngọt. Bởi vậy, những địa chỉ cà phê ở khu vực có nhiều công ty luôn đông khách, nhờ dân văn phòng chọn làm điểm nghỉ trưa.

Phải đạt chuẩn mới mong thành công

Dù thị trường lớn, nhu cầu cao nhưng một sự phân cấp và cạnh tranh cũng rõ rệt. Người ngoài nhìn vào những quán cà phê luôn đông khách từ sáng đến tối sẽ nhận xét rằng kinh doanh cà phê rất “ngon lành”. Thực tế chỉ những người kinh doanh trong ngành mới hiểu nổi khó khăn.

Để thu hút khách, mọi chi tiết từ chọn tên, trang trí hình ảnh bên ngoài, rồi chăm chút đến từng góc phòng, chiếc bàn, cái ghế, và cả cái ly, chiếc muỗng sao cho phải thật đậm chất. Đi cùng hình thức là chất lượng nước uống, món ăn. Nếu đầu bếp, bộ phận pha chế “lỏng tay” không đảm bảo độ đồng đều của món uống thì cảnh có đẹp, không gian bày trí có sang cũng không níu được chân khách quay lại.

Chỉ cần khâu bếp “trái gió trở trời” là chất lượng món ăn, thức uống bị xáo trộn ngay. Thậm chí, ngay đến việc wifi chập chờn, ít ổ cắm điện cũng làm mất đi một lượng khách không nhỏ vốn là dân thường ghé cà phê ngồi tranh thủ làm việc. Giờ đây, các mô hình cửa hàng cà phê đầu tư theo dạng chuỗi được quản lý và giám sát có sự hỗ trợ từ phần mềm.

Dù vậy, nhân sự vẫn là lực lượng cốt cán. Không đơn thuần chỉ ở việc sắp xếp, quản lý, tuyển dụng nhân sự. Vấn đề là khi phải làm việc với hàng chục con người tính tình, quê quán, độ tuổi khác nhau nên việc để tất cả làm việc theo quy trình vạch sẵn không hề giản đơn.

Đặc biệt, với ngành dịch vụ “tiếng chào cao hơn mâm cỗ” nên mọi nhân viên từ người trông xe đến người phục vụ, lúc nào cũng phải tươi tắn, niềm nở. Để làm được điều ấy không hề đơn giản khi họ phải luôn tay, luôn chân chăm sóc khách ngồi trong quán. Nếu không làm bài bản thì sẽ làm phật lòng khách hàng, dẫn đến thất thu.

Quán xá càng nhiều thì áp lực cạnh tranh càng lớn. Quán nhỏ, quán lớn, quán bình dân và quán sang đều có đủ. Cạnh tranh gay gắt nên để thành công trong nghề kinh doanh cà phê đòi hỏi người đầu tư phải có vốn kha khá. Ban đầu, chi phí bỏ ra để thuê mướn mặt bằng, trang trí, sắm sửa nội thất, thiết bị không nhỏ.

Theo chia sẻ của dân trong nghề, trung bình để có một cái quán cà phê có thể nhìn vừa mắt cũng phải tầm 200-300 triệu đồng. Còn những quán sang chi phí đầu tư càng cao có khi vốn bỏ ra cả tỷ đồng. Không chỉ chi phí đầu tư ban đầu, người kinh doanh còn lo lắng về chi phí mặt bằng, chi phí để xây dựng chỗ đứng trên thị trường, thu hút lượng khách thân thiết.

Những vị trí đẹp tại Sài Gòn có giá thuê rất đắt, có những địa điểm tiền thuê nhà lên đến vài trăm triệu đồng.

Có thể nói, cuộc chơi ở phân khúc quán cao cấp không dành cho người ít tiền đầu tư. Chính vì vậy, hiện tại, các vị trí đẹp như diện tích lớn, tọa lạc ở ngã 4 đường đều là địa điểm của các thương hiệu cà phê lớn.
 
Dạo quanh một vòng, có thể nhận thấy hầu hết các vị trí đẹp trên các cung đường trong khu trung tâm đều có các thương hiệu kinh doanh cà phê hiện diện chẳng hạn như Trung Nguyên, Highlands. Tiếp đó là một loạt các thương hiệu mới ra đời theo độ mở hội nhập của thị trường như The Coffee Bean, Starbucks.

Vài năm gần đây, Phúc Long – một thương hiệu về trà cũng lấn sân sang kinh doanh mô hình thức uống trà và cà phê.

Quán cũ, quán mới đều cạnh tranh

Độ hấp dẫn của loại hình kinh doanh cà phê vẫn nóng sốt. Kinh doanh quán cà phê đã lôi kéo nhiều người, doanh nghiệp ở những ngành nghề khác sang đầu tư. Chẳng hạn hiện có, doanh nghiệp trong ngành bất động sản là Novaland đã đầu tư mở chuỗi Saigon Café với một loạt các quán nằm ở góc ngã tư mới.

Hay như một số cá nhân vốn đã thành công trong các lĩnh vực khác cũng đã nhìn thấy cơ hội “tay trái”. Họ đã nhanh chóng tham gia vào hoạt động trong thị trường dịch vụ ẩm thực này.

Để thu hút khách hàng, mỗi một chủ đầu tư thường đi theo mô típ riêng. Điển hình như Trung Nguyên, ngoài chất lượng sản phẩm, người đứng đầu thương hiệu cà phê nội địa này muốn tái hiện không gian vùng đất Tây Nguyên ngay giữa lòng thành phố mang tên Bác.

Bằng chứng là, những tháng cuối năm 2016, Trung Nguyên Nguyễn Văn Chiêm (quận 1) trở lại hoạt động với một hình ảnh mới hoàn toàn kết thành từ tre, lá, dòng suối chảy uốn quanh và con đường lát đá. Trong khi ấy, các thương hiệu ngoại như The Coffee Bean, Starbucks, Highlands với mô hình cà phê hiện đại, ghế sô pha, khách hàng tự phục vụ.

Tiếp đó, những chuỗi cà phê mới tham gia thị trường như My Life lại chọn hướng đưa không gian xanh vào phòng máy lạnh bằng cách bày trí không gian với các hàng loạt cây xanh, hoa lá nghệ thuật. Chuỗi Saigon Café có phong cách hướng tới những khách hàng trẻ, ưu sự sôi nổi bằng sự kết hợp giữa cà phê thông thường và nơi thư giãn với âm nhạc.

Với những người Sài Gòn-Tp.HCM yêu thích không gian hoài niệm, mảng xanh thiên nhiên, thoáng đãng sẽ lui tới những quán quen đã tồn tại trên thị trường từ rất lâu với những cái tên như Miền Đông Thảo, Sỏi Đá, Du Miên, Thủy Trúc…

Đến nay, những quán xưa cũ cũng đã bị mất đi một lượng khách không nhỏ. Bởi vậy, để giữ khách và phát triển, họ phải đẩy mạnh đầu tư từ hình thức tới chất lượng.

Không chạy theo số lượng điểm kinh doanh, hầu hết những quán xưa chỉ chăm chút cho những địa chỉ hiện có. Dù thị trường đã rất nhiều quán, cạnh tranh rất khốc liệt, nhưng nhận định về mức tiêu thụ ăn uống của thành phố hơn 10 triệu dân vẫn được các nhà đầu tư đánh giá cao. Ngành dịch vụ ẩm thực này vẫn còn nhiều đất và đầy sức hấp dẫn.

10 nhóm hàng Việt Nam chi gần 125 tỷ USD nhập khẩu 2016

Năm 2016, kim ngạch nhập khẩu 10 nhóm hàng chủ yếu đạt gần 125 tỷ USD, chiếm trên 70% trong tổng kim ngạch nhập khẩu…

Ôtô là một trong những mặt hàng nhập khẩu lớn của Việt Nam năm 2016.

Theo thống kê công bố mới đây của Tổng cục Hải quan, năm 2016, kim ngạch nhập khẩu 10 nhóm hàng chủ yếu đạt gần 125 tỷ USD, chiếm trên 70% trong tổng kim ngạch nhập khẩu của cả nước.

Máy móc, thiết bị, dụng cụ và phụ tùng khác

Kim ngạch nhập khẩu nhóm hàng này đạt hơn 28,37 tỷ USD, tăng 2,9% so với cùng kỳ năm trước, trở thành nhóm hàng có kim ngạch nhập khẩu lớn nhất trong năm 2016.

Các thị trường cung cấp máy móc thiết bị cho Việt Nam trong năm 2016 chủ yếu gồm: Trung Quốc với kim ngạch gần 9,28 tỷ USD, tăng 2,8% so với cùng kỳ năm trước; Hàn Quốc đạt 5,83 tỷ USD, tăng 14,1%; Nhật Bản đạt gần 4,17 tỷ USD, giảm 7,5%…

Máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện

Dù kim ngạch giảm nhẹ trong tháng 12 song nhập khẩu của nhóm hàng này vẫn vượt 27,8 tỷ USD, tăng 20,5% so với năm trước.

Năm 2016 máy vi tính, sản phẩm điện và linh kiện chủ yếu được nhập khẩu từ: Hàn Quốc với kim ngạch hơn 8,67 tỷ USD, tăng 28,8% so với cùng kỳ năm trước; Trung Quốc đạt gần 5,92 tỷ USD, tăng 13,7%; Đài Loan đạt gần 3,16 tỷ USD, tăng 44,1%; Nhật Bản đạt gần 2,81 tỷ USD, tăng 23,7%; …

Điện thoại các loại và linh kiện

Kim ngạch nhập khẩu cả năm của nhóm hàng này đạt gần 10,56 tỷ USD, giảm 0,3% so với năm trước.

Điện thoại các loại và linh kiện trong năm 2016 chủ yếu được nhập khẩu từ Trung Quốc với hơn 6,14 tỷ USD, giảm 11% so với cùng kỳ năm trước; Hàn Quốc đạt gần 3,58 tỷ USD, tăng 18,4%; …

Nguyên phụ liệu

Nhóm hàng này bao gồm vải các loại; nguyên phụ liệu dệt, may, da, giầy; xơ, sợi dệt cá lại; bông các loại.

Tổng kim ngạch nhập khẩu nhóm hàng nguyên phụ liệu cả năm 2016 đạt gần 18,82 tỷ USD, tăng 2,9% so với cùng kỳ năm trước.

Nguyên phụ liệu trong năm 2016 chủ yếu được nhập khẩu từ Trung Quốc với kim ngạch hơn 8,02 tỷ USD, tăng 5,3% so với cùng kỳ năm trước; Hàn Quốc đạt gần 2,92 tỷ USD, tăng 3%; Đài Loan đạt 2,28 tỷ USD, giảm 2,3%…

Sắt thép và
các sản phẩm từ sắt thép

Kim ngạch nhập khẩu nhóm này đạt trên 22 triệu tấn, tương ứng gần 11 tỷ USD. Đây là mức nhập khẩu tăng kỷ lục của Việt Nam từ trước đến nay.

Sắt thép các loại trong năm 2016 chủ yếu được nhập khẩu từ Trung Quốc với 10,85 triệu tấn, trị giá hơn 4,45 tỷ USD, tăng 14,25% về lượng và 7,1% về trị giá so với năm trước; Nhật Bản đạt gần 2,64 triệu tấn, trị giá gần 1,19 tỷ USD, tăng 2,2% về lượng và 6,4% về trị giá…

Xăng dầu các loại

Kim ngạch nhập khẩu xăng dầu các loại trong năm 2016 đạt gần 11,86 triệu tấn, trị giá hơn 4,94 tỷ USD, tăng 18% về lượng, tuy nhiên giảm 7,3% về trị giá so với năm trước.

Xăng dầu các loại trong năm 2016 chủ yếu được nhập khẩu từ Thái Lan với hơn 1,5 triệu tấn, trị giá 638 triệu USD, giảm 33,5% về lượng và 44,9% về trị giá so với cùng kỳ năm trước; Trung Quốc với hơn 1,04 triệu tấn, trị giá 451 triệu USD, giảm 40,3% về lượng và 51% về trị giá…

Chất dẻo nguyên liệu và sản phẩm từ chất dẻo

Năm 2016, Việt Nam chi tới gần 10,7 tỷ USD mua hai nhóm hàng này, tăng bình quân 11% so với năm trước. Sản phẩm chất dẻo chủ yếu được nhập khẩu để phục vụ phát triển công nghiệp trong nước. Thị trường nhập khẩu chủ yếu từ Trung Quốc, Thái Lan.

Thức ăn gia súc và nguyên liệu

Theo Tổng cục Hải quan, năm qua Việt Nam đã chi tới 3,46 tỷ USD để nhập khẩu nhóm hàng này, tăng 2,1% so với năm trước. Mức tăng nhẹ này cho thấy các hãng sản xuất thức ăn chăn nuôi trong nước bắt đầu lấy lại thị trường.

Những năm gần đây, các doanh nghiệp tư nhân trong nước đã đầu tư lớn cho ngành công nghiệp này như Masan, Hoà Phát… Thị trường nhập khẩu thức ăn chăn nuôi của Việt Nam chủ yếu từ Trung Quốc, Ấn Độ…

Ôtô nguyên chiếc

Năm qua là năm khó khăn với lĩnh vực nhập khẩu ôtô của Việt Nam do nhiều vấn đề về chính sách cũng như các dòng thuế đánh vào xe sang nguyên chiếc tăng mạnh. Cụ thể, năm 2016 người dân Việt chi khoảng 2,33 tỷ USD nhập 113.567 chiếc xe, giảm 9,5% về lượng và 21,7% về giá trị.

Trong đó, nhập khẩu ôtô nguyên chiếc từ Thái Lan trong năm 2016 đạt 34.336 chiếc, tương ứng 641 triệu USD, tăng 9.217 chiếc về lượng và tăng hơn 200 triệu USD về giá trị so với năm 2015.

Thái Lan đã trở thành quán quân xuất xe cho Việt Nam, vượt xa quốc gia đứng thứ hai là Trung Quốc, Hàn Quốc…

Hoá chất và các sản phẩm từ hoá chất

Tổng kim ngạch nhập khẩu năm 2016 của nhóm hàng đạt gần 7 tỷ USD, tăng bình quân 7% so với năm trước. Đây là các sản phẩm được nhập khẩu phục vụ ngành công nghiệp và tiêu thụ trong nước. Thị trường nhập khẩu lớn nhất là Trung Quốc.

OPEC giảm mạnh sản lượng dầu trong tháng 1

Mức giảm sản lượng theo cam kết lần này cao nhất từ trước đến nay…

Chính phủ Saudi Arabia, Kuwait, Algeria tuyên bố đã giảm sản lượng nhiều hơn cả mức cam kết – Ảnh: Huffington Post.

Nguồn cung dầu từ Tổ chức các nước xuất khẩu dầu mỏ (OPEC) giảm mạnh trong tháng 1/2017 sau khi các nước thành viên cắt giảm sản lượng để giảm bớt tình trạng dư thừa dầu trên thị trường.

Theo Bloomberg, OPEC đã giảm sản lượng 900 nghìn thùng dầu/ngày trong tháng 1/2017. Con số này tương đương 75% mức cam kết mà OPEC đã đồng thuận vào tháng 11 năm ngoái. Tất cả 13 nước thuộc OPEC và 11 nước ngoài OPEC dẫn đầu bởi Nga đã thực hiện đúng các cam kết giảm sản lượng dầu.

“Số liệu mới công bố cho thấy đã có sự nhất trí cao trong nhóm các nước tham gia đàm phán hạ sản lượng dầu”, giám đốc điều hành quỹ Petro-Logistics, ông Daniel Gerber nhận xét. Quỹ Petro-Logistics đã theo dõi số liệu trên thị trường dầu trong hơn 3 thập kỷ qua.

Trong buổi họp bàn về việc thực hiện mục tiêu giảm sản lượng dầu vào ngày 22/1 vừa qua, Bộ trưởng Năng lượng Saudi Arabia, ông Khalid Al-Falih cũng cho biết các nước thành viên đã thực sự giảm sản lượng dầu.

Trong khi đó, nhiều chuyên gia phân tích về thị trường năng lượng vẫn hoài nghi về khả năng Iraq sẽ giảm sản lượng dầu bởi sau nhiều năm chiến tranh và bị cấm vận, chính phủ Iraq sẽ muốn đẩy mạnh xuất khẩu để kiếm nguồn thu.

Khi OPEC và một số nước ngoài OPEC chính thức thông báo về kế hoạch cắt giảm sản lượng vào cuối tháng 11/2016, giá dầu tăng mạnh, tuy nhiên sau đó đà tăng chậm lại bởi thị trường lo lắng OPEC sẽ không thực hiện đúng các cam kết. Chốt phiên giao dịch của tuần trước, giá dầu Brent ở mức 55 USD/thùng.

Chính phủ các nước thành viên OPEC nhanh chóng hành động để trấn an thị trường. Chính phủ Saudi Arabia, Kuwait, Algeria tuyên bố họ thậm chí đã giảm sản lượng nhiều hơn cả mức cam kết. Chính phủ Nga cũng khẳng định tương tự.

Nhóm các nước trong và ngoài OPEC thậm chí cũng đã lập ra một ủy ban bao gồm đại diện của 5 nước để giám sát việc tuân thủ cam kết đã được đưa ra. Ủy ban này sẽ đưa ra chi tiết mức giảm của từng thành viên vào cuối tháng 3/2017.

Trong những lần cam kết giảm sản lượng trước đây, mức giảm mà OPEC thực hiện được chỉ đạt 70%, cựu trưởng bộ phận nghiên cứu của OPEC, ông Hasan Qabazard chia sẻ.

Triệt để tiết kiệm, giữ vững kỷ cương tài chính

2017 dự báo sẽ vẫn phải đối mặt với nhiều thách thức có thể ảnh hưởng đến nhiệm vụ tài chính – ngân sách…

Ông Đinh Tiến Dũng, Bộ trưởng Bộ Tài chính.

Năm 2016, mặc dù nhiều nguồn thu ngân sách gặp khó khăn, ngành tài chính vẫn hoàn thành nhiệm vụ thu ngân sách với mức vượt trên 7% so với dự toán pháp lệnh. Trao đổi với Thời báo Kinh tế Việt Nam nhân dịp Xuân mới, Bộ trưởng Bộ Tài chính Đinh Tiến Dũng cho biết, kinh tế nước ta năm 2017 dự báo sẽ vẫn phải đối mặt với nhiều thách thức có thể ảnh hưởng đến nhiệm vụ tài chính – ngân sách.

Do đó, năm 2017 ngành tài chính sẽ tiếp tục tập trung ưu tiên vào một số nội dung trọng điểm để hoàn thành tốt nhiệm vụ điều hành ngân sách cả năm và tiếp tục đặt tiền đề vững chắc cho bước phát triển của những năm tiếp theo.

Thưa Bộ trưởng, năm 2016, được đánh giá có nhiều thách thức đối với công tác thu ngân sách nhà nước nhưng ngành tài chính vẫn hoàn thành và vượt dự toán được giao. Xin Bộ trưởng chia sẻ về những nỗ lực để đạt được kết quả này?

Trước diễn biến giá dầu thô giảm mạnh và các yếu tố bất lợi do thiên tai, hạn hán, lũ lụt…  tiềm ẩn nguy cơ gây mất cân đối ngân sách nhà nước năm 2016, để đảm bảo hoàn thành, phấn đấu hoàn thành vượt mức dự toán thu ngân sách nhà nước, bên cạnh việc tập trung triển khai thực hiện tốt các giải pháp đã đề ra theo các nghị quyết của Đảng, Quốc hội và Chính phủ, ngành tài chính đã nỗ lực triển khai đồng bộ, hiệu quả các giải pháp sau:

Một là, tập trung triển khai thực hiện có hiệu quả các giải pháp, nhiệm vụ cụ thể về cải cách thủ tục hành chính, tháo gỡ khó khăn cho sản xuất – kinh doanh, cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia; hỗ trợ và phát triển doanh nghiệp theo các Nghị quyết số 19-2016/NQ-CP và Nghị quyết số 35/2016/NQ-CP của Chính phủ.

Phối hợp chặt chẽ với các cấp các ngành, tập trung tháo gỡ, giải quyết kịp thời khó khăn, vướng mắc cho doanh nghiệp, cải thiện môi trường kinh doanh, tạo điều kiện để các doanh nghiệp phát triển, ổn định, vững chắc, thu hút đầu tư, tăng thêm năng lực sản xuất mới, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, đây là giải pháp căn cơ, tạo nguồn thu vững chắc, lâu dài cho ngân sách nhà nước.

Chỉ đạo cơ quan thuế, hải quan tiếp tục rà soát, cải cách thủ tục hành chính trong lĩnh vực quản lý thuế một cách toàn diện, hiện đại, theo đúng chỉ đạo của Chính phủ để giảm thời gian và chi phí trong thực hiện thủ tục hành chính về thuế. Đẩy mạnh hiện đại hoá công tác quản lý thuế, kê khai thuế, nộp thuế nhằm giảm bớt chi phí cho người nộp thuế và tập trung kịp thời nguồn thu vào ngân sách nhà nước.

Hai là, trong điều hành đã phối hợp, tranh thủ sự ủng hộ, vào cuộc của các cấp ủy đảng, chính quyền địa phương triển khai đồng bộ các biện pháp quản lý thuế, hải quan trong đó tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra chống thất thu thuế, chống chuyển giá, chống buôn lậu, gian lận thương mại, trốn thuế, đẩy mạnh công tác quản lý nợ đọng thuế; hoàn thành chỉ tiêu thu nợ và chỉ tiêu thanh tra, kiểm tra, góp phần tăng thu cho ngân sách.

Ba là, thường xuyên cập nhật tiến độ thu, nắm chắc diễn biến về kinh tế, thị trường, giá cả, đặc biệt là giá dầu khí, xây dựng các kịch bản diễn biến giá dầu để tổ chức đánh giá tác động đến thu ngân sách nhà nước, đánh giá đúng tình hình và dự báo sát khả năng thu ngân sách nhà nước hàng tháng, quý và cả năm. Bộ Tài chính cũng tổ chức các cuộc đối thoại đối với các doanh nghiệp, qua đó nắm bắt được tâm tư, nguyện vọng của doanh nghiệp đồng thời phân tích, đánh giá, dự báo đối với các sắc thuế lớn, những địa bàn trọng điểm, phát hiện sớm những nguyên nhân tác động làm ảnh hưởng đến kết quả thu ngân sách Nhà nước để có biện pháp xử lý và kiến nghị các cấp có thẩm quyền phối hợp, xử lý, tháo gỡ kịp thời những khó khăn, vướng mắc về cơ chế, chính sách, tạo điều kiện tốt nhất cho doanh nghiệp phát triển.

Quản lý thu đúng, đủ, kịp thời vào ngân sách nhà nước cổ tức được chia cho phần vốn nhà nước tại các công ty cổ phần có vốn góp của Nhà nước do bộ, ngành, địa phương đại diện chủ sở hữu, nhất là các ngân hàng thương mại cổ phần, Nhà nước nắm cổ phần chi phối, đôn đốc các tập đoàn, tổng công ty nhà nước sở hữu 100% vốn điều lệ thực hiện nộp đầy đủ, kịp thời vào ngân sách nhà nước lợi nhuận còn lại sau khi trích lập các quỹ theo quy định của pháp luật. Đẩy nhanh tiến độ tái cơ cấu, cổ phần hóa doanh nghiệp Nhà nước, thoái vốn đầu tư, đảm bảo thu đủ tiền bán cổ phần nhà nước tại doanh nghiệp theo nghị quyết Quốc hội.

Bốn là, tăng cường kỷ cương, kỷ luật tài khóa các cấp, tổ chức điều hành, quản lý chi ngân sách nhà nước chặt chẽ, tiết kiệm, đúng quy định của pháp luật, chống lãng phí, nâng cao hiệu quả sử dụng ngân sách nhà nước. Thực hiện chỉ đạo của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Bộ Tài chính đã thực hiện điều hành ngân sách chủ động, tích cực, đảm bảo cân đối ngân sách các cấp, đảm bảo bội chi theo dự toán Quốc hội quyết định, nợ công trong giới hạn an toàn tài chính.  

Thưa Bộ trưởng, bội chi ngân sách và nợ công vẫn được xem là hai điểm đáng quan ngại và khó khăn nhất trong điều hành ngân sách. Năm 2017, Bộ Tài chính sẽ có những giải pháp nào để giảm bội chi và kiểm soát nợ công hiệu quả?

Trong bối cảnh kinh tế phát triển không thuận lợi một số năm gần đây, tăng trưởng thấp hơn dự kiến, ảnh hưởng đến thu ngân sách nhà nước; tích lũy của nền kinh tế còn nhỏ, khả năng huy động đầu tư từ các nguồn ngoài ngân sách nhà nước còn hạn chế nên những năm qua, Chính phủ chủ động điều hành bội chi ngân sách nhà nước theo hướng linh hoạt và trình Quốc hội chấp thuận bội chi cao ở một số thời điểm để có thêm nguồn lực cho chi đầu tư phát triển.

Rút kinh nghiệm từ hạn chế nêu trên, trong định hướng kế hoạch tài chính 5 năm 2016-2020, cũng như dự toán ngân sách năm 2017, một trong những nhiệm vụ, giải pháp quan trọng đã được Bộ Tài chính tham mưu, trình Chính phủ trình Quốc hội là giữ vững kỷ luật, kỷ cương tài chính, mức bội chi ngân sách nhà nước phải gắn với mục tiêu nợ công hàng năm không vượt giới hạn cho phép và phù hợp với khả năng huy động; triệt để tiết kiệm chi, việc ban hành các chính sách phải căn cứ khả năng nguồn lực, kế hoạch đầu tư công trung hạn phải nằm trong kế hoạch tài chính 5 năm.
 
Trong tổ chức thực hiện, sẽ tập trung thực hiện các giải pháp quản lý thu để phấn đấu hoàn thành nhiệm vụ thu ở mức cao nhất; cắt giảm đối với các nhiệm vụ chi đầu tư và chi thường xuyên đã được duyệt từ đầu năm nhưng đến hết năm ngân sách vẫn chưa giải ngân hết, trừ các khoản mới bổ sung trong năm và các trường hợp đặc biệt được cấp có thẩm quyền quyết định; quản lý, sử dụng dự phòng chi ngân sách nhà nước tập trung cho các mục tiêu khắc phục hậu quả thiên tai, bão lũ, dịch bệnh và một số nhiệm vụ quan trọng cấp bách về quốc phòng, an ninh, biển đảo… quản lý chặt chẽ các khoản chi chuyển nguồn, kiên quyết không thực hiện việc chuyển nguồn sang năm sau đối với các nhiệm vụ do chủ quan các cơ quan, đơn vị sử dụng ngân sách thực hiện chậm, từ đó giảm chi để giảm bội chi và nợ công…

Năm 2017 kinh tế trong nước dự báo vẫn còn nhiều khó khăn, thách thức, Bộ trưởng có thể cho biết định hướng ưu tiên của ngành tài chính trong năm mới?

Kinh tế nước ta năm 2017 dự báo sẽ vẫn phải đối mặt với nhiều thách thức có thể ảnh hưởng đến nhiệm vụ tài chính – ngân sách nhà nước năm 2017 và một số năm tiếp theo. Cụ thể, biến đổi khí hậu đã và đang “đe dọa” đến sản xuất và đời sống của người dân, đặc biệt là trong lĩnh vực nông nghiệp; những hạn chế nội tại của nền kinh tế trong nước chưa được giải quyết như sức cạnh tranh thấp, năng lực quản trị yếu, khoa học – công nghệ còn lạc hậu, chất lượng nguồn nhân lực thấp, hiệu quả huy động và sử dụng nguồn lực còn hạn chế…

Bên cạnh đó, những xung đột địa chính trị và kinh tế thế giới diễn biến phức tạp, xu hướng “đảo ngược” của toàn cầu hóa… sẽ là những thách thức lớn đối với nền kinh tế Việt Nam nói chung, trong thực hiện nhiệm vụ tài chính – ngân sách nhà nước nói riêng. Do vậy, năm 2017 ngành tài chính sẽ tiếp tục tập trung ưu tiên vào một số nội dung trọng điểm:

Một là, đẩy mạnh việc hoàn thiện thể chế và cơ chế tài chính, đảm bảo tính đồng bộ, công khai, minh bạch, ổn định và phù hợp với yêu cầu thực tiễn đặt ra trong quá trình phát triển kinh tế – xã hội của đất nước và hội nhập quốc tế. Trong đó, tập trung hoàn thiện thể chế về quản lý thu, chi ngân sách nhà nước, quản lý nợ công theo tinh thần Nghị quyết số 07-NQ/TW của Bộ Chính trị về chủ trương, giải pháp cơ cấu lại ngân sách nhà nước, quản lý nợ công để đảm bảo nền tài chính quốc gia an toàn, bền vững và Nghị quyết số 25/2016/QH14 của Quốc hội về kế hoạch tài chính 5 năm quốc gia giai đoạn 2016-2020 nhằm huy động, phân bổ và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực, trong đó có nguồn lực ngân sách nhà nước.

Hai là, tổ chức triển khai thực hiện tốt các luật, nghị quyết được Quốc hội thông qua, đặc biệt là các luật có hiệu lực từ 1/1/2017 như Luật Ngân sách nhà nước, Luật Phí và lệ phí… Cùng với đó, cần tiếp tục thực hiện nghiêm kỷ cương, kỷ luật tài chính – ngân sách; hạn chế tối đa việc ban hành các chính sách mới khi chưa có nguồn đảm bảo; thực hiện chi ngân sách nhà nước tiết kiệm, hiệu quả, theo dự toán được giao; kiểm soát chặt chẽ các chỉ tiêu nợ công và bội chi ngân sách. Đẩy mạnh việc thực hiện cơ chế tự chủ đối với đơn vị sự nghiệp công; phát triển mạnh các loại hình thị trường tài chính và cơ cấu lại doanh nghiệp Nhà nước.

Ba là, tiếp tục cải thiện mạnh mẽ môi trường đầu tư, kinh doanh, tạo mọi điều kiện thuận lợi để phát triển các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế cùng cạnh tranh bình đẳng và phát triển. Theo đó, tiếp tục rà soát, sửa đổi, hoàn thiện hệ thống pháp luật tài chính và thực hiện các chính sách ưu đãi, khuyến khích để hỗ trợ doanh nghiệp phát triển. Trong đó, tập trung vào việc tháo gỡ các rào cản, vướng mắc về chính sách thuế, hải quan, chế độ kế toán, kiểm toán, thủ tục hành chính trong lĩnh vực tài chính. Đặc biệt, là các chính sách đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa; cho phát triển công nghiệp hỗ trợ và cho nông nghiệp, nông thôn.

Bốn là, tiếp tục thực hiện nhất quán nguyên tắc quản lý giá theo cơ chế thị trường, đẩy mạnh thực hiện lộ trình giá thị trường có sự điều tiết của Nhà nước đối với các hàng hóa quan trọng, thiết yếu; sớm thực hiện đầy đủ cơ chế giá thị trường đối với dịch vụ công, điện, đất đai và tài nguyên quan trọng; đồng thời, có các giải pháp hỗ trợ hợp lý đối với các đối tượng chính sách (người nghèo, người dân tộc thiểu số…).

Năm là, phối hợp hiệu quả các chính sách tài khóa, chính sách tiền tệ để kiểm soát lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, phấn đấu tăng trưởng GDP tối thiểu đạt kế hoạch đề ra; thúc đẩy và tăng cường tính minh bạch đối với các thông tin liên quan đến tài chính – ngân sách nhà nước theo quy định.

Ngã ngũ ngân hàng có số lợi nhuận lớn nhất Việt Nam

Con số chính thức chốt lại chỉ chênh nhau vài chục tỷ đồng giữa VietinBank với Vietcombank…

Cả Vietcombank và VietinBank đều đạt kỷ lục lợi nhuận trong năm 2016.

Các ngân hàng thương mại vừa công bố báo cáo tài chính quý 4/2016. Vị trí lợi nhuận lớn nhất hệ thống chính thức chốt lại, với mức độ chênh nhau chỉ vài chục tỷ đồng.

Cụ thể, báo cáo tài chính của Ngân hàng Công thương Việt Nam (VietinBank) đã chốt lại con số lợi nhuận trước thuế riêng ngân hàng năm 2016 là 8.271,7 tỷ đồng. Đây cũng là con số lớn nhất trong hệ thống các ngân hàng thương mại Việt Nam năm qua (khác với con số hiệu quả nhất).

Rất sát, Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam (Vietcombank) cũng chốt lại con số cuối cùng với 8.220 tỷ đồng lợi nhuận trước thuế riêng lẻ, áp sát VietinBank.

Trước đó, vị trí lợi nhuận lớn nhất vẫn chưa thể ngã ngũ giữa hai thành viên này, do vẫn có so sánh và chờ đợi ở con số lợi nhuận hợp nhất.

Với báo cáo tài chính vừa công bố, VietinBank lại nhỉnh hơn Vietcombank ở kết quả hợp nhất chỉ khoảng vài chục tỷ đồng.

Cụ thể, lợi nhuận trước thuế hợp nhất năm qua của VietinBank đạt 8.530 tỷ đồng, trong khi Vietcombank là 8.517 tỷ đồng. Nhưng về tốc độ tăng trưởng so với năm trước, Vietcombank vượt trội hơn với tốc độ 23,5%, còn VietinBank tăng 16,1%.

Ở con số tổng thể khác, nếu so sánh lợi nhuận thuần từ hoạt động kinh doanh trước chi phí dự phòng rủi ro tín dụng của riêng ngân hàng, Vietcombank lại đạt cao hơn trong năm qua, lên tới 14.612,3 tỷ đồng, trong khi VietinBank thấp hơn với 13.186,7 tỷ đồng.

Tương quan trên cũng cho thấy Vietcombank đã thực hiện trích lập dự phòng lớn hơn so với VietinBank, dẫn tới con số lợi nhuận trước thuế sau trích lập dự phòng thấp hơn và không chiếm được vị trí lợi nhuận lớn nhất, dù chỉ là về con số nhưng lại được thị trường chú ý về thứ hạng.

Mức độ trích lập dự phòng rủi ro tín dụng giữa hai ngân hàng này cũng chênh lệch đáng kể. Nếu Vietcombank có tổng dư nợ riêng ngân hàng là 457.137,8 tỷ, dự phòng rủi ro cho vay khách hàng 8.068,3 tỷ, thì VietinBank có tổng cho vay khách hàng 649.342 tỷ với dự phòng 6.711 tỷ, tính đến cuối quý 4/2016.

Về con số tuyệt đối, Vietcombank đến cuối 2016 có 6.789,2 tỷ đồng nợ xấu; VietinBank ít hơn với 6.706,6 tỷ. Tuy nhiên, đến cuối 2016 Vietcombank là ngân hàng đầu tiên và duy nhất đưa toàn bộ nợ xấu về một sổ, không còn nợ xấu nằm tại Công ty Quản lý tài sản các tổ chức tín dụng Việt Nam (VAMC), nên có sự khác biệt về chất lượng trong so sánh ở đây.

Cũng theo báo cáo vừa công bố, đến hết 2016, riêng ngân hàng, Vietcombank có 15.164 cán bộ nhân viên, còn VietinBank có 21.895 người; Vietcombank có tổng vốn chủ sở hữu 48.185,6 tỷ đồng, VietinBank có tới 61.655,8 tỷ đồng.

Dấu ấn mới trong lập pháp của Quốc hội

Chấp nhận dự án Luật Hành chính công được xem là sự đổi mới…

Đại biểu Trần Thị Quốc Khánh phát biểu trong phiên họp thứ nhất của Ban soạn thảo dự án Luật Hành chính công.

Lần đầu tiên Quốc hội Việt Nam có nữ Chủ tịch, lần đầu tiên lãnh đạo cấp cao sau khi được Quốc hội bầu đã tuyên thệ nhậm chức…
Đó là hai trong 10 dấu ấn nổi bật của Quốc hội của năm 2016 được Tổng thư ký Quốc hội Nguyễn Hạnh Phúc điểm lại trong buổi gặp mặt các cơ quan thông tấn, báo chí trước thềm Tết Nguyên đán Đinh Dậu vừa qua.
Các sự kiện nổi bật còn lại là tổ chức thành công cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa 14 và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2016- 2021. Là tổ chức kỷ niệm trọng thể Lễ kỷ niệm 70 năm Ngày Tổng tuyển cử đầu tiên bầu Quốc hội Việt Nam (06/01/1946- 06/01/2016). Rồi, lần đầu tiên Quốc hội quyết định hệ thống các kế hoạch trung hạn mang tính tổng thể về tài chính và đầu tư, có sự gắn kết chặt chẽ cả trong ngắn hạn, trung hạn và dài hạn…
Đã không có sự kiện nào về lập pháp – chức năng rất quan trọng của Quốc hội được điểm lại như dấu ấn nổi bật của năm qua.
Nhưng, việc dự án Luật Hành chính công – sáng kiến lập pháp của đại biểu Quốc hội Trần Thị Quốc Khánh – đang được khẩn trương xúc tiến đã được xem như là dấu ấn mới trong hoạt động lập pháp của Quốc hội.
Theo Phó chủ tịch Quốc hội Uông Chu Lưu thì một số nhiệm kỳ trước cũng đã có đại biểu trình sáng kiến lập pháp, nhưng chỉ mới là đề nghị chứ chưa được Quốc hội quyết định đưa vào chương trình xây dựng luật, pháp lệnh.
Với dự án Luật Hành chính công, đại biểu Trần Thị Quốc Khánh đã đề xuất từ năm 2013, và cũng có lúc tưởng như khó có thể được trình xin ý kiến Quốc hội.
Nhưng, Quốc hội đã đồng ý đưa dự án luật này vào chương trình xây dựng luật, pháp lệnh của khoá 14. Uỷ ban Thường vụ Quốc hội đã quyết định thành lập Ban soạn thảo do đại biểu Khánh làm Trưởng ban và Ban soạn thảo đã họp phiên thứ nhất vào tháng 12/2016.
27 Tết, Phó chủ tịch Quốc hội Uông Chu Lưu vẫn cùng Ban soạn thảo và nhiều chuyên gia pháp luật tìm “lối đi riêng” cho dự án luật trong một hội thảo về phạm vi điều chỉnh, đối tượng áp dụng của dự thảo luật này.
Dù còn không ít băn khoăn nhưng “ủng hộ” là hai từ liên tục được nhắc đến, có vị còn bày tỏ sự háo hức và chờ đợi sự ra đời của dự án Luật Hành chính công.
Ủng hộ hay háo hức, chờ đợi đều không chỉ bởi đây là dự án luật được hình thành từ sáng kiến lập pháp của cá nhân đại biểu, một điều quá đỗi bình thường với nhiều nước khác nhưng khá hiếm hoi ở Việt Nam. 
Mà còn ở chỗ dự án Luật Hành chính công được kỳ vọng sẽ “tấn công” mạnh vào quản lý hành chính Nhà nước, trong bối cảnh kỷ luật, kỷ cương hành chính nhà nước, cán bộ, công chức được quan tâm, đẩy mạnh.
Tống bí thư yêu cầu nhốt quyền lực vào cái lồng của cơ chế lập pháp thì dự án luật này cũng là một phần cái lồng của cơ chế lập pháp, Chủ nhiệm Uỷ ban Pháp luật của Quốc hội khoá 13, ông Phan Trung Lý nhấn mạnh tại hội thảo.
Phó chủ tịch Quốc hội Uông Chu Lưu khái quát, Quốc hội đã quyết định đưa dự án Luật Hành chính công vào chương trình xây dựng luật với mục đích để có nền hành chính minh bạch, công khai, hiệu lực, hiệu quả. Một nền hành chính công phục vụ và thông suốt đáp ứng yêu cầu phát triển của xã hội, tạo điều kiện thông thoáng cho dân nhưng vẫn đảm bảo yêu cầu quản lý của nhà nước.
Ông Phan Trung Lý còn nói rằng, việc lần đầu tiên sáng kiến lập pháp của cá nhân đại biểu được đưa vào chương trình xây dựng luật của Quốc hội không phải vì để lấy “thành tích” mà đó là kết quả của tâm huyết, tâm sức của đại biểu Khánh cùng rất nhiều người khác nữa.
Chấp nhận dự án Luật Hành chính công chính là sự đổi mới, từ trước phần lớn dự án luật là do Chính phủ trình, ông Lý nhấn mạnh.
Chủ tịch Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam Vũ Tiến Lộc cũng cho rằng nếu dự án Luật Hành chính công thành công sẽ mở đường cho cách thức  xây dựng mô hình pháp luật mới. Vì thế nên dành sự ưu tiên cho dự án luật này.
Vẫn còn quá sớm để nói đến sự thành công của dự án Luật Hành chính công. Song, Quốc hội làm luật (chứ không chỉ thông qua luật) luôn là một điều được cử tri trông đợi.
Bởi, đại biểu Quốc hội thay vì một vị bộ trưởng hay trưởng ngành làm trưởng ban soạn thảo luật thì có thể tình trạng cục bộ, “cài cắm” lợi ích – căn bệnh được nhắc đến lâu nay – có thể sẽ giảm.

Cuộc rượt đuổi 10 năm của dự trữ ngoại hối Việt Nam

Dự trữ ngoại hối đạt kỷ lục, sau cuộc rượt đuổi nhiều biến động trải suốt 10 năm qua…

Sau giai đoạn 2007 – 2009, những năm gần đây quy mô dự trữ ngoại hối của Việt Nam vẫn luôn phải rượt đuổi mốc 12 tuần nhập khẩu, và mức hiện có đang là kết quả tốt nhất.

Trước thềm kỳ nghỉ Tết Nguyên đán Đinh Dậu, thị trường ghi nhận Ngân hàng Nhà nước mua vào lượng lớn ngoại tệ, dự trữ ngoại hối quốc gia tiếp tục gia tăng.

Không có con số cụ thể công bố, nhưng theo một số thành viên thị trường, Ngân hàng Nhà nước đã “vợt” lại hơn cả lượng ngoại tệ đã bán ra can thiệp cuối 2016.

Theo đó, quy mô dự trữ ngoại hối quốc gia hiện có thể xác định ở khoảng trên 41 tỷ USD, con số mà Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc đề cập đầu năm nay.

Về con số giá trị tuyệt đối, đến nay, Việt Nam đã gia tăng khoảng gấp đôi quy mô dự trữ ngoại hối sau chục năm, đạt kỷ lục từ trước tới nay. Trùng hợp, đây cũng là quãng 10 năm Việt Nam gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO).

Dự trữ ngoại hối là tài sản Nhà nước cất giữ, tích luỹ dưới dạng ngoại tệ. Dù đạt kỷ lục, gia tăng mạnh mẽ trong năm 2016, nhưng với quy mô trên, Việt Nam vẫn chưa phải là một “tỷ phú đô la” theo các chuẩn quốc tế, cũng như so sánh ngay trong khu vực Đông Nam Á (chỉ đứng trên Myanmar, Campuchia, Brunei và Lào).

Mười năm về trước, Việt Nam gia nhập WTO. 2007 cũng là năm bùng nổ của thị trường chứng khoán, cùng làn sóng đổ bộ của vốn đầu tư nước ngoài. “Kỳ trăng mật” WTO có ghi nhận kỷ lục dự trữ ngoại hối Việt Nam đạt được vào giữa năm 2008.

Dữ liệu thống kê từ Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) cho thấy, đó cũng là giai đoạn Việt Nam có triển vọng trở thành “tỷ phú đô la”, xét theo tiêu chí năng lực dự trữ ngoại hối trong thanh toán quốc tế, đảm bảo được quy mô trung bình từ 12 – 16 tuần nhập khẩu của nền kinh tế, từ 2007 – 2009.

Nhưng cũng rất nhanh, ngay nửa cuối 2008, cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu nổ ra. WTO là cánh cửa hội nhập lớn, cũng đồng nghĩa với việc chấp nhận những cuộc chơi lớn, theo các điều khoản cam kết. Vốn ngoại đảo chiều mạnh nửa cuối 2008, mà lần đầu tiên Ngân hàng Nhà nước buộc phải công bố con số dự trữ ngoại hối để trấn an nhà đầu tư (20,7 tỷ USD, ngày 19/6/2008).

Khó khăn và biến động lớn kéo dài từ đó, khiến Việt Nam càng xa hơn với cách gọi dân dã “tỷ phú đô la” nói trên, cũng như đo theo tiêu chuẩn của IMF.

Cùng với biến động lớn và kéo dài qua các năm của tỷ giá USD/VND, tình trạng nhập siêu cực lớn (như khoảng 17,5 tỷ USD ngay năm 2008), Ngân hàng Nhà nước đã phải bán ra ngoại tệ can thiệp thị trường, tại nhiều thời điểm. Và đến tháng 1/2011, quy mô dự trữ ngoại hối, theo số liệu của một số tổ chức nghiên cứu tổng hợp lại, đã rơi xuống đáy và chỉ còn khoảng 12,58 tỷ USD.

Ngay sau đó là cú phá giá VND rất mạnh ngày 11/2/2011 (lên tới 9,3%), thị trường và tỷ giá USD/VND dần ổn định, Ngân hàng Nhà nước mua lại được ngoại tệ, để rồi đến cuối 2012 đạt khoảng 22-23 tỷ USD.

Đến cuối tháng 7/2015, một lần nữa quy mô dự trữ ngoại hối của Việt Nam được công bố ở con số chính thức: lên tới khoảng 37 tỷ USD với 10 tấn vàng. Nhưng ngay sau đó, từ sự kiện Trung Quốc bất ngờ phá giá mạnh đồng Nhân dân tệ, Ngân hàng Nhà nước đã phải liên tục bán ra lượng lớn ngoại tệ đến tận những ngày cuối cùng của năm 2015.

2016 vừa qua, với mức độ ổn định nhất của tỷ giá USD/VND trong nhiều năm trở lại đây, niềm tin vào VND được củng cố, nhiều chính sách “đánh” vào găm giữ ngoại tệ phát huy tác dụng, cán cân tổng thể ước tính thặng dư lớn, Ngân hàng Nhà nước liên tục trở lại mua vào ngoại tệ. Lượng mua được năm qua có thể đạt trên dưới 11 tỷ USD, nâng quy mô dự trữ ngoại hối lên kỷ lục khoảng 41 tỷ USD nói trên.

Dù đã gấp đôi quy mô của chục năm về trước, nhưng Việt Nam vẫn chưa thể là “tỷ phú đô la” khi nhìn về tài sản tích luỹ này.

Như trên, để thực sự là một quốc gia “tỷ phú” về dự trữ ngoại hối, quy mô phải cân đối được tương ứng từ 16 – 24 tuần nhập khẩu của nền kinh tế, thậm chí cao hơn. Trong khi đó, sau giai đoạn 2007 – 2009, những năm gần đây Việt Nam vẫn luôn phải rượt đuổi mốc 12 tuần nhập khẩu, và quy mô hiện có đang là kết quả tốt nhất.

Năng lực dự trữ ngoại hối của mỗi quốc gia được tính theo giá trị tuần nhập khẩu của nền kinh tế năm tiếp theo. Tuy nhiên, vẫn có những tính toán theo giá trị đã thực hiện trong năm, như một tham khảo. Theo đó, với kim ngạch nhập khẩu hàng hoá năm 2016 ở mức 173,3 tỷ USD, dự trữ ngoại hối của Việt Nam đã gần đạt được yêu cầu 12 tuần nhập khẩu.

Đã đạt kỷ lục khoảng 41 tỷ USD, nhưng cuộc rượt đuổi yêu cầu tối thiểu tương ứng khoảng 12 tuần nhập khẩu của nền kinh tế vẫn còn đó. Song, cuộc rượt đuổi này cho thấy, quy mô của nền kinh tế, trong tham chiếu ở đây là kim ngạch nhập khẩu, cũng đã mở rộng rất lớn và nhanh hơn trong chục năm qua.

“Chính phủ, doanh nghiệp cùng liêm chính”

Chính phủ nỗ lực xây dựng Chính phủ liêm chính, nhưng cũng đòi hỏi doanh nghiệp đi bằng chính đôi chân của mình, theo Phó thủ tướng Vương Đình Huệ…

Phó thủ tướng Chính phủ Vương Đình Huệ.

2016 là một năm đặc biệt với cộng đồng doanh nghiệp Việt Nam, với nguồn cảm hứng từ hàng loạt thông điệp, chính sách và hành động mạnh mẽ nhất từ trước đến nay của Chính phủ. 
“Khi nỗ lực để xây dựng một Chính phủ liêm chính và tạo điều kiện tối đa cho sự phát triển của doanh nghiệp, Chính phủ cũng đòi hỏi các doanh nghiệp phải nỗ lực xây dựng văn hóa doanh nghiệp và đạo đức kinh doanh liêm chính, đi bằng chính đôi chân của mình”, Phó thủ tướng Chính phủ Vương Đình Huệ chia sẻ trước thềm xuân mới. 
“Cởi trói” tối đa
Một điểm sáng nổi bật của kinh tế Việt Nam năm 2016 là sự phát triển bùng nổ về số lượng doanh nghiệp. Theo ông, điều gì tạo ra sự bùng nổ này?
Văn kiện Đại hội Đảng 12 lần đầu tiên chính thức xác định khu vực kinh tế tư nhân đóng vai trò là một trong những động lực quan trọng của nền kinh tế Việt Nam. Quan điểm phát triển kinh tế tư nhân của Đảng bao hàm trong đó có cả việc tiếp tục khẳng định quan điểm của các kỳ Đại hội trước. 
Đồng thời, có những nội dung phát triển mới đáp ứng yêu cầu thực tiễn của sự nghiệp cách mạng, tạo những đột phá mới về môi trường đầu tư kinh doanh và điều kiện thuận lợi cho phát triển khu vực này tương xứng với vị trí, vai trò của kinh tế tư nhân trong bối cảnh tinh thần “quốc gia khởi nghiệp” và sự hội nhập quốc tế của Việt Nam đang diễn ra sâu rộng.
Quốc hội cũng đã thông qua hàng loạt luật như Luật Đầu tư (sửa đổi), Luật Doanh nghiệp (sửa đổi), Luật Đất đai (sửa đổi)… và những dự luật này bắt đầu tạo ra hiệu ứng tích cực cho sự phát triển của doanh nghiệp.
Về phía Chính phủ, đó là sự vào cuộc mạnh mẽ của Chính phủ để vực dậy khu vực kinh tế này. Chính phủ xác định rất rõ quan điểm trong chỉ đạo, điều hành là phải quyết tâm ngay từ đầu mới có thể đạt được kế hoạch tăng trưởng kinh tế 5 năm theo Nghị quyết Đại hội Đảng 12. Muốn vậy, một trong những giải pháp trọng tâm của Chính phủ là tạo mọi điều kiện cho doanh nghiệp phát triển.
Chúng ta cũng biết là ít ngày sau khi được Quốc hội bầu làm Thủ tướng Chính phủ vào trung tuần tháng 4/2016, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc đã triệu tập hội nghị doanh nghiệp, với sự tham gia của 4 phó thủ tướng, 17 bộ trưởng, trưởng ngành và đông đảo doanh nghiệp ở tất cả các thành phần kinh tế. 
Sau hội nghị này, lần đầu tiên Chính phủ ban hành một nghị quyết riêng cho doanh nghiệp là Nghị quyết 35, tập trung thực hiện 5 nhóm nhiệm vụ mang tính đột phá về cải cách thủ tục hành chính, bảo đảm quyền kinh doanh, tiếp cận nguồn lực và cơ hội kinh doanh… 
Đồng thời với Nghị quyết 35, Chính phủ tiếp tục bổ sung lần thứ hai nội dung Nghị quyết 19 về cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia.
Cùng với Chính phủ, 63/63 địa phương của cả nước đều tuyên bố cam kết tạo lập môi trường kinh doanh thuận lợi cho doanh nghiệp. Đặc biệt, một số địa phương điển hình như Tp.HCM, Hà Nội, Đà Nẵng, Đồng Tháp… tạo được sự chuyển biến rất tích cực tới sự phát triển của doanh nghiệp trên địa bàn.
Chuyển động đồng tốc
Chính phủ quyết tâm làm trong sạch môi trường kinh doanh, nhưng quyết tâm này không thể từ một phía bởi có không ít doanh nghiệp sẵn sàng “đi đêm” để đổi lại là quyền lực, là lợi ích nhóm làm méo mó môi trường này, thưa ông?
Đúng là như vậy. 
Tôi cũng đã phải nghe rất nhiều ý kiến từ chính doanh nghiệp than phiền về tình trạng một bộ phận doanh nghiệp thay vì làm ăn chân chính lại chạy theo quan hệ thân hữu để mưu cầu lợi ích, không chỉ làm môi trường kinh doanh kém trong sạch mà còn làm nản lòng những doanh nghiệp làm ăn chân chính. 
Vì vậy, khi nỗ lực để xây dựng một Chính phủ liêm chính và tạo điều kiện tối đa cho sự phát triển của doanh nghiệp, Chính phủ cũng đòi hỏi các doanh nghiệp phải nỗ lực xây dựng văn hóa doanh nghiệp và đạo đức kinh doanh liêm chính, đi bằng chính đôi chân của mình.
Không chỉ các doanh nghiệp mà các bộ, ngành, địa phương cũng phải gắng sức chuyển động đồng tốc cùng Chính phủ?
Những quan điểm và giải pháp quyết liệt của Chính phủ trong các nghị quyết 19 và 35 có thể ảnh hưởng tới quyền lợi và lợi ích cục bộ của các bộ, ngành, địa phương và các đơn vị có liên quan, nên nguy cơ bị trì hoãn hoặc thực hiện không nhất quán, không quyết liệt, không thực chất là rất lớn, làm chậm quá trình đổi mới mô hình tăng trưởng và cơ cấu lại nền kinh tế nói chung.
Lãnh đạo các ngành, các cấp cần vượt qua được chính mình, vượt qua được tư duy nhiệm kỳ, vượt qua tư duy ngại khó, ngại khổ. 
Phải biến khó khăn thành cơ hội để đạt mục tiêu cao hơn, vượt qua lợi ích cục bộ để hướng tới liên kết chặt chẽ giữa các ngành, vùng hiệu quả hơn, tránh bị cát cứ, chia cắt.
Để tiếp tục thống nhất nhận thức và hành động trong toàn xã hội, Chính phủ sẽ chỉ đạo Bộ Tư pháp chủ trì, phối hợp với các bộ, ngành xây dựng và trình Quốc hội tại kỳ họp thứ 3 tới danh mục các luật, pháp lệnh cần ban hành hoặc bổ sung sửa đổi để hỗ trợ thực hiện các nhiệm vụ trọng tâm của cơ cấu lại nền kinh tế, đổi mới mô hình tăng trưởng.
Xử lý thua lỗ
Một điểm nhấn nữa rất đáng chú ý, là 2016 cũng là năm Chính phủ thể hiện thái độ cứng rắn nhất từ trước đến nay trong xử lý các doanh nghiệp Nhà nước làm ăn thua lỗ… Thông điệp từ động thái này là gì, thưa ông?
Chính phủ quyết tâm xử lý dứt điểm các tồn tại trong doanh nghiệp Nhà nước để việc tái cơ cấu doanh nghiệp Nhà nước giai đoạn 2016-2020 đạt được hiệu quả thực chất. Đổi mới, sắp xếp doanh nghiệp Nhà nước phải được thực hiện theo nguyên tắc thị trường, bình đẳng với các loại hình doanh nghiệp khác.
Hiện, Thủ tướng đã quyết định thành lập ban chỉ đạo của Chính phủ giúp Chính phủ, Thủ tướng xử lý những yếu kém của một số nhà máy, dự án thua lỗ thuộc ngành công thương. Tinh thần xử lý các dự án, nhà máy này là phải rất quyết liệt, khẩn trương, đồng bộ, đồng lòng, hợp sức, bảo đảm tới hết năm 2017 phải có chuyển biến căn bản về kết quả xử lý, phấn đấu tới hết năm 2018 cơ bản xử lý xong các dự án, doanh nghiệp này.
Nghị quyết 05 của Hội nghị Trung ương 4 khóa 12 về một số chủ trương, chính sách lớn nhằm tiếp tục đổi mới mô hình tăng trưởng, nâng cao chất lượng tăng trưởng, năng suất lao động và sức cạnh tranh của nền kinh tế cũng đã nêu rất rõ: “Kiên quyết xử lý các doanh nghiệp nhà nước thua lỗ, các dự án đầu tư của doanh nghiệp nhà nước không hiệu quả hoặc hiệu quả thấp theo nguyên tắc và cơ chế thị trường”. 
Còn để chậm trễ trong xử lý là còn chưa thực thi tốt trách nhiệm với việc sử dụng hiệu quả tiền thuế của nhân dân, sự phát triển của đất nước. 
Cùng “nằm gai nếm mật”
Năm 2017 dự báo thiên tai sẽ vẫn diễn biến phức tạp, thêm vào đó nguồn vốn ngân sách ngày càng hạn chế, tình hình quốc tế khó lường…, Chính phủ sẽ làm thế nào để dẫn dắt nền kinh tế đạt được các chỉ tiêu quan trọng cũng như duy trì được sức phát triển của cộng đồng doanh nghiệp, thưa ông?
Tôi có niềm tin rằng, khi Chính phủ và các địa phương nỗ lực tạo mọi điều kiện cho doanh nghiệp, coi sự phát triển của doanh nghiệp là sự phát triển của nền kinh tế, thì thách thức nào cũng có thể vượt qua.
Như trong năm 2016, tại một số tỉnh miền Tây Nam Bộ phải chịu những tháng ngày khốc liệt vì hạn hán và xâm nhập mặn sâu, nhưng kinh tế ở các địa phương này vẫn phát triển sôi động với liên tục các nhà máy được khởi công, đi vào hoạt động và có hiệu quả khi lãnh đạo các địa phương đều xác định trách nhiệm của mình là phải “nằm gai nếm mật” cùng doanh nghiệp. 
Chỉ đạo, nghị quyết của Chính phủ dù hay đến đâu cũng chỉ là trên giấy, nếu lãnh đạo địa phương không tích cực vào cuộc.
Năm 2017, các cấp, ngành phải thực hiện quyết liệt các Nghị quyết số 19 và 35 ngay từ những ngày đầu năm mới. Người đứng đầu các bộ, ngành, địa phương phải nhận thức đầy đủ, sâu sắc tinh thần các Nghị quyết 19 và 35 của Chính phủ, quán triệt đến cấp quận, huyện, phường, xã, chỉ đạo thực hiện một cách chủ động, quyết liệt và hiệu quả.
Lực cản là từ nhận thức
Vẫn câu chuyện thiên tai, đây cũng đang là mối đe dọa lớn chưa từng có trong nhiều năm qua. Vì thế, đã có nhiều chuyên gia cho rằng nhiệm kỳ này, GDP rồi cũng sẽ tiếp tục hụt đích như nhiệm kỳ trước. Xin cho biết ý kiến của ông?
Như tôi vừa nói, Chính phủ luôn có một quyết tâm là đạt mục tiêu tăng trưởng 5 năm theo mục tiêu đã đề ra dù dư địa giúp chúng ta đạt được mục tiêu này là rất ngặt nghèo. 
Với bản lĩnh mới, cách làm mới, tư duy mới, Chính phủ chắc chắn sẽ vững vàng vượt qua thách thức, củng cố được niềm tin cho người dân về một thời kỳ phát triển mới của đất nước. 
Gần hai thập kỷ trước, vào thời kỳ những năm 1997-1998, Việt Nam cũng trải qua đợt El Nino mạnh kỷ lục gây ra hạn hán nghiêm trọng. Thời kỳ 1997-1998 còn là thời kỳ khủng hoảng kinh tế bao trùm châu Á và cả Việt Nam. 
Trong bối cảnh phải chịu thách thức kép như vậy, GDP cả giai đoạn 1996-2000 vẫn đạt được mức tăng bình quân 7,6%/năm. Vì vậy, những thách thức đến từ thiên tai hiện nay, không phải là lực cản quá lớn đối với đất nước.
Vậy đâu mới thực sự là lực cản, thưa ông?
Khi chúng ta theo đuổi mục tiêu phát triển nhanh, bền vững của đất nước, thì lực cản chính là từ nhận thức của chúng ta đối với việc vận dụng thành công thể chế kinh tế thị trường vào nền kinh tế đất nước. 
Đổi mới mô hình tăng trưởng, cơ cấu lại nền kinh tế ở 5 lĩnh vực trọng tâm (cơ cấu lại khối doanh nghiệp mà trọng tâm là doanh nghiệp nhà nước, cơ cấu lại các tổ chức tín dụng mà trọng tâm là các ngân hàng thương mại, cơ cấu lại đầu tư mà trọng tâm là đầu tư công, cơ cấu lại thu chi ngân sách gắn với đảm bảo bền vững nợ công và cơ cấu lại đơn vị sự nghiệp công lập – PV) là quá trình phức tạp, đầy khó khăn nhưng cấp bách và phải được triển khai quyết liệt.
Từ các kịch bản tái cơ cấu nền kinh tế cho thấy, chỉ có thực hiện quyết liệt mới đảm bảo việc thực hiện thành công các mục tiêu phát triển kinh tế xã hội 2016-2020 như đã đề ra.