Động lực cải cách kinh tế

Gia nhập WTO đã để lại những dấu ấn đáng ghi nhận và qua đó có thể rút ra những bài học quan trọng…

Việt Nam đã trở thành nước xuất khẩu nông sản hàng đầu về gạo, cà phê, cao su, thủy sản… song chủ yếu vẫn là sản phẩm có giá trị và chất lượng thấp – Ảnh minh họa.

Ngày 1/1/2007 Việt Nam chính thức trở thành thành viên của WTO. Sự kiện này mở ra cơ hội mới, tạo động lực quan trọng trong tiến trình hội nhập của Việt Nam vào nền kinh tế toàn cầu song cũng đặt nhiều thách thức cần phải vượt qua.

Gia nhập WTO, mở rộng hội nhập quốc tế đã tác động mạnh đến mọi hoạt động kinh tế. Thương mại và đầu tư tăng nhanh đã thúc đẩy sản xuất, gia tăng sản lượng và nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn lực. Nhờ rào cản chu chuyển vốn được dỡ bỏ, dòng vốn trong, ngoài nước đã hướng mạnh vào những ngành kinh doanh hiệu quả. Việc mở rộng sản xuất, gia tăng sản lượng đầu ra đã tạo lợi thế thúc đẩy cải cách kinh tế.

Sức ép cạnh tranh khi vào WTO buộc Việt Nam phải đổi mới và cải cách mạnh mẽ hơn trong cải thiện môi trường kinh doanh để thu hút thêm vốn đầu tư, nhất là FDI. Mặc dù kinh tế toàn cầu thiếu ổn định, song kinh tế đất nước vẫn duy trì được mức tăng trưởng cao.

Với tổng sản phẩm quốc nội từ 71 tỷ USD (2007) tăng lên 130 tỷ USD vào năm 2012 (cao gấp 1,83 lần) và thu nhập bình quân đầu người tăng 1,74 lần trong cùng thời gian. Nền kinh tế đã thể hiện động thái phát triển tích cực trong hội nhập với độ mở được duy trì từ 157% (2007) đến 175,8% trong năm 2012.

Khi gia nhập WTO, Việt Nam phải tuân thủ phần lớn cam kết quốc tế. Cắt giảm bảo hộ thúc đẩy cải thiện đầu vào nhập khẩu với chi phí thấp, hàng hóa và dịch vụ không phù hợp với lợi thế cạnh tranh có thể phải giảm hoặc chấm dứt sản xuất. Việt Nam đã trở thành nước xuất khẩu nông sản hàng đầu về gạo, cà phê, cao su, thủy sản… song chủ yếu vẫn là sản phẩm có giá trị và chất lượng thấp.

Trong cạnh tranh xuất khẩu, mặt hàng chủ lực thường sản xuất ở khâu thấp nhất trong chuỗi giá trị phân công lao động quốc tế. Sản phẩm may mặc, điện tử hầu hết là hàng gia công dựa vào mẫu mã, nguyên liệu và công nghệ nước ngoài với mức độ đa dạng hóa thị trường thấp.

Đáng lo ngại là hàng xuất khẩu chủ yếu ở dạng sơ chế, lắp ráp hoặc gia công, có giá trị gia tăng không đáng kể. Đặc biệt cắt giảm thuế nhập khẩu nông sản, đã làm cạnh tranh bất lợi ngày càng gay gắt hơn cho sản xuất trong nước trước sản phẩm nhập khẩu từ bên ngoài.

Giới phân tích cho rằng, yếu tố làm giảm hoặc gây trở ngại nâng cao năng lực cạnh tranh bắt nguồn từ chiến lược kinh doanh. Mô hình kinh tế và chiến lược phát triển dựa trên tài nguyên lao động giá rẻ và gia công xuất khẩu đang ngày càng mất đi lợi thế. Mô hình hiện hành nếu tiếp tục duy trì sẽ trở thành lực cản khi rào cản thương mại và bảo hộ được gỡ bỏ hoàn toàn.

Hạn chế về cơ sở hạ tầng, thiếu vắng công nghiệp hỗ trợ và lao động có chuyên môn kỹ thuật, thiếu vốn và công nghệ đang làm doanh nghiệp giảm sức cạnh tranh dẫn đến giảm doanh thu, giảm lợi nhuận và rất khó mở rộng thị trường.

Sau 6 năm gia nhập WTO, nhận diện đúng thực trạng để có giải pháp vĩ mô phù hợp trong thực thi cam kết là vấn đề thu hút được sự quan tâm của mọi tầng lớp xã hội. Theo đó, cơ chế giải quyết tranh chấp chống bán phá giá ở nước ngoài, là hình thức bảo hộ được ngụy trang, đã trở thành nội dung nổi bật.

Thông thường thuế suất mặt hàng nhập khẩu được coi là giải pháp bảo hộ danh nghĩa (Nominal Rate of Protection – NRP) cho sản phẩm sản xuất trong nước. Đó là căn cứ lựa chọn mức thuế nhập khẩu nhằm bảo hộ hữu hiệu cho những ngành hàng trong nước có sức cạnh tranh và lan tỏa. Hệ số bảo hộ hữu hiệu (Efective Rate of Protection – ERP) thông qua thuế nhập khẩu, phụ thuộc vào khả năng bảo hộ của ngành kinh tế, giá trị gia tăng trong nước và giá trị tăng thêm của ngành kinh tế đó ở nước ngoài.

Phân tích hiện trạng thực thi cam kết gia nhập WTO giai đoạn từ 2005 đến 2011 trong ngành nông lâm – thủy sản cho thấy, hệ số bảo hộ hữu hiệu ERP trước ngày gia nhập WTO (2005-2007) có xu hướng tăng dần (tiệm cận với bảo hộ danh nghĩa NRP); ngược lại, sau khi gia nhập WTO lại giảm khá nhanh.

Giống như khu vực I (nông nghiệp), tình trạng ở khu vực II (công nghiệp-xây dựng) cũng diễn ra tương tự; từ năm 2007 trở đi, ERP có xu thế thấp đi nhiều so với NRP. Trong nền kinh tế với đóng góp của khu vực II vào GDP chiếm tới 42%, ERP của sản phẩm trong khu vực I ngày càng suy giảm, dẫn đến hiệu quả của khu vực II cũng giảm sút theo.

Thực trạng kinh tế còn cho thấy, sản xuất trong khu vực II thiên về gia công, nhóm ngành chế biến sản phẩm nông nghiệp chưa tận dụng tốt sản phẩm đầu vào trong nước. Nhập khẩu nguyên, nhiên vật liệu gia tăng với rất nhiều lĩnh vực có ERP <0, kích thích nhập khẩu cao >1 và hệ số bảo hộ hữu hiệu ở mức độ âm. Nặng về nhập khẩu nguyên liệu thô từ nước ngoài được cho là nguyên nhân chính khiến tình trạng nhập siêu của nền kinh tế luôn ở mức độ cao.

Trong nghiên cứu lan toả kinh tế và kích thích nhập khẩu trong một số ngành công nghiệp như trang phục, da, lông thú, các sản phẩm chiết xuất từ dầu mỏ khí đốt, hóa chất cơ bản, sản phẩm plastic và cao su tổng hợp… có chỉ số lan tỏa kinh tế <1, kích thích nhập khẩu cao >1.

Nếu tập trung vào phát triển những ngành công nghiệp này, thì không thể tạo được động lực lan tỏa; thậm chí càng phát triển lại càng phải gia tăng nhập khẩu. Ngược với những nhóm hàng nêu trên, những ngành hàng nông sản chế biến từ thịt, thủy sản, rau quả, gia vị, nước chấm, thực phẩm, bánh kẹo… có chỉ số lan tỏa kinh tế từ 1,01 đến 2,03, chỉ số kích thích nhập khẩu<1 và hệ số bảo hộ hữu hiệu ERP cao gấp từ 1,6 đến 6,7 lần bảo hộ danh nghĩa NRP, là những nhóm ngành cần được quan tâm nhằm khắc phục tình trạng không bảo hộ sản xuất trong nước và mất đi lợi thế cạnh tranh.

Bức tranh bảo hộ thực tế trong lộ trình thực hiện cam kết WTO của Việt Nam cho thấy, xu hướng bảo hộ một số ít ngành mà khả năng cạnh tranh yếu; trong khi thiếu bảo hộ những sản phẩm nông sản chưa qua chế biến và một số ngành hàng xuất khẩu đã dẫn đến phân phối thu nhập không tương xứng với công sức của các nhóm ngành sản xuất và lưu thông sản phẩm.

Gia nhập WTO đã để lại những dấu ấn đáng ghi nhận và qua đó có thể rút ra những bài học quan trọng. Những gì diễn ra trong thực thi cam kết WTO chưa đạt hiệu quả mong muốn là vấn đề cần được quan tâm trong xây dựng và hoạch định chính sách trong thời gian tới.

(Nguồn: Thời báo Kinh tế Việt Nam)

Samsung sẽ tăng vốn lên 2,5 tỷ USD tại dự án Bắc Ninh?

“Cuộc chơi tỷ đô” của Samsung tại Việt Nam vẫn chưa có dấu hiệu dừng lại…

Tổ hợp của Samsung tại Bắc Ninh hiện đang trong giai đoạn “ăn nên làm ra” khi đạt con số hơn 100 triệu sản phẩm trong năm 2012 với doanh số xuất khẩu 12,7 tỷ USD.

Tập đoàn Samsung có thể tiếp tục tăng vốn đầu tư thêm 1 tỷ USD tại dự án Tổ hợp Samsung Bắc Ninh, sau khi vừa khởi công xây dựng dự án tổ hợp Samsung tại Thái Nguyên hồi cuối tháng 3/2013.

Một nguồn tin của VnEconomy cho hay, hôm 23/4 vừa qua, Ban quản lý các khu công nghiệp Bắc Ninh đã có tờ trình gửi UBND tỉnh Bắc Ninh về việc “ưu đãi đầu tư đối với khoản đầu tư bổ sung 1 tỷ USD của Công ty TNHH Samsung Electronics Việt Nam”.

Ngay sau khi nhận được tờ trình này, UBND tỉnh Bắc Ninh cũng đã có văn bản chỉ đạo Sở Kế hoạch và Đầu tư, Sở Tài chính, Ban quản lý các Khu công nghiệp, Cục thuế Bắc Ninh và các cơ quan liên quan xem xét tờ trình nói trên.

“Giao Sở Kế hoạch và Đầu tư chủ trì phối hợp với Sở Tài chính, Cục thuế Bắc Ninh, Ban quản lý các Khu công nghiệp và các cơ quan, đơn vị có liên quan, trên cơ sở các chính sách, chế độ hiện hành của nhà nước tham mưu, đề xuất cụ thể việc ưu đãi về mức thuế xuất thu nhập doanh nghiệp và thời gian áp dụng của Công ty TNHH Samsung Electronics Việt Nam đối với khoản đầu tư bổ sung 1 tỷ USD”, văn bản của UBND tỉnh Bắc Ninh viết.

Văn bản này cũng yêu cầu các cơ quan nói trên phải “báo cáo Chủ tịch UBND tỉnh trước ngày 2/5/2013 để kịp thời báo cáo Thủ tướng Chính phủ xem xét quyết định”.

Trước đó, vào cuối năm 2012, Samsung đã chính thức tăng vốn đầu tư tại dự án Tổ hợp Samsung Bắc Ninh, từ mức 670 triệu USD trong giai đoạn I lên 1,5 tỷ USD, tức là tăng thêm 830 triệu USD.

Tổ hợp của Samsung tại Bắc Ninh hiện đang trong giai đoạn “ăn nên làm ra” khi đạt con số hơn 100 triệu sản phẩm trong năm 2012 với doanh số xuất khẩu 12,7 tỷ USD. Quý 1/2013, tổ hợp này cũng đã mang lại doanh số xuất khẩu 5,2 tỷ USD.

Chi hơn 28 nghìn tỷ đồng trả nợ và viện trợ

Từ đầu năm đến 15/4/2013, ngân sách Nhà nước đã chi 28,2 nghìn tỷ đồng để trả nợ và viện trợ…

Tổng thu ngân sách Nhà nước từ đầu năm đến 15/4/2013 ước tính đạt 201,4 nghìn tỷ đồng, bằng 24,7% dự toán năm – Ảnh minh họa.

Theo số liệu của Tổng cục Thống kê, bội chi ngân sách Nhà nước đến 15/4/2013 là 56,6 nghìn tỷ đồng.

Cụ thể, tổng thu ngân sách Nhà nước từ đầu năm đến 15/4/2013 ước tính đạt 201,4 nghìn tỷ đồng, bằng 24,7% dự toán năm. Trong đó thu nội địa 133,9 nghìn tỷ đồng, bằng 24,5%; thu từ dầu thô 34,6 nghìn tỷ đồng, bằng 35%; thu cân đối ngân sách từ hoạt động xuất, nhập khẩu 32 nghìn tỷ đồng, bằng 19,2%.

Trong thu nội địa, thu từ khu vực doanh nghiệp Nhà nước đạt 40,1 nghìn tỷ đồng; thu từ doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (không kể dầu thô) đạt 31,3 nghìn tỷ đồng; thu thuế công, thương nghiệp và dịch vụ ngoài Nhà nước đạt 28,8 nghìn tỷ đồng; thu thuế thu nhập cá nhân đạt 15,5 nghìn tỷ đồng; thu thuế bảo vệ môi trường đạt 3,4 nghìn tỷ đồng; thu phí, lệ phí đạt 2,7 nghìn tỷ đồng.

Trong khi đó, tổng chi ngân sách Nhà nước từ đầu năm đến 15/4/2013 ước tính đạt 258 nghìn tỷ đồng, bằng 26,4% dự toán năm.

Trong đó, chi đầu tư phát triển đạt 47,7 nghìn tỷ đồng (riêng chi đầu tư xây dựng cơ bản là 46,5 nghìn tỷ đồng); chi phát triển sự nghiệp kinh tế-xã hội, quốc phòng, an ninh, quản lý Nhà nước, Đảng, đoàn thể (bao gồm cả chi cải cách tiền lương) ước tính đạt 182,1 nghìn tỷ đồng; chi trả nợ và viện trợ đạt 28,2 nghìn tỷ đồng.

Chỉ số sản xuất công nghiệp tăng 5%, tồn kho ở mức cao

4 tháng đầu năm 2013, chỉ số sản xuất công nghiệp tăng 5% so với cùng kỳ năm trước…

So với cùng kỳ năm trước, chỉ số sử dụng lao động tháng 4/2013 tăng 0,1%, trong đó khu vực doanh nghiệp nhà nước tăng 0,4%; khu vực doanh nghiệp ngoài nhà nước giảm 3,8%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài tăng 2,5%.

Theo số liệu của Tổng cục Thống kê, chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp tháng 4 đã tăng 5,8% so với cùng kỳ năm trước.

Tính chung bốn tháng đầu năm 2013, chỉ số sản xuất công nghiệp tăng 5% so với cùng kỳ năm trước – thấp hơn mức tăng 5,9% của cùng kỳ năm 2012. Trong đó ngành công nghiệp khai khoáng tăng 2,1%; công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 5,5%; sản xuất và phân phối điện tăng 9%; cung cấp nước, xử lý nước thải, rác thải tăng 8,8%.

Trong 5% mức tăng chung của bốn tháng, ngành khai thác đóng góp 0,4 điểm phần trăm; ngành chế biến, chế tạo đóng góp 3,9 điểm phần trăm; sản xuất và phân phối điện đóng góp 0,6 điểm phần trăm và ngành cung cấp nước, xử lý nước thải, rác thải đóng góp 0,1 điểm phần trăm.

Trong 4 tháng, chỉ số sản xuất công nghiệp tại Tp.HCM tăng 3,9% so với cùng kỳ năm trước; Đồng Nai tăng 7%; Bình Dương tăng 8,6%; Hà Nội tăng 4,7%; Hải Phòng tăng 2,5%; Bắc Ninh tăng 7,6%; Vĩnh Phúc tăng 15,1%; Cần Thơ tăng 5,8%; Hải Dương tăng 7,7%; Đà Nẵng tăng 10,7%.

Trong khi đó, cũng theo số liệu của Tổng cục Thống kê, chỉ số tiêu thụ toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo ba tháng đầu năm 2013 tăng 4% so với cùng kỳ năm trước.

Chỉ số tồn kho tại thời điểm 1/4/2013 của ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 13,1% so với cùng thời điểm năm trước.

Một số ngành có chỉ số tồn kho tăng cao gồm: sản xuất đồ uống tăng 41,5%, sản xuất xe có động cơ tăng 35,2%, sản xuất hóa chất và sản phẩm hóa chất tăng 26,6%, sản xuất thiết bị điện tăng 22,1%, sản xuất thuốc, hóa dược và dược liệu tăng 17,9%.

Một số ngành có chỉ số tồn kho tăng thấp hoặc giảm là dệt tăng 8,8%, sản xuất chế biến thực phẩm tăng 1%, sản xuất giấy và sản phẩm từ giấy giảm 1,9%, sản xuất sản phẩm thuốc lá giảm 3,9%, sản xuất da giảm 12,5%, sản xuất sản phẩm điện tử, máy vi tính và quang học giảm 60%.

Số liệu của Tổng cục Thống kê cũng cho thấy, chỉ số sử dụng lao động trong tháng 4 của các doanh nghiệp công nghiệp tăng 0,92% so với tháng trước. So với cùng kỳ năm trước, chỉ số sử dụng lao động tháng 4/2013 tăng 0,1%, trong đó khu vực doanh nghiệp nhà nước tăng 0,4%; khu vực doanh nghiệp ngoài nhà nước giảm 3,8%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài tăng 2,5%.

Bước chân Huawei tại Việt Nam

Với chính sách giá rẻ, Huawei loại hết những đối thủ sừng sỏ tại Việt Nam…

Huawei chủ động hạ giá để cạnh tranh.

Sau một năm 2012 kinh doanh nổi bật, Huawei đã trở thành nhà sản xuất thiết bị viễn thông lớn nhất thế giới, vượt qua Ericsson về doanh thu. Tại thị trường Việt Nam, với chính sách giá rẻ, nhà sản xuất này nhanh chóng loại hết những đối thủ sừng sỏ trong thời gian ngắn.

Tại Việt Nam, Huawei Device là nhà cung cấp thiết bị viễn thông chính cho các đối tác như Viettel, Vinaphone, Vietnamobile, MobiFone, SFone và G-Tel.

Lập đáy về giá

Trước khi Huawei tấn công mạnh vào thị trường Việt Nam, hệ thống tổng đài, mạng lõi, trạm thu phát sóng của các mạng lớn như MobiFone, Vinaphone… đều thuộc về các nhà cung cấp châu Âu và Mỹ như Ericsson, Alcatel, Nokia-Siemens, Orange-France Telecom, Motorola.

Vào sau, chiến lược của Huawei đơn giản chỉ về giá, trong trận chiến cung cấp thiết bị cho các nhà mạng, Huawei đã khiến cho giá bán trạm BTS giảm tới hơn 50% so với mức thấp nhất trước đó và giảm tới gần 10 lần so với mức cao nhất, tạo ra mức giá rẻ chưa từng có. Đại diện một nhà mạng lớn, giấu tên cho biết: “Giá bỏ thầu của họ cạnh tranh nhất, các nhà cung cấp khác không đấu lại được. Với cơ chế đấu thầu của mình, không chọn họ không được, vì nếu thanh tra sờ đến chúng tôi không biết giải trình ra sao khi giá của họ rẻ nhất”.

Cho dù các nhà mạng lớn cho rằng chỉ có khoảng 40-50% thiết bị của họ là do Huawei cung cấp, nhưng theo một chuyên gia về viễn thông thì con số này ít ra cũng vào khoảng 70-80%.

Không những tấn công vào hệ thống thiết bị hạ tầng viễn thông, Huawei còn bành trướng sang khu vực sản xuất thiết bị như điện thoại giá rẻ, USB 3G cho các nhà mạng. Tại Việt Nam, Huawei cũng đang tấn công mạnh vào thị trường smartphone.

Ông Bùi Văn Hòa, Phó tổng giám đốc Viễn Thông A cho biết, Huawei đang thể hiện tham vọng lớn và họ cũng đang dần thu hút được khách hàng.

Huawei đã công bố kết quả tài chính năm 2012 với doanh số bán hàng hơn 35 tỉ USD, lợi nhuận ròng đạt gần 2,5 tỉ USD, tăng 8% so với năm 2011.

Dè chừng với hàng Trung Quốc

Kể từ khi Mỹ có báo cáo nhận định những trang thiết bị của Huawei cho cơ sở hạ tầng quan trọng của Mỹ có thể làm suy yếu những lợi ích an ninh quốc gia cốt lõi của Mỹ thì Huawei bắt đầu đối mặt với những khó khăn. Nhà sản xuất đến từ Trung Quốc bị nghi ngờ có mối quan hệ mật thiết với chính phủ Trung Quốc và có thể trở thành công cụ để “quan sát cả thế giới”.

Nhà mạng viễn thông Sprint Nextel (Mỹ) và SoftBank (Nhật) cho biết sẽ ngừng sử dụng các thiết bị của Huawei. Úc đã “cấm cửa” Huawei, Ấn Độ cũng e dè soi xét nhà sản xuất này.

Tại Việt Nam, các nhà mạng cũng đang dè chừng nhà sản xuất tới từ quốc gia hàng xóm này.

VNPT và Viettel là 2 đối tác lớn nhất của Huawei tại Việt Nam song Viettel đã chủ động giảm bớt sự phụ thuộc vào thiết bị của Huawei. Nhà mạng này tự sản xuất USB 3G. Các nhà mạng lớn cũng khẳng định, những chi tiết quan trọng như hệ thống chuyển mạch được dùng sản phẩm của các nước tiên tiến khác chứ không dùng của Huawei.

Trước những khó khăn mà Huawei gặp phải, cuối năm 2012, Huawei đã cử ông John Suffolk, Phó chủ tịch cao cấp kiêm Giám đốc Bảo mật toàn cầu Tập đoàn Huawei đến Việt Nam, tiếp xúc với Bộ thông tin Truyền thông và các doanh nghiệp. Ông này cho rằng Việt Nam là một trong những thị trường quan trọng và cho biết Huawei sẵn sàng làm việc với tất cả các khách hàng và đối tác. Huawei sẽ thành lập các trung tâm chứng thực an ninh cho từng vùng nếu cần.

Huawei sẽ cho phép kiểm tra sản phẩm của mình bởi những ai được chính quyền địa phương ủy quyền để đảm bảo bảo mật cho các sản phẩm và dịch vụ của Huawei. Huawei cũng đã thiết lập văn phòng an ninh mạng ở một số nước trên thế giới, bao gồm Mỹ, Anh, Ấn Độ và Pháp.

Tuy hãng đang có những động thái tích cực để hóa giải những mối nghi ngờ, nhưng việc liên tục có hacker từ Trung Quốc ăn cắp dữ liệu hoặc tấn công vào những hệ thống dữ liệu của chính phủ và các công ty khác vẫn khiến cho sự e ngại tăng cao.

Huawei đã loại bỏ hầu hết những đối thủ lớn từ các nước tiên tiến tại thị trường Việt Nam một cách nhanh chóng. Tuy nhiên để bành trướng như trước, hẳn nhà sản xuất này sẽ gặp không ít khó khăn trong thời gian tới, khi vấn đề an ninh ít nhiều vẫn ám ảnh khách hàng tại Việt Nam.

(Nguồn: Nhịp cầu Đầu tư)

K-pop rồi K-invest

Làn sóng đầu tư thứ ba của người Hàn đã và đang vào Việt Nam, với sự thay đổi lớn trong khẩu vị đầu tư…

Làn sóng đầu tư thứ ba của người Hàn đã và đang vào Việt Nam, với sự thay đổi lớn trong khẩu vị đầu tư.

Một ngày đầu tháng 3, những người thường đi qua đoạn đường Tôn Đức Thắng không khỏi ngạc nhiên khi khách sạn Legend vốn đã tồn tại gần 10 năm ở Tp.HCM đã có cái tên mới: Lotte Legend Hotel. Và với cái tên mới này, ngay cả với những người không am hiểu về thị trường bất động sản cũng dễ dàng nhận ra rằng, khách sạn này đã có sự thay đổi.

Thông tin chính thức về thương vụ này vẫn chưa được tiết lộ. Tuy nhiên, một nguồn tin giấu tên cho biết đến thời điểm này, Lotte Hotels & Resorts, thuộc Lotte Group của Hàn Quốc, đã sở hữu 70% cổ phần của Legend. Theo nguồn tin này, Lotte đã chi 70 tỉ won (khoảng 63 triệu USD, tương đương gần 1.300 tỉ đồng) cho việc mua lại 70% cổ phần khách sạn Legend.

Cách đó không xa, tòa cao ốc văn phòng vốn của Gemadept cũng đang được Tập đoàn CJ, một đại gia khác của Hàn Quốc, thương thảo mua lại, với mục đích biến nó thành một đại bản doanh của tập đoàn này tại Việt Nam.

Hai thương vụ trên, là một trong những thông tin về M&A nổi bật nhất kể từ đầu năm nay. Tuy nhiên những thương vụ mua lại đó chỉ là một phần trong làn sóng đầu tư mới của các doanh nghiệp đến từ xứ Kim Chi.

Ăn tiêu kiểu Hàn

Trở lại với Legend Hotel, không bàn đến vấn đề được và mất trong thương vụ này, chúng tôi chỉ muốn nói đến một khía cạnh khác mang tính chiến lược của người đi mua, Tập đoàn Lotte.

Việc mua lại Legend đánh dấu một bước mới trong chiến lược mở rộng kinh doanh tại Việt Nam: tham gia vào lĩnh vực du lịch, khách sạn. Khách sạn là 1 trong 5 lĩnh vực kinh doanh chủ lực của Lotte có tổng doanh thu khoảng 5 tỉ USD trong tổng doanh thu 39,5 tỉ USD của tập đoàn này.

Bên cạnh khách sạn Legend đã đi vào hoạt động, Lotte cũng đã mua một khách sạn cao cấp tại Đà Nẵng và đang xây dựng khách sạn 5 sao 65 tầng tại Hà Nội với tổng vốn đầu tư 400 triệu USD. Dự án này có tên là Lotte Center Hà Nội, nằm cạnh khách sạn Daewoo, góc phố Liễu Giai – Đào Tấn. Dự kiến Lotte Hotel Hà Nội sẽ đi vào hoạt động trong năm 2014.

Mới đây trong báo cáo phân tích về triển vọng M&A do Công ty Stoxplus công bố, Lotte cũng đang thực hiện nhiều thương vụ M&A khác. Cụ thể tập đoàn này đã tăng sở hữu từ 80% lên thành 100% vốn nước ngoài trong Công ty Trách nhiệm Hữu hạn Trung tâm Thương mại Lotte Việt Nam từ doanh nghiệp tư nhân sản xuất thương mại Minh Vân – đối tác Việt Nam để chuyển thành doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài tại Việt Nam.

Theo giấy chứng nhận đầu tư trước đây được cấp cho Lotte Mart vào tháng 10.2006, vốn điều lệ của doanh nghiệp này là 65 triệu USD. Trong đó, doanh nghiệp tư nhân sản xuất thương mại Minh Vân góp 13 triệu USD (khoảng 260 tỉ đồng) bằng tiền mặt, chiếm 20% vốn điều lệ. Lotte góp 52 triệu USD, chiếm 80% vốn điều lệ.

Liên doanh này từ khi đi vào hoạt động đến nay đã đưa vào khai thác hai trung tâm thương mại lớn tại Tp.HCM gồm LotteMart ở quận 7, và một trung tâm khác đặt tại tòa nhà The EverRich, ngay góc đường 3 tháng 2 – Lê Đại Hành, quận 11.

Bên cạnh việc chuyển đổi liên doanh trên thành 100% vốn nước ngoài, theo Sở Kế hoạch và Đầu tư Tp.HCM, Lotte cũng đã điều chỉnh tăng vốn điều lệ của Công ty Trách nhiệm Hữu hạn Trung tâm Thương mại Lotte Việt Nam từ 65 triệu USD lên thành 120 triệu USD. Việc điều chỉnh này của Lotte nhằm khai thác thêm các dự án do họ đầu tư ở Việt Nam sắp tới.

Và một trong những vụ M&A sau khi Lotte tăng vốn là mua lại dự án Trung tâm Thương mại Phan Thiết của Công ty Năm Bảy Bảy vào tháng 8.2012. Thương vụ này có mức giá theo Stoxplus là khoảng 4,5 triệu USD. Hiện khu đất này đang được Lotte đầu tư xây dựng thành Trung tâm Thương mại Lotte Phan Thiết. Dự án này cao 7 tầng và có tổng vốn đầu tư khoảng 30 triệu USD. Một khi Trung tâm này đi vào hoạt động sẽ nâng số siêu thị Lotter Mart của công ty này lên thêm con số thứ bảy.

Tuy nhiên con số trung tâm thương mại và những vụ M&A có thể còn được tăng lên khi nhà bán lẻ đến từ Hàn Quốc này đặt mục tiêu đến năm 2020 sẽ mở rộng 60 siêu thị tại Việt Nam thay vì chỉ 30 siêu thị, trung tâm thương mại như công bố ban đầu.

Một nhánh khác trong nhánh Lotte Shoping là Cinema cũng đang được phát triển rất nhanh song hành với trung tâm thương mại của họ. Hiện nay, Lotte Cinema Việt Nam đã có 7 cụm rạp chiếu phim hiện đại tại Tp.HCM (Lotte Cinema Diamond, Lotte Nam Cinema Nam Sài Gòn), Hà Nội (Lotte Cinema Landmark, Lotte Cinema Hà Đông), các địa phương khác (Lotte Cinema Nha Trang, Lotte Cinema Đà Nẵng, Lotte Cinema Đồng Nai) với hệ thống phòng chiếu phim cao cấp.

Làm ăn cùng Hàn

Nếu như thương vụ Lotte mua lại Legend được xem là chú ý nhất trong những tháng đầu năm 2013, thì năm 2011 một tập đoàn khác của Hàn Quốc là CJ cũng đã tạo dấu ấn bằng việc mua lại gần hết cổ phần của đối tác nước ngoài Envoy Media Partners (quần đảo Virgin) trong liên doanh Công ty Cổ phần Truyền thông Megastar với giá 73,6 triệu USD vào năm 2011 (chiếm gần 80% vốn trong liên doanh). 20% cổ phần còn lại thuộc về Công ty Văn hóa Phương Nam.

CJ là 1 trong 10 tập đoàn lớn nhất của Hàn Quốc có doanh số năm 2011 khoảng 34 tỉ USD. Tại Hàn Quốc, CJ kinh doanh 4 lĩnh vực cốt lõi: thực phẩm và dịch vụ ăn uống, dược phẩm, truyền thông giải trí và Home Shopping & Logistics.

Cuối năm 2012, CJ đã hợp tác với C.T Group của Việt Nam để xây dựng và khai thác hệ thống hậu cần gồm nhà xưởng và kho bãi tại tỉnh Bình Dương, Đà Nẵng và Bắc Ninh. Cụ thể hơn, C.T Land sẽ phát triển hạ tầng kho bãi, còn đối tác Hàn Quốc sẽ đầu tư phần kỹ thuật, công nghệ. Chỉ riêng dự án Khu Trung tâm Hậu cần Sóng Thần (Bình Dương), phần vốn đầu tư của CJ ước tính lên đến 20 triệu USD, còn của C.T Group khoảng 12 triệu USD.

Cũng trong thời điểm này, một thương hiệu trong lĩnh vực thực phẩm khác của CJ là CJ Freshway cũng đã vào thị trường Việt Nam bằng cách lập liên doanh với Công ty Cổ phần Đầu tư Phát triển Hoa Lâm, với số vốn ban đầu là 300.000 USD. Liên doanh này sẽ hợp tác đầu tư phát triển dịch vụ cung cấp thực phẩm và thức ăn dinh dưỡng chế biến chuyên nghiệp.

Mặc dù 4 lĩnh vực của CJ đều đã xuất hiện ở Việt Nam, nhưng có lẽ tham vọng của CJ sẽ không dừng lại ở đây. “Chúng tôi đang xem xét để đầu tư khoảng 3-4 dự án với vốn đầu tư tối thiểu là 500 triệu USD”, ông Guk Sang Kim, Trưởng đại diện CJ tại Việt Nam, cho biết.

Theo ông, CJ sẽ mở rộng, đẩy mạnh các mảng kinh doanh như thực phẩm và dịch vụ thực phẩm, thức ăn gia súc, vận tải, mua sắm tại nhà, giải trí. Ngoài ra họ cũng sẽ bắt đầu thực hiện các dự án mới như ngành thực phẩm chế biến, trung tâm thương mại.

Việc mở rộng này sẽ được CJ thực hiện tùy theo tình huống và ngành nghề. Tuy nhiên, M&A là cách có thể được sử dụng nhiều để rút ngắn thời gian. Theo ông Kim, đối tượng M&A của CJ là những doanh nghiệp nằm trong top 3 lĩnh vực ngành nghề đó hoặc những công ty đang gặp khó khăn mà CJ nhận thấy nếu sự tham gia của mình vào mà giúp tháo gỡ khó khăn, giúp công ty đó phát triển được. Với mục tiêu này, CJ sẽ đứng ra điều hành và vì vậy, họ muốn nắm cổ phần chi phối.

Theo CJ, hiện tại doanh thu của tất cả các Công ty CJ thành viên tại Việt Nam năm 2012 là 400 triệu USD. Và chiến lược của Ban lãnh đạo CJ là sẽ đưa Việt Nam trở thành 1 trong 3 thị trường nước ngoài lớn nhất của Tập đoàn (sau Hàn Quốc và Nhật). “Chúng tôi đang nỗ lực mở rộng đầu tư và mục tiêu đến năm 2020, doanh thu của CJ Việt Nam và CJ khu vực Đông Dương (Lào và Campuchia) là 5 tỉ USD”, ông Kim nói.

Hàn Quốc là một quốc gia có ngành bán lẻ rất phát triển, trong khi Việt Nam đang là thị trường bán lẻ rất tiềm năng. Do đó cũng dễ hiểu vì sao họ đến Việt Nam, trong đó có Lotte và mới đây là E-Mart. E-Mart là thương hiệu bán lẻ thuộc Tập đoàn Shinsegae và hiện nay là nhà bán lẻ lớn nhất tại Hàn Quốc.

Vào tháng 7.2011, Tập đoàn E-Mart ký hợp tác với Tập đoàn U&I để thành lập liên doanh bán lẻ tại Việt Nam. Theo kế hoạch, liên doanh E-Mart Việt Nam có vốn đầu tư ban đầu là 80 triệu USD, với 80% vốn góp từ phía đối tác Hàn Quốc và 20% còn lại là do U&I góp, sẽ khai trương siêu thị đầu tiên vào giữa năm 2013. Tập đoàn này đặt ra mục tiêu đạt 17 siêu thị tại Việt nam đến năm 2017.

Theo bà Ja Young Heo, Giám đốc Bán hàng của Tập đoàn E-Mart, Việt Nam chính là điểm đến lý tưởng của các doanh nghiệp Hàn Quốc trong đó có dịch vụ bán lẻ, logistics và đồ gia dụng. Chỉ riêng Tập đoàn E-Mart, để phục vụ chuỗi 135 siêu thị tại Hàn Quốc và 27 cửa hàng tại Trung Quốc năm 2012 chúng tôi đã nhập khẩu hơn 7,88 triệu USD sản phẩm hàng hóa từ Việt Nam. Trong khi đó, doanh thu bán hàng trực tuyến của E-Mart vào Việt Nam năm 2012 cũng lên tới 89 triệu USD.

Giải trí như Hàn

Có thể sẽ không khó để có thể biết được rằng vì sao những doanh nghiệp Hàn lại đầu tư mạnh trong giai đoạn này nếu nhìn vào tên tuổi của những tập đoàn này cũng như cách thức họ đầu tư.

Những công ty đầu tư trong giai đoạn này đều là những tập đoàn lớn có tiềm lực tài chính mạnh không chỉ tại Hàn Quốc mà cả trên thế giới. Đây là những doanh nghiệp luôn có tầm nhìn và đầu tư dài hạn.

Điển hình trong xu hướng đầu tư của Hàn Quốc thời gian này không thể không kể đến là Tập đoàn Samsung. Gọi là điển hình vì đây là tập đoàn đầu tư mạnh vào công nghệ, khác lĩnh vực với những cái tên kể trên và cũng là dự án đầu tư lớn nhất của Hàn Quốc từ trước đến nay.

Cụ thể, ngày 25/3, Tập đoàn Samsung đã tổ chức lễ khởi công khu nhà máy Samsung sản xuất các thiết bị di động, máy tính bảng… ở Khu Công nghiệp Yên Bình, Thái Nguyên với tổng vốn đầu tư 2 tỉ USD.

Định hướng nhà máy này theo lãnh đạo Tập đoàn là sẽ phát triển thành tổ hợp thứ hai của Samsung ở Việt Nam sau tổ hợp ở Bắc Ninh đang sản xuất với khoảng 30.000 công nhân, đã sản xuất hơn 100 triệu sản phẩm và xuất khẩu 12,7 tỉ USD năm 2012. Dự kiến số nhân lực Samsung sẽ tuyển dụng bước đầu tại tổ hợp Thái Nguyên là 10.000 công nhân.

Cụ thể, Samsung Thái Nguyên sẽ chuyên sản xuất điện thoại di động và máy ảnh kỹ thuật số, tương lai nhà máy này sẽ sản xuất khoảng 100 triệu chiếc điện thoại di động, 1,5 triệu máy ảnh kỹ thuật số/năm. Mục tiêu mà tập đoàn hướng đến cho cả hai nhà máy tại Việt Nam là 250 triệu sản phẩm/năm.

Đón sóng từ Hàn

Quay lại lịch sử, làn sóng đầu tiên bắt đầu từ năm 1995-2005, đây là thời điểm Mỹ bắt đầu mở cửa cấm vận với Việt Nam sau một thời gian. Cũng như nhiều nhà đầu tư khác trên thế giới, nhiều nhà đầu tư Hàn Quốc cũng đến thành lập cơ sở ban đầu tại Việt Nam cho các kế hoạch phát triển kế tiếp với mục tiêu sản xuất và tiêu thụ hàng hóa tại thị trường Việt Nam.

Lotte là một trong nhưng doanh nghiệp nước ngoài đầu tư vào Việt Nam khá sớm, từ năm 1996 bằng việc liên doanh với một đối tác Việt Nam là công ty Thiên Nhân thành lập Công ty Trách nhiệm Hữu hạn Lotte Việt Nam. Đây cũng là thời điểm mà Lotte đưa thương hiệu Lotetria, dòng cửa hàng thức ăn nhanh vào Việt Nam.

Trong khi đó, vào muộn hơn năm 1999, Tập đoàn CheilJedang, tên trước đây của CJ cũng thành lập Công ty Trách nhiệm Hữu hạn CJ Vina Agri chuyên sản xuất và kinh doanh cám gia súc, gia cầm và thủy sản tại Long An.

Làn sóng thứ hai bắt đầu từ năm 2006-2007 khi Việt Nam gia nhập WTO. Thời điểm này đầu tư của Hàn Quốc vào Việt Nam tăng rất mạnh và liên tục dẫn đầu về nguồn vốn FDI vào Việt Nam. Năm 2007 là 4,58 tỉ USD và năm 2006 là 2,7 tỉ USD. Phần lớn nguồn vốn này chủ tham gia vào các dự án đầu tư cơ sở hạ tầng ở Việt Nam và thị trường chứng khoán. Hàng loạt dự án lớn về xây dựng và bất động sản của Hàn Quốc như Posco, Doosan, Kumho, GS E&C… cũng bắt đầu vào Việt Nam từ thời điểm đó.

Có một sự khác biệt về làn sóng đầu tư thứ ba so với 2 làn sóng trên, đặc biệt là làn sóng thứ hai. Nếu như làn sóng thứ hai phần lớn tập trung vào tài chính và bất động sản, những lĩnh vực đầu tư ngắn hạn thì làn sóng thứ ba đã có một sự chuyển biến mạnh mẽ. Những lĩnh vực như giải trí, tiêu dùng, du lịch và công nghệ đã bắt đầu chiếm thế áp đảo.

Vì sao có sự thay đổi này? Ông Cao Thanh Hoàng, Tổng giám đốc Công ty Quản lý Quỹ Đầu tư KHM Capital (Hàn Quốc), cho rằng, mức sống của người dân Việt Nam đã cao hơn trước nhiều, tầng lớp trung lưu ở thành thị hiện nay cũng đã tăng lên. Do đó việc đầu tư vào những lĩnh vực này là một điều tất yếu.

Ông Hoàng cho biết thêm quỹ đầu tư của ông điều hành trước đây chuyên đầu tư vào bất động sản, nhưng hiện nay quỹ đã thay đổi chiến lược theo yêu cầu từ những nhà sáng lập. Hiện ông đang tìm cơ hội đầu tư ở những lĩnh vực như y tế, thực phẩm và tiêu dùng.

Ngoài sự khác biệt trên, ra còn có 2 đặc điểm rất đăc biệt trong làn sóng đầu tư thứ ba này của những doanh nghiệp Hàn Quốc. Đó là bên cạnh việc đầu tư kinh doanh đơn thuần, những lĩnh vực kinh doanh của họ đang tạo ra một trào lưu mới kiểu Hàn Quốc ở Việt Nam. Nhiều người tiêu dùng Việt Nam đã bắt đầu mua hàng qua tivi từ những chương trình Shopping Tivi của Lotte hay CJ. Hoặc có thể thưởng thức cảm giác giải trí trí kiểu Hàn Quốc tại những tổ hợp của những tập đoàn này.

Họ cũng góp phần truyền bá văn hóa Hàn Quốc bằng những sản phẩm từ ẩm thực nơi nhà hàng của họ hoặc qua âm nhạc hay điện ảnh. Điều này cũng có nghĩa việc kinh doanh của họ không chỉ mang lại lợi cho doanh nghiệp mà còn mang lại lợi ích cho quốc gia. “Chúng tôi gọi văn hóa kinh doanh này là kinh doanh báo quốc”, ông Guk Sang Kim nói.

Ví dụ như CJ, cũng như nhiều doanh nghiệp khác của Hàn Quốc, đã góp phần truyền bá và hóa của đất nước này ra thế giới bằng những sản phẩm đặc trưng. CJ E & M, một nhánh của CJ, đã góp phần đưa văn hóa pop thành “Làn sóng Hàn Quốc”, thông qua các chương trình truyền hình thành công như “Superstar K, K-pop. Hay như chương trình “M-net Asian Music Awards” đã được tổ chức tại Macau vào năm 2010 và tại Hồng Kông trong năm 2011, thu hút hơn 1 tỉ khán giả trên toàn thế giới.

Một điều thú vị nữa về làn sóng đầu tư thứ ba này của Hàn Quốc. Trong 4 tập đoàn nêu trên thì có 3 là có nguồn gốc từ một gia đình. Đó là Sam Sung, CJ và Shinsegae. Lãnh đạo của 3 tập đoàn này đều là con cháu ông Lee Byung-chull, người sáng lập ra tập đoàn Samsung. Shinsegae tách ra từ Samsung năm 1990 còn CJ tách năm 1993.

Tại Hàn Quốc Shinsegae, cụ thể là E-Mart, hiện đang cạnh tranh trực tiếp với Lotte Shopping trong lĩnh vực bán lẻ. Trong khi CJ và Lotte lại đấu nhau ở lĩnh vực giải trí. Do đó, trong tương lai không xa một cuộc chiến của những doanh nghiệp Hàn Quốc sẽ diễn ra ngay tại thị trường Việt Nam là điều không thể tránh khỏi.

(Nguồn: Nhịp cầu Đầu tư)

Cân nhắc lộ trình điều chỉnh lương tối thiểu

“Cần phải cân nhắc lộ trình điều chỉnh mức lương tối thiểu cho phù hợp, bảo đảm có sự chia sẻ giữa doanh nghiệp và người lao động”…

Trong chương trình “Dân hỏi-Bộ trưởng trả lời”, Bộ trưởng Bộ Lao động Thương binh và Xã hội Phạm Thị Hải Chuyền đã giải đáp, chia sẻ những điểm mới của Bộ luật về chế độ tiền lương, mức lương tối thiểu, xử lý nợ đọng bảo hiểm xã hội… – Nguồn: VTV, VGP.

“Nóng” lên cùng tháng 5

Rất nhiều sự kiện chính trị lớn sẽ diễn ra vào tháng 5/2013…

Hội nghị Trung ương 6 khóa XI diễn ra từ ngày 1 – 15/10/2012.

Rất nhiều sự kiện chính trị lớn sẽ diễn ra vào tháng 5, trong đó, mở màn là Hội nghị lần thứ 7 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI, tiếp đến là Kỳ họp thứ 5, Quốc hội khóa XIII, với nhiều đầu công việc quan trọng.

Nhiều đại biểu Quốc hội đều gọi tháng 5 này là thời kỳ “đỏ lửa”, không phải chỉ vì đó bắt đầu là cao điểm của những ngày hè nắng nóng như thiêu đốt, mà còn vì, họ sẽ cùng thực thi trách nhiệm lấy phiếu tín nhiệm, một công việc mà Quốc hội đã rậm rịch hơn một thập kỷ qua nhưng chưa từng thực hiện; Luật Đất đai (sửa đổi)…

Nói về việc lấy phiếu tín nhiệm, Chủ nhiệm ủy ban Văn hóa, Giáo dục Thanh thiếu niên nhi đồng của Quốc hội, GS.TS. Đào Trọng Thi có nhiều niềm tin về công việc này và ông cho đó là bước tiến lớn trong kiểm soát quyền lực: “Lấy phiếu tín nhiệm là sự chuẩn bị, tiền đề quan trọng nhất để đi đến bỏ phiếu tín nhiệm. Nội dung này là kết quả trực tiếp của việc thể chế hóa Nghị quyết Trung ương 4 về xây dựng Đảng, Nghị quyết Đại hội XI của Đảng”.

Cũng theo vị Chủ nhiệm này, đây chính là giám sát trực tiếp của các đại biểu Quốc hội, những người được nhân dân tín nhiệm bầu ra, đối với các chức danh quan trọng nhất, có ảnh hưởng mạnh mẽ nhất đối với sự phát triển cũng như các vấn đề quan trọng của đất nước.

Việc thực hiện, cũng không sợ rơi vào hình thức, dù đây là vấn đề lớn và còn rất mới ở nước ta. Bởi vì chúng ta đã có cơ chế rõ ràng, hữu hiệu với đầy đủ các bước đi.

Đối với dự án Luật Đất đai (sửa đổi), lẽ ra được thông qua vào kỳ họp cuối năm ngoái để đáp ứng được tính cấp bách của tình hình phức tạp hiện nay về đất đai, tuy nhiên, vì lý do chất lượng dự án luật chưa đảm bảo nên luật này đành phải lùi lại và tại phiên họp của Ủy ban Thường vụ Quốc hội diễn ra trong tuần rồi, Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng vẫn tỏ ra quan ngại về việc Luật Đất đai sửa đổi trình lên lần này “chưa chắc đã được Quốc hội thông qua”, mặc dù đã được làm thận trọng hơn, có sự phối hợp cao giữa cơ quan soạn thảo và cơ quan thẩm tra nên tính khả thi của luật cũng tốt hơn.

Một trong những khúc mắc lớn nhất hiện nay chưa được giải quyết cặn kẽ trong Luật Đất đai sửa đổi là về nội dung thu hồi đất, trong đó có việc thu hồi cho các dự án kinh tế, xã hội cần thế nào.

Theo Bộ trưởng Tài nguyên – Môi trường Nguyễn Minh Quang: “Cơ quan soạn thảo xin tiếp thu và chỉnh lý vào dự thảo Luật theo hướng rà soát để chuyển các dự án phát triển kinh tế, xã hội mà trong đó có lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng vào nhóm các dự án được Nhà nước thu hồi vì lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng”.

Tuy nhiên, theo sự phân tích của Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng, thì nếu không quy định rõ các dự án phát triển kinh tế, xã hội thế nào mà trong đó có lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng để đưa vào nhóm các dự án được Nhà nước thu hồi vì lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng…thì việc giải quyết thu hồi đất vẫn rất phức tạp và luật không khả thi.

Trước khi Kỳ họp thứ 5 của Quốc hội diễn ra, là Hội nghị Trung ương 7, với một trong những nội dung nổi bật là xem xét cho ý kiến dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992 sau 3 tháng lấy ý kiến nhân dân, với nhiều sửa đổi đáng kể so với bản ban đầu. Bởi nói như Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng, cũng đồng thời là Chủ tịch ủy ban dự thảo sửa đổi Hiến pháp, “phải thật lòng trong tổng hợp, lắng nghe, tiếp thu góp ý của dân”.

Theo đó, hầu như những ý kiến đóng góp của người dân thời gian qua đều được ban biên tập lắng nghe, ghi nhận, giải trình đầy đủ, xác đáng đối với những điều tiếp thu và không tiếp thu. Với một số nội dung cần phải tiếp tục cân nhắc, Ban biên tập đề xuất hai phương án, một là giữ nguyên nội dung cũ của bản dự thảo lần đầu và phương án thứ hai là ý kiến đề xuất của người dân.

Chẳng hạn với điều 4, là một trong những nội dung nhận được nhiều ý kiến góp ý nhất. Trước nhiều ý kiến của người dân đề xuất điều 4 cần viết ngắn gọn, xúc tích, nếu không, cứ quá phụ thuộc vào câu chữ trong Cương lĩnh hay Điều lệ sẽ dẫn đến vài năm lại phải sửa Hiến pháp một lần cho phù hợp văn kiện Đảng.

Vì vậy, ngoài phương án cũ hiến định Đảng cộng sản Việt Nam, đội tiên phong của giai cấp công nhân, đồng thời là đội tiên phong của nhân dân lao động…, Uỷ ban dự thảo sửa đổi Hiến pháp đề xuất thêm phương án mới, nêu định nghĩa ngắn gọn: “Đảng Cộng sản Việt Nam là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội”.

Những nội dung nêu bản chất, nền tảng tư tưởng của Đảng thì đã được thể hiện trong Cương lĩnh và Điều lệ Đảng. Đồng thời, thay vì quy định “Đảng chịu trách nhiệm trước nhân dân về những quyết định của mình”, phương án mới đổi thành “chịu trách nhiệm về sự lãnh đạo của mình”.

Ủy ban dự thảo sửa đổi Hiến pháp cũng cho biết, nhiều ý kiến người dân đề nghị làm rõ cơ chế lãnh đạo của Đảng, cơ chế chịu trách nhiệm và cơ chế để nhân dân giám sát Đảng, sự cần thiết ban hành luật về Đảng. Tuy nhiên, ủy ban dự thảo sửa đổi cho rằng, sự lãnh đạo của Đảng là về mặt chính trị thông qua cương lĩnh, chiến lược, các định hướng, chính sách, chủ trương lớn. Cách thức cũng như nội dung lãnh đạo cần có sự uyển chuyển đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ từng giai đoạn, từng thời kỳ.

(Nguồn: Thời báo Kinh tế Việt Nam)

Chính thức khai mạc Carnaval Hạ Long 2013

Với chủ đề “Sắc màu Quảng Ninh – Hội tụ và lan tỏa”, Carnaval Hạ Long 2013 đã chính thức khai mạc hoành tráng tại Tp. Hạ Long…

Những màn trình diễn văn hóa đặc sắc của các dân tộc sinh sống trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh – Ảnh: Quangninh.gov.vn.

Với chủ đề “Sắc màu Quảng Ninh – Hội tụ và lan tỏa”, Carnaval Hạ Long 2013 đã chính thức khai mạc tại Tp.Hạ Long tối 27/4, thu hút hàng vạn du khách trong và ngoài nước.

Từ hơn 19h, 10.000 chỗ ngồi tại chương trình Carnaval Hạ Long 2013 đã chật cứng. Những màn trình diễn văn hóa đặc sắc của các dân tộc sinh sống trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh, như hát dân ca, múa nghi lễ, rước lễ trong lễ hội, các trò chơi dân gian… được khai thác, thể hiện một cách sinh động thông qua hình thức sân khấu hóa.

Carnaval hội tụ những giá trị đặc sắc của văn hoá truyền thống các vùng miền Quảng Ninh, từ những điệu múa trong các nghi lễ, đến những nét sinh hoạt đời thường trong cuộc sống như phương thức đánh bắt hải sản của ngư dân xưa kia trên Vịnh Hạ Long;…

Một trong những điểm nhấn quan trọng của Carnaval Hạ Long năm nay là phần diễu hành đường phố với sự tham gia của trên 3.500 diễn viên chuyên nghiệp và không chuyên với 24 khối diễn, 6 xe hoa mô hình và 3 đoàn nghệ thuật quốc tế đến từ Lào, Trung Quốc và Hàn Quốc đã tạo ra những màn trình diễn nghệ thuật hoành tráng.

Bà Vũ Thị Thu Thủy, Phó chủ tịch UBND tỉnh Quảng Ninh, cho biết, Carnaval Hạ Long 2013 nằm trong chuỗi các hoạt động của tỉnh Quảng Ninh nhằm chào mừng kỷ niệm 50 năm thành lập tỉnh và mở đầu cho một mùa du lịch. Ngoài ra, Carnaval Hạ Long 2013 còn khai thác, phát huy tối đa bản sắc, những giá trị văn hóa của các dân tộc, tiềm năng văn hóa – du lịch của các vùng, miền du lịch, nhằm giới thiệu du khách trong nước và quốc tế đến để chiêm ngưỡng, khám phá di sản – kỳ quan thiên nhiên thế giới Vịnh Hạ Long.

Những hình ảnh về lễ hội Carnaval Hạ Long 2013:

Chính thức khai mạc Carnaval Hạ Long 2013 1

Chính thức khai mạc Carnaval Hạ Long 2013 2

Chính thức khai mạc Carnaval Hạ Long 2013 3

Chính thức khai mạc Carnaval Hạ Long 2013 4

Chính thức khai mạc Carnaval Hạ Long 2013 5

Chính thức khai mạc Carnaval Hạ Long 2013 6

Chính thức khai mạc Carnaval Hạ Long 2013 7

Chính thức khai mạc Carnaval Hạ Long 2013 8

Chính thức khai mạc Carnaval Hạ Long 2013 9

Chính thức khai mạc Carnaval Hạ Long 2013 10

Chính thức khai mạc Carnaval Hạ Long 2013 11

Chính thức khai mạc Carnaval Hạ Long 2013 12

Kinh tế 4 tháng nhìn từ ba mục tiêu vĩ mô

Tiến độ thực hiện các mục tiêu vĩ mô đến nay ra sao và đặt ra vấn đề gì?…

4 tháng đầu năm, tổng mức bán lẻ hàng hoá và doanh thu dịch vụ tiêu dùng (đã loại trừ yếu tố tăng giá tiêu dùng) tăng 4,6%, cao hơn tốc độ tăng 4,5% của quý 1.

Năm 2013 với mục tiêu tổng quát (tăng cường ổn định kinh tế vĩ mô, lạm phát thấp hơn, tăng trưởng cao hơn, tái cơ cấu kinh tế, chuyển đổi mô hình tăng trưởng, thực hiện 3 khâu đột khá chiến lược,…) đã đi qua một phần ba thời gian.

Tiến độ thực hiện các mục tiêu đến nay ra sao và đặt ra vấn đề gì?

Ổn định kinh tế vĩ mô

Kinh tế vĩ mô theo nghĩa rộng, bao gồm nhiều nội dung. Với nghĩa hẹp hơn và với nguồn thông tin tháng, người viết đề cập đến nội dung của hai cân đối kinh tế chủ yếu là xuất, nhập khẩu và thu chi ngân sách.

Về xuất khẩu, sau khi liên tục xuất siêu từ tháng 6/2012 đến tháng 2/2013, từ tháng 3 đã chuyển sang nhập siêu với quy mô không nhỏ (tháng 3 gần 550 triệu USD, bằng 5% kim ngạch xuất khẩu, tháng 4 gần 1 tỷ USD, bằng 10,3%); tính chung 4 tháng nhập siêu 722 triệu USD, bằng 1,8% xuất khẩu.

Nguyên nhân tổng quát là so với cùng kỳ năm trước, xuất khẩu tăng trở lại (2 tháng 3 và 4 tăng 12,8%, thấp xa so với 22% của 2 tháng đầu năm), trong khi nhập khẩu tăng cao lên (tương ứng tăng 21,9% so với 14,1%). Tính chung 4 tháng, nhập khẩu tăng cao hơn xuất khẩu.

Tình hình này được nhìn nhận ở hai góc độ khác nhau. ở góc độ thứ nhất – có tính chất tích cực – thì từ tháng 6/2012 đến tháng 2/2013 liên tục xuất siêu có nguyên nhân quan trọng là do nhu cầu nhập khẩu giảm bởi đầu tư, sản xuất kinh doanh và tiêu dùng bị co lại, nay do nhu cầu nhập khẩu tăng lên chứng tỏ nhu cầu đầu tư, sản xuất kinh doanh, tiêu dùng có dấu hiệu thoát dần khỏi trì trệ để phục hồi.

Nhập khẩu máy móc, thiết bị, dụng cụ phụ tùng, nhập khẩu một số nguyên vật liệu cho sản xuất hàng xuất khẩu tăng cao hơn tốc độ chung, như sản phẩm hoá chất, bông các loại, máy móc thiết bị dụng cụ phụ tùng, nguyên phụ liệu dệt may da giày, sắt thép các loại, chất dẻo nguyên liệu,… hoặc tuy còn giảm nhưng đã giảm ít hơn, như xăng dầu. ở góc độ thứ hai theo ý nghĩa tiêu cực – thì việc nhập siêu trở lại sẽ tác động tiêu cực đến cán cân thanh toán tổng thể, dự trữ ngoại hối, tỷ giá.

Việc kiểm soát nhập khẩu những mặt hàng không khuyến khích và cần kiềm chế nếu không tăng cường sẽ gia tăng trở lại.

Về thu, chi ngân sách, với tiến độ thực hiện so với dự toán cả năm còn thấp và thực hiện của tổng thu thấp hơn của tổng chi cả về tỷ lệ so với dự toán năm, cả về tốc độ tăng so với cùng kỳ năm trước, sẽ làm cho việc cân đối ngân sách tiếp tục khó khăn. Trong khi yêu cầu tháo gỡ khó khăn cho sản xuất kinh doanh, hỗ trợ thị trường, thực hiện các mục tiêu tái cơ cấu, 3 đột phá chiến lược đòi hỏi cắt giảm, giãn hoãn thu, tăng chi lớn.

Kiềm chế lạm phát

CPI tháng 3 giảm (0,19%), tháng 4 tăng không đáng kể (0,02%), nên tính chung 4 tháng tăng thuộc loại thấp so với cùng kỳ trong nhiều năm qua. Kết quả này được xét trên hai mặt.

Về mặt tích cực, đó là niềm vui cho người tiêu dùng, đặc biệt là người có thu nhập thấp, những người bị thất nghiệp, thiếu việc làm, bởi tỷ trọng tiêu dùng lương thực – thực phẩm trong tổng chi tiêu dùng rất cao, trong khi giá lương thực năm trước đã giảm sâu (giảm 5,66%) 4 tháng đầu năm nay tiếp tục giảm (giảm 0,93%); giá thực phẩm năm trước tăng thấp (0,95%), năm nay tháng 3 giảm (0,95%), tháng 4 giảm sâu (1,24%).

Đây là tín hiệu khả quan để cả năm thực hiện được mục tiêu đã đề ra, tạo tiền đề để các nhà quản lý, điều hành vĩ mô có thể yên tâm hơn trong việc thực hiện giải pháp tháo gỡ khó khăn cho sản xuất, hỗ trợ thị trường, thực hiện mục tiêu tăng trưởng cao hơn và các mục tiêu khác mà Quốc hội đã phê duyệt.

Xét ở mặt khác, lạm phát thấp không phải do nâng cao hiệu quả đầu tư, tăng năng suất lao động, mà chủ yếu do tổng cầu (bao gồm cả đầu tư và cả tiêu dùng) giảm. Đồng thời các giải pháp kiềm chế lạm phát đã có hiệu ứng phụ là tăng trưởng tín dụng thấp, sản xuất kinh doanh có tỷ trọng vốn vay ngân hàng lớn sẽ thiếu vốn hoạt động; lại gặp lúc người dân “thắt lưng buộc bụng”, nên đầu tư và tiêu dùng đều bị co lại, tồn kho tăng, kéo dài, lan rộng trên nhiều ngành, lĩnh vực.

Kết quả là sản xuất kinh doanh đứng trước nguy cơ trì trệ, so với cùng kỳ năm trước số DN ngừng hoạt động, phá sản thì tăng, số doanh nghiệp đăng ký mới thì giảm. Nguyên Bộ trưởng Thương mại Trương Đình Tuyển đã cảnh báo, coi chừng “quá tay” trong kiềm chế lạm phát.

Tăng trưởng kinh tế

Tăng trưởng GDP quý 1/2013 cao hơn cùng kỳ năm trước (4,89% so với 4,75%), nhưng chủ yếu do tăng trưởng nhóm ngành dịch vụ cao hơn cùng kỳ, còn 2 nhóm ngành sản xuất sản phẩm vật chất (kinh tế thực) lại thấp hơn cùng kỳ.

Bước sang tháng 4, chỉ số sản xuất công nghiệp tăng cao hơn, nên tính chung 4 tháng tăng 5%, cao hơn của 3 tháng (4,9%). Đáng chú ý, tốc độ tăng 4 tháng năm nay vẫn thấp hơn tốc độ tăng của cùng kỳ năm trước (5% so với 5,9%) và việc thấp này diễn ra ở 3 ngành chi tiết là công nghiệp khai khoáng (2,1% so với 3%), công nghiệp chế biến (5,5% so với 6%), sản xuất và phân phối điện (9% so với 12,9%); riêng cung cấp nước, xử lý nước thải, rác thải tăng bằng cùng kỳ (8,8%). Tốc độ tăng tồn kho đến 1/4 là 13,1%, đã thấp hơn các thời điểm trước.

Vốn đầu tư từ nguồn ngân sách thực hiện 4 tháng mới bằng 25,7% kế hoạch cả năm và giảm so với cùng kỳ năm trước, trong đó vốn trung ương quản lý đạt thấp hơn (23,2%) và giảm sâu hơn (giảm 17%).

Riêng vốn FDI đăng ký đạt trên 8,2 tỷ USD, tăng 17%, trong đó đăng ký mới đạt gần 4,9 tỷ USD, tăng 14,6%, vốn bổ sung đạt gần 3,35 tỷ USD; vốn thực hiện đạt 3,8 tỷ USD, tăng 3,9%.

Tổng mức bán lẻ hàng hoá và doanh thu dịch vụ tiêu dùng (đã loại trừ yếu tố tăng giá tiêu dùng) tăng 4,6%, cao hơn tốc độ tăng 4,5% của quý 1.

Tăng trưởng kinh tế vẫn còn gặp khó khăn ở cả đầu vào và đầu ra, cần phải có các biện pháp tháo gỡ kịp thời.

(Nguồn: Thời báo Kinh tế Việt Nam)