Còn “đất” để hạ lãi vay xuống 10%

Ủy ban Giám sát tài chính Quốc gia (NFSC) đánh giá về cơ hội giảm lãi suất trong thời gian tới…

Tính đến ngày 21/3/2013, tín dụng chỉ tăng 0,03% trong khi huy động tăng 3,86% so với 31/12/2012.

Trong một báo cáo vừa công bố, Ủy ban Giám sát tài chính Quốc gia (NFSC) cho rằng, tình hình hiện nay tạo dư địa cho việc giảm lãi suất huy động xuống 7%/năm, lãi suất cho vay xuống 10%năm.

Mục tiêu tín dụng tăng 12% “vẫn là thách thức”

Theo đánh giá của Ủy ban Giám sát tài chính quốc gia, thanh khoản ngân hàng tiếp tục duy trì ổn định và mặt bằng lãi suất có xu hướng giảm theo sát diễn biến của lạm phát mặc dù vẫn chưa như mong đợi của các doanh nghiệp.

Tuy nhiên, vốn tín dụng vào khu vực sản xuất vẫn chưa có nhiều cải thiện so với cuối năm ngoái phản ánh khả năng hấp thụ vốn của nền kinh tế còn yếu. Biểu hiện là tính đến ngày 21/3/2013, tín dụng chỉ tăng 0,03% trong khi huy động tăng 3,86% so với 31/12/2012.

Trong khi đó, trái phiếu Chính phủ vẫn là một kênh đầu tư hấp dẫn đối với các tổ chức tín dụng khi lợi suất ở mức hấp dẫn và rủi ro giảm. Trên thị trường sơ cấp, khối lượng trái phiếu chính phủ huy động lớn và đạt tỷ lệ đấu thầu thành công cao.

Tuy nhiên, vấn đề nợ xấu một khi chưa được khắc phục cơ bản sẽ vẫn là một trong những trở ngại lớn cho việc tiếp cận vốn ngân hàng của các doanh nghiệp. Do vậy, mục tiêu tăng trưởng tín dụng cả năm 12% vẫn đối mặt với thách thức lớn.

Cơ quan này cũng cho rằng tỷ giá tiếp tục ổn định nhờ cán cân thương mại tiếp tục thặng dư và đầu tư ngắn hạn tiếp tục được cải thiện.

“Xét về ngắn hạn, thực thi chính sách ổn định tỷ giá là cần thiết vì mục tiêu ổn định kinh tế vĩ mô, kiềm chế lạm phát. Hơn nữa, với đặc điểm cơ cấu xuất nhập khẩu của Việt Nam hiện nay, việc điều chỉnh tỷ giá (giảm giá VND) chỉ có tác động ở mức độ vừa phải đến cán cân thương mại do cả xuất khẩu và nhập khẩu đều ít co giãn theo tỷ giá”, báo cáo của NFSC cho hay.

Tuy nhiên, khi lạm phát đã trong khả năng kiểm soát, tỷ giá nên điều chỉnh với một mức độ cho phép để không ảnh hưởng đến khả năng cạnh tranh của xuất khẩu về lâu dài và hạn chế đầu tư ngắn hạn từ nước ngoài.

Còn dư địa cho giảm lãi suất

Theo đánh giá của NFSC, tăng trưởng GDP của quý 1/2013 cao hơn cùng kỳ năm 2012, tạo nền tảng ban đầu thuận lợi cho thực hiện mục tiêu tăng trưởng kinh tế cả năm 2013 cao hơn năm ngoái.

NFSC dự báo rằng, với giả định xu hướng tăng trưởng không biến động lớn trong 3 quý cuối năm, tăng trưởng kinh tế cả năm 2013 sẽ đạt khoảng 5,3%.

Tuy nhiên, theo NFSC, kinh tế vẫn đang đối mặt nhiều khó khăn như sức sản xuất của doanh nghiệp còn yếu, tổng cầu của nền kinh tế thấp gây trở ngại cho việc tiêu thụ hàng hóa là đầu ra của sản xuất; động lực quan trọng cho tăng trưởng trong quý 1/2013 là xuất khẩu, song trong năm 2013 giá hàng hóa thế giới lại được dự báo sẽ không tăng thậm chí giảm.

Trong khi đó, lạm phát năm 2013 dự báo sẽ ở mức 6-7%. Cùng với lực cầu của nền kinh tế đang rất yếu, tăng trưởng tín dụng 3 tháng đầu năm ở mức rất thấp, chưa có điều chỉnh về chính sách giá, và theo thống kê số liệu 10 năm trở lại đây, bình quân lạm phát quý 1 bằng khoảng 40% cả năm, lạm phát cả năm nhiều khả năng sẽ dưới mức 7%.

“Tình hình trên tạo dư địa cho việc giảm lãi suất huy động xuống 7%/năm, lãi suất cho vay xuống 10%/năm”, báo cáo của NFSC viết.

Căn cứ vào nhận định như trên, cơ quan này kiến nghị rằng từ nay đến cuối năm 2013, cần tiếp tục và tăng cường tập trung ưu tiên hỗ trợ doanh nghiệp, thúc đẩy sản xuất, phấn đấu hoàn thành mục tiêu tăng trưởng kinh tế cả năm 2013 cao hơn 2012.

Về chính sách tiền tệ ngân hàng, cần tiếp tục điều chỉnh giảm lãi suất để giảm chi phí tài chính cho doanh nghiệp; đẩy nhanh tiến trình xử lý nợ xấu, sớm đưa VAMC – công ty mua bán nợ đi vào hoạt động, chủ động đưa ra các gói hỗ trợ lãi suất để hỗ trợ khu vực xây dựng và thị trường bất động sản; thực thi chính sách tỷ giá linh hoạt, hài hòa mục tiêu ngắn hạn và mục tiêu dài hạn.

Trong khi đó, về chính sách tài khóa, cân nhắc khả năng giảm thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp xuống 20% để khuyến khích đầu tư tư nhân, thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài, khắc phục hiện tượng chuyển giá; xem xét giảm thuế VAT.

Bên cạnh đó, cần đẩy mạnh triển khai tổ chức thực hiện các giải pháp của Nghị quyết 02 và có cơ chế giám sát việc thực hiện để Nghị quyết thực sự được triển khai một cách sâu rộng, nhất là việc đẩy nhanh việc giải ngân vốn đầu tư từ ngân sách Nhà nước.

Lệ phí trước bạ ôtô tại Hà Nội xuống 15%

Từ 1/4, lệ phí trước bạ ôtô đăng ký lần đầu tạm thời giảm xuống 15% tại Hà Nội còn các địa phương khác giữ nguyên…

Mức lệ phí trước bạ đối với ôtô chở người dưới 10 chỗ ngồi đăng ký lần đầu sẽ là 10% và áp dụng chung trên cả nước.

Bộ Tài chính vừa ban hành Thông tư số 34/2013/TT-BTC sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 124/2011/TT-BTC ngày 31/8/2011 của Bộ Tài chính hướng dẫn về lệ phí trước bạ.

Theo đó, kể từ ngày 1/4, mức lệ phí trước bạ đối với ôtô chở người dưới 10 chỗ ngồi đăng ký lần đầu sẽ là 10% và áp dụng chung trên cả nước. Trường hợp cần áp dụng mức thu cao hơn cho phù hợp với điều kiện thực tế tại từng địa phương, Hội đồng Nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương quyết định điều chỉnh tăng nhưng tối đa không quá 50% mức quy định chung.

Thông tư cũng nêu rõ, các địa phương đang thu ở mức cao hơn 10% nhưng không quá 15% thì áp dụng mức thu lệ phí trước bạ theo quy định hiện hành. Trường hợp mức thu cao hơn 15% thì áp dụng mức thu 15% cho đến khi cơ quan Hội đồng Nhân dân ban hành mức thu lệ phí trước bạ mới theo quy định tại Nghị định số 23/2013/NĐ-CP.

Hiện tại chỉ có duy nhất Hà Nội là địa phương đang áp dụng mức thu lệ phí trước bạ đối với ôtô chở người dưới 10 chỗ đăng ký lần đầu cao hơn 15% (cụ thể là 20%), tất cả các địa phương khác đều áp dụng mức thu từ 10-15%.

Như vậy, trước mắt mức thu lệ phí trước bạ sẽ chỉ điều chỉnh tại Hà Nội khi giảm từ 20% xuống còn 15%.

Theo quy định tại Nghị định 23 của Chính phủ và Thông tư 34 của Bộ Tài chính, các mức lệ phí trước bạ nêu trên sẽ thay đổi sau khi Hội đồng Nhân dân cấp tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương quyết định. Dự kiến, kỳ họp Hội đồng nhân dân sắp tới sẽ diễn ra vào khoảng đầu tháng 7/2013.

Quý 1/2013, DRC ước lãi 75 tỷ đồng

Quý 2/2013, DRC ước doanh thu thuần đạt 725 tỷ đồng, lợi nhuận sau thuế ước đạt 82,5 tỷ đồng…

Diễn biến giá cổ phiếu DRC trong 3 tháng qua – Nguồn: HOSE.

Công ty Cổ phần Cao su Đà Nẵng (mã DRC-HOSE) công bố ước kết quả kinh doanh quý 1 và dự kiến kế hoạch kinh doanh quý 2/2013.

Theo đó, trong quý 1/2013, doanh thu thuần của DRC ước đạt 610 tỷ đồng, lợi nhuận đạt 75 tỷ đồng.

Quý 2/2013, DRC lên kế hoạch với doanh thu thuần đạt 725 tỷ đồng, hoàn thành 44% kế hoạch doanh thu năm; lợi nhuận sau thuế ước đạt 82,5 tỷ đồng, hoàn thành 50% kế hoạch lợi nhuận năm.

Năm 2013, cổ đông DRC thông qua mục tiêu doanh thu thuần 3.020 tỷ đồng, lợi nhuận trước thuế đạt 417 tỷ đồng.

Ngoài ra, công ty đã phê duyệt phương án chi 3,85 tỷ đồng cho dự án “Nhà máy lốp xe tải Radial” trong năm 2013. Được biết, dự án Nhà máy lốp xe tải Radial đã cho “ra lò” chiếc lốp ô tô toàn thép đầu tiên vào ngày 25/3. Dự án có công suất 600.000 lốp/năm với tổng vốn đầu tư 2.950 tỷ đồng.

DRC cho biết, đây là dự án đầu tiên và lớn nhất trong ngành sản xuất săm lốp ôtô của Việt Nam.

Thêm nhiều cổ phiếu vào diện cảnh báo trên HOSE

KBC, KDH, VOS và LCG bị vào diện cảnh báo kể từ ngày 2/4 do có lợi nhuận sau thuế công ty mẹ năm 2012 là số âm…

Diễn biến giá cổ phiếu KDH trong 3 tháng qua. Nguồn: HOSE.

Sở Giao dịch Chứng khoán Tp.HCM (HOSE) vừa quyết định đưa một loạt cổ phiếu của các doanh nghiệp gồm: Tổng công ty Phát triển đô thị Kinh Bắc – Công ty Cổ phần (mã KBC), Công ty Cổ phần Đầu tư và kinh doanh Nhà Khang Điền (mã KDH), Công ty Cổ phần Vận tải biển Việt Nam (mã VOS) và Công ty Cổ phần Licogi 16 (mã LCG) vào diện bị cảnh báo từ ngày 2/4/2013.

Cụ thể, KBC bị vào diện cảnh báo do có lợi nhuận sau thuế của cổ đông công ty mẹ tại báo cáo tài chính hợp nhất đã được kiểm toán năm 2012 là âm 435,64 tỷ đồng.

Còn cổ phiếu KDH vào diện bị cảnh báo vì lợi nhuận sau thuế của cổ đông công ty mẹ là âm 55,5 tỷ đồng theo báo cáo tài chính hợp nhất năm 2012 đã được kiểm toán.

Bên cạnh đó, cổ phiếu LCG bị cảnh báo do lợi nhuận sau thuế kiểm toán hợp nhất 2012 của cổ đông công ty mẹ là âm 36,57 tỷ đồng.

Tương tự, VOS, cổ phiếu rơi vào diện bị cảnh báo do lợi nhuận sau thuế của cổ đông công ty mẹ năm 2012 là âm 34,69 tỷ đồng và lợi nhuận sau thuế chưa phân phối đến ngày 31/12/2012 là âm 14,97 tỷ đồng.

Cũng trong ngày 2/4, HOSE cũng đưa cổ phiếu Công ty Cổ phần Tập đoàn Dầu khí An pha (mã ASP) ra khỏi diện cảnh báo do lợi nhuận sau thuế và lợi nhuận sau thuế chưa phân phối trên báo cáo tài chính kiểm toán hợp nhất năm 2012 là số dương.

Quý 1/2013, SRC ước lãi 18 tỷ đồng

SRC công bố kết quả sản xuất kinh doanh tháng 2/2013 và ước kết quả kinh doanh quý 1/2013…

Diễn biến giá cổ phiếu SRC trong 3 tháng qua. Nguồn: HOSE.

Công ty Cổ phần Cao su Sao Vàng (mã SRC-HOSE) công bố nghị quyết Hội đồng Quản trị thông qua kết quả sản xuất kinh doanh tháng 2/2013.

Theo đó, Hội đồng Quản trị SRC đã thông qua kết quả sản xuất kinh doanh tháng 2/2013 với giá trị sản xuất công nghiệp đạt 13,9 tỷ đồng, doanh thu thuần đạt 51,5 tỷ đồng, lợi nhuận trước thuế đạt 5 tỷ đồng.

Trong quý 1/2013, SRC dự kiến giá trị sản xuất công nghiệp đạt 80,1 tỷ đồng, doanh thu thuần đạt 218 tỷ đồng, bà lãi ước đạt 18 tỷ đồng.

Ngoài ra, Hội đồng Quản trị công ty thống nhất cử ông Lê Văn Cường, Chủ tịch Hội đồng Quản trị và là đại diện ủy quyền của SRC tại Công ty Cổ phần Phillips Carbon Black Việt Nam.

Năm 2013, SRC dự kiến giá trị sản xuất công nghiệp đạt 375 tỷ đồng, doanh thu đạt 1.286 tỷ đồng, lợi nhuận trước thuế đạt 65 tỷ đồng và cổ tức 15%/ vốn điều lệ.

Ngày 17/4/2013, SRC sẽ tổ chức Đại hội đồng cổ đông thường niên tại trụ sở công ty, hội trường tầng 3, số 231 Nguyễn Trãi, Thanh Xuân, Hà Nội.

Cơ hội cho ngành logistics Việt Nam

Thời điểm 2014 mà theo cam kết WTO, Việt Nam sẽ mở cửa thị trường logistics, đang đến rất gần…

Ông Đỗ Xuân Quang, Chủ tịch Hiệp hội doanh nghiệp Logistics Việt Nam (VLA).

Cho đến thời điểm hiện nay, nhiều chuyên gia còn khá e dè khi đưa ra các nhận xét, bình luận về hoạt động của ngành công nghiệp logistics Việt Nam.

Với tư cách là người đứng đầu ngành logistics Việt Nam, mặc dù thừa nhận còn nhiều hạn chế và rất cần phải khắc phục để tăng tính cạnh tranh cho nền kinh tế quốc gia, ThS. Đỗ Xuân Quang, Chủ tịch Hiệp hội doanh nghiệp Logistics Việt Nam (VLA), Chủ tịch Liên đoàn ASEAN các hiệp hội giao nhận vận tải (AFFA), lại có cái nhìn lạc quan hơn về vấn đề này.

Thưa ông, ngành logistics tại Việt Nam, cho đến thời điểm hiện nay vẫn chưa phát triển ngang tầm với những gì nó đang tồn tại. Tuy nhiên, cần phải thừa nhận là logistics Việt Nam cũng đã có những biến chuyển tích cực và phát triển với tốc độ khá nhanh. Quan điểm của ông như thế nào?

Ngành logistics Việt Nam đã phát triển nhanh chóng trong 2 thập niên vừa qua, từ cơ sở hạ tầng (cảng biển, giao thông thủy, bộ, hàng không…) đến kiến trúc thượng tầng (hệ thống pháp luật về logistics…) đã tạo ra những thuận lợi cho phát triển trong cả ngắn hạn, trung hạn và dài hạn. Các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ logistics cũng đã lớn mạnh cả về lượng và chất.

Theo thống kê chưa đầy đủ, hiện nay đã có khoảng 1.000 doanh nghiệp hoạt động logistics tại Việt Nam. Công nghệ quản trị hiện đại về chuỗi cung ứng cũng đã được áp dụng tại các doanh nghiệp Việt Nam và các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, như hệ thống kho phân phối, cảng cạn (ICD), hệ thống gom hàng container (CFS), các ga hàng hóa hiện đại tại các sân bay như TCS, SCSC (Sân bay Tân Sơn Nhất) và NTSC, ACS (Sân bay Nội Bài).

Nhiều công ty logistics Việt Nam có thể cạnh tranh ngang ngửa với các công ty nước ngoài. Các khách hàng sự dụng dịch vụ logistics (các nhà xuất nhập khẩu, nhà sản xuất, cung ứng, gửi hàng, đại lý…) hiện đã được phục vụ tốt hơn trước rất nhiều.

Các dịch vụ giá trị gia tăng cho chuỗi giá trị cung ứng cũng được cung cấp cho thị trường, như: dịch vụ bảo hiểm hàng hóa, dịch vụ thanh toán, dịch vụ giao hàng tận nhà cũng như việc ứng dụng từng bước dịch vụ điện tử trong khai quan, làm bản lược khai hàng hóa điện tử (E-manifest); hay từng bước ứng dụng dịch vụ E-Freight trong tương lai.

Với hệ thống hơn 30 cảng biển, sản lượng hàng hóa đã khai thác thông qua các cảng từ 181 triệu tấn (năm 2007), lên đến 286 triệu tấn (2011) và năm 2012 vừa qua là trên 300 triệu tấn. Sản lượng vận chuyển container cũng tăng nhanh, bình quân 10%/năm. Hệ thống tàu biển Việt Nam với hơn 60 tàu hàng, năm 2012 sản lượng khai thác đạt trên 8 triệu TEUs. Và, với trên 51 hãng hàng không hoạt động tại Việt Nam, sản lượng khai thác hàng hóa hàng không (Aircargo) đạt trên 290.000 tấn trong năm 2012, tỷ lệ tăng trưởng trung bình 10%/năm.

Năm 2015 là thời điểm Cộng đồng Kinh tế ASEAN chính thức thành lập mà Việt Nam là một thành viên. Việc thu hẹp khoảng cánh giữa Việt Nam với các nước trong khối là hết sức cấp bách. Song, ngành logistics Việt Nam – thực tình mà nói – vẫn là “đàn em” so với các đại gia logistics chuyên nghiệp nước ngoài. Làm thế nào để chúng ta có thể vượt qua được “lực cản” đó, lực cản tâm lý “thấp cổ bé họng” chẳng hạn?

Như tôi đã nói, ngành logistics Việt Nam chỉ mới phát triển trong vài ba thập niên vừa qua, trong khi các nước đã xây dựng cả một hệ thống logistics hùng hậu. Lấy ví dụ Singapore chẳng hạn. Họ đã đi đến trình độ tự động hóa và điện tử hóa ở mức độ chuyên môn rất cao. Ngành logistics Việt Nam cần phải có thời gian để xây dựng và thu hẹp khoảng cách. Việc xây dựng một hệ thống logistics quốc gia không thể một sớm một chiều là có được, nhất là việc xây dựng cơ sở hạ tầng và kết nối logistics.

Nói như vậy không có nghĩa là các doanh nghiệp logistics Việt Nam ngần ngại các doanh nghiệp nước ngoài. Tôi cho rằng cơ hội vẫn chia đều cho tất cả. Các “lực cản” mà anh nêu ở đây, theo tôi có thể hiểu là các hạn chế về năng lực của các công ty logistics Việt Nam.

Đó là: vốn, cơ sở hạ tầng, nguồn nhân lực, công nghệ quản trị hiện đại… Bên cạnh đó, các yếu tố pháp luật, thể chế về logistics cũng cần được bổ sung cho phù hợp với đà phát triển của hệ thống logistics quốc gia. Có một thực tế nữa, là hiện nay hệ thống luật pháp về logistics Việt Nam đi sau thực tiễn phát triển của nó, nên chưa thể điều chỉnh các quan hệ trong ngành một cách có hiệu quả.

Thời điểm 2014 mà theo cam kết WTO, Việt Nam sẽ mở cửa thị trường logistics, đang đến rất gần. Các doanh nghiệpViệt Nam cần phải đủ mạnh để có thể cạnh tranh tự do và sòng phẳng với các địa gia nước ngoài. Việt Nam cần phải có giải pháp cụ thể và một chiến lược quốc gia, ví dụ như xây dựng một ủy ban quốc gia về logistics cho Việt Nam.

Các doanh nghiệp logistics Việt Nam hoạt động đa phần trong lĩnh vực cảng biển và hàng hải, trong khi hoạt động logistics hàng không (air freight, air cargo) đang là nguồn lợi nhuận khổng lồ nhưng gần như là sân chơi riêng của các doanh nghiệp nước ngoài. Theo ông, có còn chỗ cho các doanh nghiệpViệt Nam hay không? Và có sự khác biệt nào giữa doanh nghiệpViệt Nam và doanh nghiệp nước ngoài hay không?

Một bất lợi rất lớn cho các nhà xuất nhập khẩu Việt Nam, là thói quen “bán giá FOB và mua giá CIF”. Các hãng tàu, hãng hàng không của ta, vì vậy bị mất lợi thế sân nhà. Chính phủ Việt Nam đã thấy điều này và cần phải thay đổi thói quen này bằng các giải pháp tổng thể có lợi cho các nhà vận tải Việt Nam. Nếu không, ta vẫn phải chịu lép vế dài dài!

Đối với thị trường vận tải hàng hóa hàng không Việt Nam, giá trị tổng thị trường cước vận tải khoảng 700 triệu USD, và các doanh nghiệpViệt Nam chỉ chiếm khoảng 22%.

Phần lớn miếng bánh rơi vào các công ty ước ngoài; bởi lẽ, họ có hệ thống liên minh, liên kết quốc tế chặt chẽ với các đối tác chiến lược là các nhà sản xuất lớn, các công ty toàn cầu. Việc hợp tác chiến lược giữa Tập đoàn Samsung Electronic, Samsung Mobile với Korea Air là một ví dụ đặc trưng cho mối liên kết này.

Tôi cho rằng, doanh nghiệp hàng không Việt Nam hoàn toàn có khả năng cạnh tranh với các công ty nước ngoài, nếu có cải tiến về trình độ và năng lực quản lý điều hành, cũng như khả năng marketing.

Việt Nam trong con mắt cộng đồng các doanh nghiệp logistics ASEAN?

Ngân hàng Thế giới (WB) đã xếp Việt Nam đứng thứ 53/155 về chỉ số năng lực ngành logistics (LPI) và xếp thứ 5 trong ASEAN, qua mặt Indonesia về LPI (Indonesia thứ 59). Tiêu chí này dựa trên 6 yếu tố gồm: thủ tục, quy trình thông quan; mức độ đơn giản, thuận lợi hóa thương mại logistics; giá cước phí; năng lực của các nhà cung cấp dịch vụ; khả năng xử lý, tìm kiếm và truy xuất hàng hóa; thời gian giao hàng.

Đối với cộng đồng các doanh nghiệp trong ASEAN, ngành logistics Việt Nam đang trỗi dậy mạnh mẽ. Năm 2012, lần đầu tiên Việt Nam được bầu chọn làm chủ tịch Liên đoàn các Hiệp hội Giao nhận vận tải ASEAN. Tôi cho rằng, đây cũng là sự đánh giá cao cho hoạt động giao nhận vận tải và logistics của nước ta trong con mắt bạn bè quốc tế.

Với tư cách là doanh nhân, ông thường có những ý tưởng độc đáo và thậm chí có lúc có người cho rằng “không giống ai” và ông đã thành công. Ông có thể chia sẻ một vài kinh nghiệm của mình?

Mỗi doanh nghiệp cần phải tìm chỗ đứng của mình trên thị trường; và nếu tìm được thị trường “ngách”  thì sẽ thành công hơn do chưa có hoặc ít người làm. Kinh doanh cũng cần sáng tạo và năng động nữa.

Tôi không cho rằng mình đã thành công trong kinh doanh, nhưng tôi luôn tìm tòi cái mới trong kinh doanh. Khái niệm “hàng không ảo” (virtual airline) đã có từ trước ở châu Âu nhưng chưa được ai ứng dụng ở Việt Nam. Tôi đã cố gắng đi tiên phong trong lĩnh vực này; đồng thời, các giải pháp quản trị tổng thể khai thác hàng hóa cho các hãng hàng không (Total Cargo Management) đã được tôi nghiên cứu và bắt đầu ứng dụng cho công ty.

Việc mua toàn bộ tải cung ứng (Loadable space allocation) trên các chuyến bay nội địa và quốc tế của VietjetAir vừa qua, cũng là một ví dụ rất sinh động cho hoạt động rất mới này tại Việt Nam. Hay như việc tổ chức thuê chuyến (Air chacter) cho các chuyến bay vận tải hàng hóa (Freight) cũng đang được tiến hành tốt.

Ông không cho rằng mình đã thành công nhưng thực tế đã chứng minh ông đang thành công. Chắc là ông còn tham vọng lớn?

Ước mơ thì đúng hơn. Ước mơ của tôi là thành lập một hãng hàng không chuyên chở hàng hóa (Cargo Airlines) để chuyên chở hàng hóa trên trục đường Bắc – Nam, cũng như bay nối chuyến tiếp vận (Air Feeder) trong khu vực Đông Nam Á về các trung tâm cửa ngõ (gateway) của Việt Nam như Tp.HCM, Hà Nội để nối chuyến đi châu Âu, Nhật Bản và Hoa Kỳ vốn là những thị trường hàng không lớn của Việt Nam từ trước tới nay. Tôi rất đang cố gắng để thực hiện ước mơ này.

(Nguồn: Thời báo Kinh tế Việt Nam)

Tổng thanh tra Chính phủ nói về giải quyết khiếu nại, tố cáo

Có “4 nguyên nhân chính” khiến còn nhiều vụ khiếu nại, tố cáo phức tạp, tồn đọng, kéo dài…

Trong chương trình “Dân hỏi – Bộ trưởng trả lời” ngày 31/3, Tổng thanh tra Chính phủ Huỳnh Phong Tranh cho biết trong năm 2012, tuy số lượt người, số vụ khiếu nại, tố cáo có giảm nhưng tính chất phức tạp, gay gắt tăng hơn so năm 2011, đặc biệt là số đoàn đông người ngày càng nhiều.

Tới cuối năm 2012, đã có trên 380.000 lượt người khiếu nại, tố cáo, gửi trên 124.000 lượt đơn đến các cơ quan nhà nước có thẩm quyền – Nguồn: VTV, VGP.

Giá gas giảm mạnh nhất từ đầu năm

Từ đầu năm 2013 đến nay, giá gas liên tục giảm với tổng mức giảm trong 4 lần là 35.000 đồng/bình/12kg…

Việc giảm giá bán lần này được Saigon Petro lý giải là do giá gas bình quân thế giới trong tháng đã giảm 82,5 USD/tấn xuống còn 812,5 USD/tấn.

Giá gas bán lẻ trên thị trường trong tháng 4/2013 sẽ giảm 24.000 đồng/bình 12kg bắt đầu từ 7h30 sáng 1/4, ông Đỗ Trung Thành, Phó phòng Kinh doanh của Saigon Petro, thông báo với VnEconomy về thông tin trên.

Theo đó, với mức giảm tương ứng là 2.000 đồng/kg so với đầu tháng 3/2013, giá gas của Công ty TNHH Một thành viên Dầu khí Tp.HCM (Saigon Petro) tới tay người tiêu dùng khu vực Tp.HCM là 381.000 đồng/bình 12kg, từ mức 405.000 đồng/bình 12kg trước đó.

Việc giảm giá bán lần này được Saigon Petro lý giải là do giá gas bình quân thế giới trong tháng đã giảm 82,5 USD/tấn xuống còn 812,5 USD/tấn.

Giống như Saigon Petro, giá gas của nhiều doanh nghiệp khác cũng có mức giảm tương tự.

Như vậy, từ đầu năm 2013 đến nay, giá gas liên tục giảm với tổng mức giảm trong 4 lần là 35.000 đồng/bình/12kg.

CEO Mỹ hưởng thu nhập cao gấp nghìn lần nhân viên

Danh sách 13 CEO Mỹ có mức thu nhập cao nhất so với thu nhập trung bình của nhân viên do Payscale thực hiện, Business Insider giới thiệu…

<b>1. CEO Michael T. Duke của hãng bán lẻ Wal-Mart</b><br><br>Tỷ lệ thu nhập của CEO so với nhân viên: 1.034:1<br>Giá trị gói thù lao của CEO: 23,15 triệu USD<br>Thu nhập trung bình của nhân viên trong 1 năm: 22.400 USD<br>Lợi nhuận công ty năm 2012: 15,699 tỷ USD<br>Xếp hạng công ty trong Fortune 500: 2<br>Tương quan thu nhập nhân viên so với trung bình ngành: -1%<br>Tỷ lệ nhân viên của hãng hài lòng cao với thu nhập: 53%<br><br><i>* Các công ty trong danh sách này đều thuộc danh sách 100 công ty Mỹ có môi trường làm việc tốt nhất  theo xếp hạng của tạp chí Fortune (Fortune 100) năm 2012. Đây cũng đều là các công ty thuộc danh sách 500 doanh nghiệp lớn nhất của Mỹ về doanh thu (Fortune 500).<br><br>Thu nhập của các CEO được tập hợp từ danh sách của Fortune, bao gồm lương, tiền thưởng và chia sẻ lợi nhuận, không bao gồm thưởng cổ phiếu.</i>

1. CEO Michael T. Duke của hãng bán lẻ Wal-Mart

Tỷ lệ thu nhập của CEO so với nhân viên: 1.034:1
Giá trị gói thù lao của CEO: 23,15 triệu USD
Thu nhập trung bình của nhân viên trong 1 năm: 22.400 USD
Lợi nhuận công ty năm 2012: 15,699 tỷ USD
Xếp hạng công ty trong Fortune 500: 2
Tương quan thu nhập nhân viên so với trung bình ngành: -1%
Tỷ lệ nhân viên của hãng hài lòng cao với thu nhập: 53%

* Các công ty trong danh sách này đều thuộc danh sách 100 công ty Mỹ có môi trường làm việc tốt nhất  theo xếp hạng của tạp chí Fortune (Fortune 100) năm 2012. Đây cũng đều là các công ty thuộc danh sách 500 doanh nghiệp lớn nhất của Mỹ về doanh thu (Fortune 500).

Thu nhập của các CEO được tập hợp từ danh sách của Fortune, bao gồm lương, tiền thưởng và chia sẻ lợi nhuận, không bao gồm thưởng cổ phiếu.

<b>2. CEO Gregg W. Steinhafel của hãng bán lẻ Target</b><br><br>Tỷ lệ thu nhập của CEO so với nhân viên: 597:1<br>Giá trị gói thù lao của CEO: 17,89 triệu USD<br>Thu nhập trung bình của nhân viên trong 1 năm: 29.900 USD<br>Lợi nhuận công ty năm 2012: 2,929 tỷ USD<br>Xếp hạng công ty trong Fortune 500: 38<br>Tương quan thu nhập nhân viên so với trung bình ngành: ngang bằng<br>Tỷ lệ nhân viên của hãng hài lòng cao với thu nhập: 59%<br><br><i>* Các công ty trong danh sách này đều thuộc danh sách 100 công ty Mỹ có môi trường làm việc tốt nhất  theo xếp hạng của tạp chí Fortune (Fortune 100) năm 2012. Đây cũng đều là các công ty thuộc danh sách 500 doanh nghiệp lớn nhất của Mỹ về doanh thu (Fortune 500).<br><br>Thu nhập của các CEO được tập hợp từ danh sách của Fortune, bao gồm lương, tiền thưởng và chia sẻ lợi nhuận, không bao gồm thưởng cổ phiếu.</i>

2. CEO Gregg W. Steinhafel của hãng bán lẻ Target

Tỷ lệ thu nhập của CEO so với nhân viên: 597:1
Giá trị gói thù lao của CEO: 17,89 triệu USD
Thu nhập trung bình của nhân viên trong 1 năm: 29.900 USD
Lợi nhuận công ty năm 2012: 2,929 tỷ USD
Xếp hạng công ty trong Fortune 500: 38
Tương quan thu nhập nhân viên so với trung bình ngành: ngang bằng
Tỷ lệ nhân viên của hãng hài lòng cao với thu nhập: 59%

* Các công ty trong danh sách này đều thuộc danh sách 100 công ty Mỹ có môi trường làm việc tốt nhất  theo xếp hạng của tạp chí Fortune (Fortune 100) năm 2012. Đây cũng đều là các công ty thuộc danh sách 500 doanh nghiệp lớn nhất của Mỹ về doanh thu (Fortune 500).

Thu nhập của các CEO được tập hợp từ danh sách của Fortune, bao gồm lương, tiền thưởng và chia sẻ lợi nhuận, không bao gồm thưởng cổ phiếu.

<b>3. CEO Robert A. Iger của hãng giải trí Walt Disney</b><br><br>Tỷ lệ thu nhập của CEO so với nhân viên: 557:1<br>Giá trị gói thù lao của CEO: 31,63 triệu USD<br>Thu nhập trung bình của nhân viên trong 1 năm: 56.800 USD<br>Lợi nhuận công ty năm 2012: 4,807 tỷ USD<br>Xếp hạng công ty trong Fortune 500: 66<br>Tương quan thu nhập nhân viên so với trung bình ngành: +8%<br>Tỷ lệ nhân viên của hãng hài lòng cao với thu nhập: 73%<br><br><i>* Các công ty trong danh sách này đều thuộc danh sách 100 công ty Mỹ có môi trường làm việc tốt nhất  theo xếp hạng của tạp chí Fortune (Fortune 100) năm 2012. Đây cũng đều là các công ty thuộc danh sách 500 doanh nghiệp lớn nhất của Mỹ về doanh thu (Fortune 500).<br><br>Thu nhập của các CEO được tập hợp từ danh sách của Fortune, bao gồm lương, tiền thưởng và chia sẻ lợi nhuận, không bao gồm thưởng cổ phiếu.</i>

3. CEO Robert A. Iger của hãng giải trí Walt Disney

Tỷ lệ thu nhập của CEO so với nhân viên: 557:1
Giá trị gói thù lao của CEO: 31,63 triệu USD
Thu nhập trung bình của nhân viên trong 1 năm: 56.800 USD
Lợi nhuận công ty năm 2012: 4,807 tỷ USD
Xếp hạng công ty trong Fortune 500: 66
Tương quan thu nhập nhân viên so với trung bình ngành: +8%
Tỷ lệ nhân viên của hãng hài lòng cao với thu nhập: 73%

* Các công ty trong danh sách này đều thuộc danh sách 100 công ty Mỹ có môi trường làm việc tốt nhất  theo xếp hạng của tạp chí Fortune (Fortune 100) năm 2012. Đây cũng đều là các công ty thuộc danh sách 500 doanh nghiệp lớn nhất của Mỹ về doanh thu (Fortune 500).

Thu nhập của các CEO được tập hợp từ danh sách của Fortune, bao gồm lương, tiền thưởng và chia sẻ lợi nhuận, không bao gồm thưởng cổ phiếu.

<b>4. CEO David M. Cote của tập đoàn công nghiệp Honeywell</b><br><br>Tỷ lệ thu nhập của CEO so với nhân viên: 440:1<br>Giá trị gói thù lao của CEO: 32,86 triệu USD<br>Thu nhập trung bình của nhân viên trong 1 năm: 74.700 USD<br>Lợi nhuận công ty năm 2012: 2,067 tỷ USD<br>Xếp hạng công ty trong Fortune 500: 77<br>Tương quan thu nhập nhân viên so với trung bình ngành: ngang bằng<br>Tỷ lệ nhân viên của hãng hài lòng cao với thu nhập: 71%<br><br><i>* Các công ty trong danh sách này đều thuộc danh sách 100 công ty Mỹ có môi trường làm việc tốt nhất  theo xếp hạng của tạp chí Fortune (Fortune 100) năm 2012. Đây cũng đều là các công ty thuộc danh sách 500 doanh nghiệp lớn nhất của Mỹ về doanh thu (Fortune 500).<br><br>Thu nhập của các CEO được tập hợp từ danh sách của Fortune, bao gồm lương, tiền thưởng và chia sẻ lợi nhuận, không bao gồm thưởng cổ phiếu.</i>

4. CEO David M. Cote của tập đoàn công nghiệp Honeywell

Tỷ lệ thu nhập của CEO so với nhân viên: 440:1
Giá trị gói thù lao của CEO: 32,86 triệu USD
Thu nhập trung bình của nhân viên trong 1 năm: 74.700 USD
Lợi nhuận công ty năm 2012: 2,067 tỷ USD
Xếp hạng công ty trong Fortune 500: 77
Tương quan thu nhập nhân viên so với trung bình ngành: ngang bằng
Tỷ lệ nhân viên của hãng hài lòng cao với thu nhập: 71%

* Các công ty trong danh sách này đều thuộc danh sách 100 công ty Mỹ có môi trường làm việc tốt nhất  theo xếp hạng của tạp chí Fortune (Fortune 100) năm 2012. Đây cũng đều là các công ty thuộc danh sách 500 doanh nghiệp lớn nhất của Mỹ về doanh thu (Fortune 500).

Thu nhập của các CEO được tập hợp từ danh sách của Fortune, bao gồm lương, tiền thưởng và chia sẻ lợi nhuận, không bao gồm thưởng cổ phiếu.

<b>5. CEO Rupert Murdoch của hãng truyền thông News Corp</b><br><br>Tỷ lệ thu nhập của CEO so với nhân viên: 409:1<br>Giá trị gói thù lao của CEO: 24,79 triệu USD<br>Thu nhập trung bình của nhân viên trong 1 năm: 60.700 USD<br>Lợi nhuận công ty năm 2012: 2,739 tỷ USD<br>Xếp hạng công ty trong Fortune 500: 91<br>Tương quan thu nhập nhân viên so với trung bình ngành: +3%<br>Tỷ lệ nhân viên của hãng hài lòng cao với thu nhập: 66%<br><br><i>* Các công ty trong danh sách này đều thuộc danh sách 100 công ty Mỹ có môi trường làm việc tốt nhất  theo xếp hạng của tạp chí Fortune (Fortune 100) năm 2012. Đây cũng đều là các công ty thuộc danh sách 500 doanh nghiệp lớn nhất của Mỹ về doanh thu (Fortune 500).<br><br>Thu nhập của các CEO được tập hợp từ danh sách của Fortune, bao gồm lương, tiền thưởng và chia sẻ lợi nhuận, không bao gồm thưởng cổ phiếu.</i><br>

5. CEO Rupert Murdoch của hãng truyền thông News Corp

Tỷ lệ thu nhập của CEO so với nhân viên: 409:1
Giá trị gói thù lao của CEO: 24,79 triệu USD
Thu nhập trung bình của nhân viên trong 1 năm: 60.700 USD
Lợi nhuận công ty năm 2012: 2,739 tỷ USD
Xếp hạng công ty trong Fortune 500: 91
Tương quan thu nhập nhân viên so với trung bình ngành: +3%
Tỷ lệ nhân viên của hãng hài lòng cao với thu nhập: 66%

* Các công ty trong danh sách này đều thuộc danh sách 100 công ty Mỹ có môi trường làm việc tốt nhất  theo xếp hạng của tạp chí Fortune (Fortune 100) năm 2012. Đây cũng đều là các công ty thuộc danh sách 500 doanh nghiệp lớn nhất của Mỹ về doanh thu (Fortune 500).

Thu nhập của các CEO được tập hợp từ danh sách của Fortune, bao gồm lương, tiền thưởng và chia sẻ lợi nhuận, không bao gồm thưởng cổ phiếu.

<b>6. CEO của Irene B. Rosenfel của hãng thực phẩm Kraft Foods</b><br><br>Tỷ lệ thu nhập của CEO so với nhân viên: 388:1<br>Giá trị gói thù lao của CEO: 25,36 triệu USD<br>Thu nhập trung bình của nhân viên trong 1 năm: 65.300 USD<br>Lợi nhuận công ty năm 2012: 3,527 tỷ USD<br>Xếp hạng công ty trong Fortune 500: 50<br>Tương quan thu nhập nhân viên so với trung bình ngành: +7%<br>Tỷ lệ nhân viên của hãng hài lòng cao với thu nhập: 57%<br><br><i>* Các công ty trong danh sách này đều thuộc danh sách 100 công ty Mỹ có môi trường làm việc tốt nhất  theo xếp hạng của tạp chí Fortune (Fortune 100) năm 2012. Đây cũng đều là các công ty thuộc danh sách 500 doanh nghiệp lớn nhất của Mỹ về doanh thu (Fortune 500).<br><br>Thu nhập của các CEO được tập hợp từ danh sách của Fortune, bao gồm lương, tiền thưởng và chia sẻ lợi nhuận, không bao gồm thưởng cổ phiếu.</i>

6. CEO của Irene B. Rosenfel của hãng thực phẩm Kraft Foods

Tỷ lệ thu nhập của CEO so với nhân viên: 388:1
Giá trị gói thù lao của CEO: 25,36 triệu USD
Thu nhập trung bình của nhân viên trong 1 năm: 65.300 USD
Lợi nhuận công ty năm 2012: 3,527 tỷ USD
Xếp hạng công ty trong Fortune 500: 50
Tương quan thu nhập nhân viên so với trung bình ngành: +7%
Tỷ lệ nhân viên của hãng hài lòng cao với thu nhập: 57%

* Các công ty trong danh sách này đều thuộc danh sách 100 công ty Mỹ có môi trường làm việc tốt nhất  theo xếp hạng của tạp chí Fortune (Fortune 100) năm 2012. Đây cũng đều là các công ty thuộc danh sách 500 doanh nghiệp lớn nhất của Mỹ về doanh thu (Fortune 500).

Thu nhập của các CEO được tập hợp từ danh sách của Fortune, bao gồm lương, tiền thưởng và chia sẻ lợi nhuận, không bao gồm thưởng cổ phiếu.

<b>7. CEO Randall L. Stephenson của hãng viễn thông AT&T</b><br><br>Tỷ lệ thu nhập của CEO so với nhân viên: 382:1<br>Giá trị gói thù lao của CEO: 26 triệu USD<br>Thu nhập trung bình của nhân viên trong 1 năm: 68.100 USD<br>Lợi nhuận công ty năm 2012: 3,944 tỷ USD<br>Xếp hạng công ty trong Fortune 500: 11<br>Tương quan thu nhập nhân viên so với trung bình ngành: +3%<br>Tỷ lệ nhân viên của hãng hài lòng cao với thu nhập: 65%<br><br><i>* Các công ty trong danh sách này đều thuộc danh sách 100 công ty Mỹ có môi trường làm việc tốt nhất  theo xếp hạng của tạp chí Fortune (Fortune 100) năm 2012. Đây cũng đều là các công ty thuộc danh sách 500 doanh nghiệp lớn nhất của Mỹ về doanh thu (Fortune 500).<br><br>Thu nhập của các CEO được tập hợp từ danh sách của Fortune, bao gồm lương, tiền thưởng và chia sẻ lợi nhuận, không bao gồm thưởng cổ phiếu.</i>

7. CEO Randall L. Stephenson của hãng viễn thông AT&T

Tỷ lệ thu nhập của CEO so với nhân viên: 382:1
Giá trị gói thù lao của CEO: 26 triệu USD
Thu nhập trung bình của nhân viên trong 1 năm: 68.100 USD
Lợi nhuận công ty năm 2012: 3,944 tỷ USD
Xếp hạng công ty trong Fortune 500: 11
Tương quan thu nhập nhân viên so với trung bình ngành: +3%
Tỷ lệ nhân viên của hãng hài lòng cao với thu nhập: 65%

* Các công ty trong danh sách này đều thuộc danh sách 100 công ty Mỹ có môi trường làm việc tốt nhất  theo xếp hạng của tạp chí Fortune (Fortune 100) năm 2012. Đây cũng đều là các công ty thuộc danh sách 500 doanh nghiệp lớn nhất của Mỹ về doanh thu (Fortune 500).

Thu nhập của các CEO được tập hợp từ danh sách của Fortune, bao gồm lương, tiền thưởng và chia sẻ lợi nhuận, không bao gồm thưởng cổ phiếu.

<b>8. CEO Brian L. Roberts của công ty truyền thông Comcast</b><br><br>Tỷ lệ thu nhập của CEO so với nhân viên: 370:1<br>Giá trị gói thù lao của CEO: 18,76 triệu USD<br>Thu nhập trung bình của nhân viên trong 1 năm: 50.600 USD<br>Lợi nhuận công ty năm 2012: 4,16 tỷ USD<br>Xếp hạng công ty trong Fortune 500: 49<br>Tương quan thu nhập nhân viên so với trung bình ngành: +3%<br>Tỷ lệ nhân viên của hãng hài lòng cao với thu nhập: 70%<br><br><i>* Các công ty trong danh sách này đều thuộc danh sách 100 công ty Mỹ có môi trường làm việc tốt nhất&nbsp; theo xếp hạng của tạp chí Fortune (Fortune 100) năm 2012. Đây cũng đều là các công ty thuộc danh sách 500 doanh nghiệp lớn nhất của Mỹ về doanh thu (Fortune 500).<br><br>Thu nhập của các CEO được tập hợp từ danh sách của Fortune, bao gồm lương, tiền thưởng và chia sẻ lợi nhuận, không bao gồm thưởng cổ phiếu.</i>

8. CEO Brian L. Roberts của công ty truyền thông Comcast

Tỷ lệ thu nhập của CEO so với nhân viên: 370:1
Giá trị gói thù lao của CEO: 18,76 triệu USD
Thu nhập trung bình của nhân viên trong 1 năm: 50.600 USD
Lợi nhuận công ty năm 2012: 4,16 tỷ USD
Xếp hạng công ty trong Fortune 500: 49
Tương quan thu nhập nhân viên so với trung bình ngành: +3%
Tỷ lệ nhân viên của hãng hài lòng cao với thu nhập: 70%

* Các công ty trong danh sách này đều thuộc danh sách 100 công ty Mỹ có môi trường làm việc tốt nhất  theo xếp hạng của tạp chí Fortune (Fortune 100) năm 2012. Đây cũng đều là các công ty thuộc danh sách 500 doanh nghiệp lớn nhất của Mỹ về doanh thu (Fortune 500).

Thu nhập của các CEO được tập hợp từ danh sách của Fortune, bao gồm lương, tiền thưởng và chia sẻ lợi nhuận, không bao gồm thưởng cổ phiếu.

<b>9. CEO James Dimon của ngân hàng JPMorgan Chase</b><br><br>Tỷ lệ thu nhập của CEO so với nhân viên: 355:1<br>Giá trị gói thù lao của CEO: 19,05 triệu USD<br>Thu nhập trung bình của nhân viên trong 1 năm: 53.800 USD<br>Lợi nhuận công ty năm 2012: 18,976 tỷ USD<br>Xếp hạng công ty trong Fortune 500: 16<br>Tương quan thu nhập nhân viên so với trung bình ngành: +3%<br>Tỷ lệ nhân viên của hãng hài lòng cao với thu nhập: 64%<br><br><i>* Các công ty trong danh sách này đều thuộc danh sách 100 công ty Mỹ có môi trường làm việc tốt nhất&nbsp; theo xếp hạng của tạp chí Fortune (Fortune 100) năm 2012. Đây cũng đều là các công ty thuộc danh sách 500 doanh nghiệp lớn nhất của Mỹ về doanh thu (Fortune 500).<br><br>Thu nhập của các CEO được tập hợp từ danh sách của Fortune, bao gồm lương, tiền thưởng và chia sẻ lợi nhuận, không bao gồm thưởng cổ phiếu.</i>

9. CEO James Dimon của ngân hàng JPMorgan Chase

Tỷ lệ thu nhập của CEO so với nhân viên: 355:1
Giá trị gói thù lao của CEO: 19,05 triệu USD
Thu nhập trung bình của nhân viên trong 1 năm: 53.800 USD
Lợi nhuận công ty năm 2012: 18,976 tỷ USD
Xếp hạng công ty trong Fortune 500: 16
Tương quan thu nhập nhân viên so với trung bình ngành: +3%
Tỷ lệ nhân viên của hãng hài lòng cao với thu nhập: 64%

* Các công ty trong danh sách này đều thuộc danh sách 100 công ty Mỹ có môi trường làm việc tốt nhất  theo xếp hạng của tạp chí Fortune (Fortune 100) năm 2012. Đây cũng đều là các công ty thuộc danh sách 500 doanh nghiệp lớn nhất của Mỹ về doanh thu (Fortune 500).

Thu nhập của các CEO được tập hợp từ danh sách của Fortune, bao gồm lương, tiền thưởng và chia sẻ lợi nhuận, không bao gồm thưởng cổ phiếu.

<b>10. CEO Terry J. Lundgren của hãng bán lẻ Macy’s</b><br><br>Tỷ lệ thu nhập của CEO so với nhân viên: 345:1<br>Giá trị gói thù lao của CEO: 10,02 triệu USD<br>Thu nhập trung bình của nhân viên trong 1 năm: 29.000 USD<br>Lợi nhuận công ty năm 2012: 1,256 tỷ USD<br>Xếp hạng công ty trong Fortune 500: 110<br>Tương quan thu nhập nhân viên so với trung bình ngành: -7%<br>Tỷ lệ nhân viên của hãng hài lòng cao với thu nhập: 62%<br><br><i>* Các công ty trong danh sách này đều thuộc danh sách 100 công ty Mỹ có môi trường làm việc tốt nhất  theo xếp hạng của tạp chí Fortune (Fortune 100) năm 2012. Đây cũng đều là các công ty thuộc danh sách 500 doanh nghiệp lớn nhất của Mỹ về doanh thu (Fortune 500).<br><br>Thu nhập của các CEO được tập hợp từ danh sách của Fortune, bao gồm lương, tiền thưởng và chia sẻ lợi nhuận, không bao gồm thưởng cổ phiếu.</i>

10. CEO Terry J. Lundgren của hãng bán lẻ Macy’s

Tỷ lệ thu nhập của CEO so với nhân viên: 345:1
Giá trị gói thù lao của CEO: 10,02 triệu USD
Thu nhập trung bình của nhân viên trong 1 năm: 29.000 USD
Lợi nhuận công ty năm 2012: 1,256 tỷ USD
Xếp hạng công ty trong Fortune 500: 110
Tương quan thu nhập nhân viên so với trung bình ngành: -7%
Tỷ lệ nhân viên của hãng hài lòng cao với thu nhập: 62%

* Các công ty trong danh sách này đều thuộc danh sách 100 công ty Mỹ có môi trường làm việc tốt nhất  theo xếp hạng của tạp chí Fortune (Fortune 100) năm 2012. Đây cũng đều là các công ty thuộc danh sách 500 doanh nghiệp lớn nhất của Mỹ về doanh thu (Fortune 500).

Thu nhập của các CEO được tập hợp từ danh sách của Fortune, bao gồm lương, tiền thưởng và chia sẻ lợi nhuận, không bao gồm thưởng cổ phiếu.

<b>11. CEO Larry J. Merlo của hãng bán lẻ dược phẩm và dịch vụ y tế CVS Caremark</b><br><br>Tỷ lệ thu nhập của CEO so với nhân viên: 316:1<br>Giá trị gói thù lao của CEO: 18,16 triệu USD<br>Thu nhập trung bình của nhân viên trong 1 năm: 25.800 USD<br>Lợi nhuận công ty năm 2012: 3,461 tỷ USD<br>Xếp hạng công ty trong Fortune 500: 18<br>Tương quan thu nhập nhân viên so với trung bình ngành: -3%<br>Tỷ lệ nhân viên của hãng hài lòng cao với thu nhập: 60%<br><br><i>* Các công ty trong danh sách này đều thuộc danh sách 100 công ty Mỹ có môi trường làm việc tốt nhất  theo xếp hạng của tạp chí Fortune (Fortune 100) năm 2012. Đây cũng đều là các công ty thuộc danh sách 500 doanh nghiệp lớn nhất của Mỹ về doanh thu (Fortune 500).<br><br>Thu nhập của các CEO được tập hợp từ danh sách của Fortune, bao gồm lương, tiền thưởng và chia sẻ lợi nhuận, không bao gồm thưởng cổ phiếu.</i>

11. CEO Larry J. Merlo của hãng bán lẻ dược phẩm và dịch vụ y tế CVS Caremark

Tỷ lệ thu nhập của CEO so với nhân viên: 316:1
Giá trị gói thù lao của CEO: 18,16 triệu USD
Thu nhập trung bình của nhân viên trong 1 năm: 25.800 USD
Lợi nhuận công ty năm 2012: 3,461 tỷ USD
Xếp hạng công ty trong Fortune 500: 18
Tương quan thu nhập nhân viên so với trung bình ngành: -3%
Tỷ lệ nhân viên của hãng hài lòng cao với thu nhập: 60%

* Các công ty trong danh sách này đều thuộc danh sách 100 công ty Mỹ có môi trường làm việc tốt nhất  theo xếp hạng của tạp chí Fortune (Fortune 100) năm 2012. Đây cũng đều là các công ty thuộc danh sách 500 doanh nghiệp lớn nhất của Mỹ về doanh thu (Fortune 500).

Thu nhập của các CEO được tập hợp từ danh sách của Fortune, bao gồm lương, tiền thưởng và chia sẻ lợi nhuận, không bao gồm thưởng cổ phiếu.

<b>12. CEO John H. Hammergren của công ty công nghệ y tế McKesson</b><br><br>Tỷ lệ thu nhập của CEO so với nhân viên: 313:1<br>Giá trị gói thù lao của CEO: 19,07 triệu USD<br>Thu nhập trung bình của nhân viên trong 1 năm: 61.000 USD<br>Lợi nhuận công ty năm 2012: 1,202 tỷ USD<br>Xếp hạng công ty trong Fortune 500: 14<br>Tương quan thu nhập nhân viên so với trung bình ngành: +1%<br>Tỷ lệ nhân viên của hãng hài lòng cao với thu nhập: 71%<br><br><i>* Các công ty trong danh sách này đều thuộc danh sách 100 công ty Mỹ có môi trường làm việc tốt nhất&nbsp; theo xếp hạng của tạp chí Fortune (Fortune 100) năm 2012. Đây cũng đều là các công ty thuộc danh sách 500 doanh nghiệp lớn nhất của Mỹ về doanh thu (Fortune 500).<br><br>Thu nhập của các CEO được tập hợp từ danh sách của Fortune, bao gồm lương, tiền thưởng và chia sẻ lợi nhuận, không bao gồm thưởng cổ phiếu.</i>

12. CEO John H. Hammergren của công ty công nghệ y tế McKesson

Tỷ lệ thu nhập của CEO so với nhân viên: 313:1
Giá trị gói thù lao của CEO: 19,07 triệu USD
Thu nhập trung bình của nhân viên trong 1 năm: 61.000 USD
Lợi nhuận công ty năm 2012: 1,202 tỷ USD
Xếp hạng công ty trong Fortune 500: 14
Tương quan thu nhập nhân viên so với trung bình ngành: +1%
Tỷ lệ nhân viên của hãng hài lòng cao với thu nhập: 71%

* Các công ty trong danh sách này đều thuộc danh sách 100 công ty Mỹ có môi trường làm việc tốt nhất  theo xếp hạng của tạp chí Fortune (Fortune 100) năm 2012. Đây cũng đều là các công ty thuộc danh sách 500 doanh nghiệp lớn nhất của Mỹ về doanh thu (Fortune 500).

Thu nhập của các CEO được tập hợp từ danh sách của Fortune, bao gồm lương, tiền thưởng và chia sẻ lợi nhuận, không bao gồm thưởng cổ phiếu.

<b>13. CEO Alan R. Mulally của hãng xe Ford Motor</b><br><br>Tỷ lệ thu nhập của CEO so với nhân viên: 304:1<br>Giá trị gói thù lao của CEO: 20,83 triệu USD<br>Thu nhập trung bình của nhân viên trong 1 năm: 68.500 USD<br>Lợi nhuận công ty năm 2012: 20,213 tỷ USD<br>Xếp hạng công ty trong Fortune 500: 9<br>Tương quan thu nhập nhân viên so với trung bình ngành: +3%<br>Tỷ lệ nhân viên của hãng hài lòng cao với thu nhập: 70%<br><br><i>* Các công ty trong danh sách này đều thuộc danh sách 100 công ty Mỹ có môi trường làm việc tốt nhất&nbsp; theo xếp hạng của tạp chí Fortune (Fortune 100) năm 2012. Đây cũng đều là các công ty thuộc danh sách 500 doanh nghiệp lớn nhất của Mỹ về doanh thu (Fortune 500).<br><br>Thu nhập của các CEO được tập hợp từ danh sách của Fortune, bao gồm lương, tiền thưởng và chia sẻ lợi nhuận, không bao gồm thưởng cổ phiếu.</i>

13. CEO Alan R. Mulally của hãng xe Ford Motor

Tỷ lệ thu nhập của CEO so với nhân viên: 304:1
Giá trị gói thù lao của CEO: 20,83 triệu USD
Thu nhập trung bình của nhân viên trong 1 năm: 68.500 USD
Lợi nhuận công ty năm 2012: 20,213 tỷ USD
Xếp hạng công ty trong Fortune 500: 9
Tương quan thu nhập nhân viên so với trung bình ngành: +3%
Tỷ lệ nhân viên của hãng hài lòng cao với thu nhập: 70%

* Các công ty trong danh sách này đều thuộc danh sách 100 công ty Mỹ có môi trường làm việc tốt nhất  theo xếp hạng của tạp chí Fortune (Fortune 100) năm 2012. Đây cũng đều là các công ty thuộc danh sách 500 doanh nghiệp lớn nhất của Mỹ về doanh thu (Fortune 500).

Thu nhập của các CEO được tập hợp từ danh sách của Fortune, bao gồm lương, tiền thưởng và chia sẻ lợi nhuận, không bao gồm thưởng cổ phiếu.

Giá vàng tuần tới: Quý 2 liệu có gì mới?

Giới chuyên gia đánh giá, tin tức từ Cyprus đã không đủ lực để đẩy giá vàng phá ngưỡng 1.620 USD/oz…

Diễn biến giá vàng thế giới dựa trên giá đóng cửa của vàng giao ngay tại thị trường New York trong 2 tháng qua – Nguồn: Kitco.

Quý 2/2013 sẽ bắt đầu vào tuần tới, nhưng triển vọng của giá vàng được dự báo là sẽ không khác nhiều so với những gì đang diễn ra hiện tại. Nghĩa là vàng vẫn sẽ được hỗ trợ bởi những lo ngại liên quan tới cuộc khủng hoảng nợ ở châu Âu và chính sách tiền tệ lỏng lẻo, nhưng sự hỗ trợ này là không đủ để đẩy giá vàng vào một vùng giá mới.

Thị trường tài chính Mỹ, Anh và nhiều nước châu Âu đã đóng cửa nghỉ lễ Good Friday vào ngày thứ Sáu. Chốt tuần, giá vàng giao tháng 6 trên sàn COMEX thuộc Sở giao dịch hàng hóa New York (NYMEX) dừng ở mức 1.595,7 USD/oz, giảm gần 0,8% trong tuần.

Thứ Hai tuần tới, thị trường Mỹ sẽ mở cửa trở lại, trong khi thị trường Anh và hầu hết các thị trường châu Âu đến ngày thứ Ba mới quay lại hoạt động bình thường.

Trong cuộc thăm dò ý kiến dự báo giá vàng hàng tuần do trang tin kim loại quý Kitco News thực hiện, có 17/27 ý kiến phản hồi dự báo giá tăng, 6 ý kiến dự báo giá giảm và 4 người nhận định giá sẽ di chuyển ngang. Tham gia vào cuộc thăm dò hàng tuần này là các công ty kinh doanh vàng, ngân hàng đầu tư, nhà giao dịch hàng hóa giao sau, nhà quản lý quỹ, và các chuyên gia phân tích kỹ thuật.

Cuộc khủng hoảng ở Cyprus đã bớt gây lo ngại khi các ngân hàng tại đảo quốc này đã mở cửa trở lại. Các nhà quan sát vẫn cho rằng, các diễn biến tại nước này có thể còn ít nhiều tiếp tục gây ảnh hưởng tới giá vàng. Tuy nhiên, giới chuyên gia đánh giá, tin tức từ Cyprus đã không đủ lực để đẩy giá vàng phá ngưỡng kháng cự 1.620 USD/oz. Hiện đây vẫn được xem là một trần giá đối với vàng.

“Hiện tại, tôi cho rằng, giá vàng đang có được sự hỗ trợ nào đó từ tình hình ở Cyps, nhưng chúng tôi không nhận thấy có nhu cầu. Giá vàng vẫn đang dao động trong vùng hẹp. Ngoài ra, cũng không thấy có ai muốn bán vàng”, ông Peter Thomas, Phó chủ tịch công ty giao dịch vàng vật chất INTL FCStone Precious Metals tại thị trường Bắc Mỹ, cho biết.

Một nhà giao dịch khác thuộc một ngân hàng kinh doanh vàng cho hay, mối quan tâm đến vàng có xu hướng tăng khi giá vàng giảm về cận dưới của vùng biên độ hiện tại, trong đó chủ yếu là nhu cầu của các khách hàng mua vàng vật chất từ Trung Quốc. Nhờ đó, giá vàng được hỗ trợ và nhích lên, nhưng không tăng được nhiều.

Theo ông George Gero, Phó chủ tịch công ty RBC Capital Markets Global Futures, việc bắt đầu một quý mới đồng nghĩa với việc các nhà quản lý quỹ có thể điều chỉnh danh mục.

“Tuần tới sẽ rất nhạy cảm. Thứ Hai sẽ là ngày đầu tiên của quý mới. Tình hình sẽ phụ thuộc nhiều vào nhu cầu của các quỹ khi điều chỉnh danh mục. Giá vàng đang được hỗ trợ bởi khủng hoảng ở châu Âu và môi trường lãi suất thấp, nhưng lạm phát lại thấp. Bởi thế, giá vàng có thể còn di chuyển ngang trong tuần tới”, ông Gero nhận xét.

Cũng theo ông Gero, ông sẽ theo dõi số liệu mua bán của các quỹ tín thác đầu tư vàng như SPDR Gold Trust. Sau đợt bán tháo trong quý 1, rất có thể các quỹ này sẽ mua vàng trở lại trong quý 2.

Nhiều nhà phân tích khác nhận định, trong tuần tới, bất ổn chính trị ở Italy có thể thu hút sự chú ý của các nhà đầu tư. Các đảng phái ở nước này hiện vẫn đang đàm phán về việc lập chính phủ mới. Nếu không có thỏa thuận nào đạt được, Italy có thể phải tổ chức một cuộc tổng bầu cử nữa.

Nhà môi giới hàng hóa tương lai Frank Lesh thuộc công ty FuturePath nói rằng, khi các thông tin sự kiện tác động tới thị trường, các nhà đầu tư có thể mua vàng phòng khủng hoảng, nhưng khi rủi ro giảm, giá vàng cũng giảm theo. Giá vàng đã thử tiếp cận vùng cận trên của biên độ nhưng không phá được vùng giá này, và thực tế này khiến nhiều nhà tham gia thị trường mất kiên nhẫn.

“Nhiều nhà giao dịch, trong đó có cả tôi, đã kỳ vọng giá vàng vượt ngưỡng 1.620 USD/oz từ cuối tháng 2. Nhưng giá vàng gần đây không phá được mức 1.618 USD/oz, và nhiều nhà đầu tư giá lên đã bán vàng ra. Nhiều người giờ xem vàng là “tiền chết”, và từ đầu năm đến giờ, họ đúng”, ông Lesh nói. Chuyên gia này cũng dự báo, xu hướng di chuyển ngang của giá vàng sẽ còn tiếp tục trong tuần tới.

Cuốn niên giám các nhà giao dịch hàng hóa Commodity Traders Almanac dự báo rằng, giá vàng có thể chịu áp lực giảm do hoạt động bán ra trong tháng 4, tiếp tục sự suy giảm mang tính mùa vụ thường bắt đầu vào tháng 1 hàng năm.

Nhiều ngân hàng trung ương sẽ họp trong tuần tới, bao gồm các ngân hàng trung ương của Australia, châu Âu, Anh và Nhật Bản. Hầu hết các nhà phân tích đều không kỳ vọng vào sự điều chỉnh chính sách. Tuy nhiên, sự quan tâm sẽ dành cho các bình luận của Ngân hàng Trung ương châu Âu (ECB) trong bối cảnh các dữ liệu kinh tế ảm đạm của khối Eurozone và cuộc khủng hoảng ngân hàng ở Cyprus.

Thống kê kinh tế Mỹ được quan tâm nhiều trong tuần tới là báo cáo thất nghiệp tháng 3. Theo dự báo, nước này có 170.000 việc làm mới được tạo ra trong tháng. Tháng 2, Mỹ có 236.000 việc làm mới, tỷ lệ thất nghiệp là 7,7%.