Thêm một “ông lớn” có đề án tái cơ cấu

Vinachem vẫn được duy trì là Tập đoàn kinh tế nhà nước, có cơ cấu hợp lý, đi đầu trong sản xuất, kinh doanh hoá chất…

Tại thời điểm phê duyệt, các đơn vị nằm trong cơ cấu Công ty mẹ – Tập đoàn Hoá chất Việt Nam gồm: Văn phòng và các can chức năng, tham mưu; Trung tâm thông tin khoa học kỹ thuật hóa chất; Trung tâm Thương mại và dịch vụ hóa chất.

Thủ tướng Chính phủ vừa ký quyết định phê duyệt đề án tái cơ cấu Tập đoàn Hóa chất Việt Nam (Vinachem).

Theo đó, Vinachem vẫn được duy trì là Tập đoàn kinh tế nhà nước, có cơ cấu hợp lý, đi đầu trong sản xuất, kinh doanh hoá chất cơ bản và sản phẩm hoá chất phục vụ sản xuất nông nghiệp, tiêu dùng trong nước và xuất khẩu; nâng cao năng lực, hiệu quả sản xuất kinh doanh và sức cạnh tranh của Tập đoàn.

Với đề án tái cơ cấu, Vinachem sẽ có 4 nhóm ngành, nghề kinh doanh chính, bao gồm: sản xuất, kinh doanh phân bón, thuốc bảo vệ thực vật; công nghiệp khai thác, chế biến khoáng sản làm nguyên liệu sản xuất phân bón và hoá chất; công nghiệp chế biến cao su; sản xuất và kinh doanh hoá chất cơ bản, hóa chất tiêu dùng, hoá dược.

Ngoài ra còn có hai nhóm ngành, nghề liên quan đến ngành, nghề kinh doanh chính là tư vấn thiết kế công nghiệp hóa chất; xuất nhập khẩu vật tư, thiết bị hoá chất; đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao phục vụ cho ngành hóa chất.

Tại thời điểm phê duyệt, các đơn vị nằm trong cơ cấu Công ty mẹ – Tập đoàn Hoá chất Việt Nam gồm: Văn phòng và các can chức năng, tham mưu; Trung tâm thông tin khoa học kỹ thuật hóa chất; Trung tâm Thương mại và dịch vụ hóa chất.

Theo lộ trình thực hiện từ nay đến 2015, Tập đoàn sẽ nắm giữ 100% vốn điều lệ tại 2 doanh nghiệp, thực hiện cổ phần hoá, Tập đoàn nắm giữ từ 65% đến 75% vốn điều lệ tại 5 doanh nghiệp. Trước mắt, giữ nguyên tỷ lệ vốn điều lệ nhà nước đang nắm giữ đối với 5 công ty đã cổ phần hoá: Supe phốt phát và Hóa chất Lâm Thao, Phân bón miền Nam, Phân bón Bình Điền, Phân lân nung chảy Văn Điển, Hóa chất Việt Trì.

Tập đoàn nắm giữ trên 50% đến dưới 65% vốn điều lệ tại 13 doanh nghiệp, đồng thời nắm giữ không quá 50% vốn điều lệ đối với 10 doanh nghiệp, thoái hết vốn nhà nước Tập đoàn nắm giữ tại 13 doanh nghiệp khác.

Thủ tướng Chính phủ giao Bộ Công Thương chủ trì, phối hợp với các Bộ, ngành liên quan hướng dẫn, theo dõi, kiểm tra việc thực hiện quyết định này; định kỳ hàng quý báo cáo Thủ tướng; chủ trì, phối hợp với các cơ quan liên quan kịp thời xử lý những vướng mắc nảy sinh, báo cáo Thủ tướng Chính phủ những vấn đề vượt thẩm quyền.

Bộ Công Thương phối hợp với Vinachem và các cơ quan liên quan xây dựng và trình Chính phủ ban hành nghị định về điều lệ tổ chức và hoạt động của Vinachem trong thời gian tới.

Vinachem được thành lập vào tháng 1/2012 trên cơ sở các đơn vị, nhân sự và tài sản của Tổng công ty Hóa chất Việt Nam. Tại thời điểm thành lập, vốn điều lệ của Vinachem là 8 nghìn tỷ đồng.

Lỗ hổng chống chuyển giá nhìn từ Keangnam

Hệ thống pháp luật của Việt Nam vẫn chưa đủ để bảo vệ lợi ích quốc gia trên bình diện quốc tế…

Các chuyên gia của Cục Thuế Hà Nội tính toán rằng Keangnam Vina đã trả lãi suất trung bình khoảng 12% mỗi năm cho khoản vay từ Kookmin Bank. Trong khi đó, lãi suất vay vốn bằng USD tại Việt Nam trong thời gian gần đây chỉ dao động trong khoảng từ 5-7% mỗi năm.

Cuộc chiến chống chuyển giá tại các doanh nghiệp FDI đang được ngành thuế thúc đẩy mạnh mẽ trong thời gian gần đây. Tuy nhiên, phía sau cuộc chiến này, ngành thuế nhận thấy những lỗ hổng pháp lý quá lớn để các doanh nghiệp có thể lách qua, như trong trường hợp của Công ty TNHH Keangnam Vina mà VnEconomy đề cập dưới đây.

Tháng 5/2007, để chuẩn bị tài chính cho dự án tổ hợp Keangnam Vina đã ký hợp đồng vay vốn từ ngân hàng Kookmin Bank. Cho đến nay, công ty này đã vay tổng cộng 400 triệu USD từ ngân hàng này và tổng số lãi vay và chi phí tài chính của việc vay đã lên tới trên 2.000 tỷ đồng.

Các chuyên gia của Cục Thuế Hà Nội tính toán rằng Keangnam Vina đã trả lãi suất trung bình khoảng 12% mỗi năm cho khoản vay từ Kookmin Bank. Trong khi đó, lãi suất vay vốn bằng USD tại Việt Nam trong thời gian gần đây chỉ dao động trong khoảng từ 5-7% mỗi năm.

Chênh lệch nói trên rõ ràng là một căn cứ để các chuyên gia về thuế vào cuộc để “tìm hiểu” kỹ hơn về khả năng Keangnam Vina đã tiến hành một giao dịch liên kết để chuyển một phần lợi nhuận về nước. Tuy nhiên, khi tham vấn Ngân hàng Nhà nước, ngành thuế mới nhận ra rằng, Việt Nam hiện chưa có quy định khống chế mức trần lãi suất tiền vay bằng ngoại tệ (nhất là với trường hợp doanh nghiệp hoạt động trên lãnh thổ Việt Nam vay đối tác nước ngoài dưới các hình thức: cung ứng tín dụng, phát hành trái phiếu quốc tế).

Quy định hiện hành cho phép các ngân hàng tự định ra lãi suất đối với khách hàng theo hình thức thỏa thuận, qua đó thật khó để đưa ra một kết luận nào đó mà không đi kèm tranh cãi vì không có căn cứ pháp lý vững chắc.

Không chỉ có chênh lệch lãi suất, một chi tiết khác cũng khiến các chuyên gia ngành thuế nghi vấn: tổng cộng, một khoản tiền lên tới 30 triệu USD, tương đương hơn 485 tỷ đồng (tỷ giá năm 2008) đã được Keangnam Vina hạch toán vào chi phí tài chính với tên gọi là “phí cung cấp dịch vụ tư vấn tài chính, thu xếp vốn vay”.

Khoản tiền này chắc chắn đã ở lại Hàn Quốc sau khi góp phần làm tăng “chi phí hợp lý” của Keangnam Vina tại Việt Nam.

Nghi vấn thứ ba cũng rất đáng chú ý là việc Keangnam Vina đã ký hợp đồng xây dựng với công ty Keangnam Enterprises, cũng là một thành viên trong tập đoàn Keangnam Investment tại Hàn Quốc, theo hình thức chìa khóa trao tay.

Hợp đồng này đưa lại cho Keangnam Enterprises một khoản doanh thu và đi theo đó là một khoản lợi nhuận khủng, lên tới hàng ngàn tỷ đồng. Trong tình huống này, Keangnam Enterprises có hai lựa chọn: hoặc đóng thuế thu nhập doanh nghiệp theo tỷ lệ phần trăm trên lợi nhuận, hoặc đóng thuế nhà thầu theo tỷ lệ phần trăm trên doanh thu sau khi đã trừ đi doanh thu của các nhà thầu phụ.

Keangnam Enterprises sau đó đã chọn cách thứ hai. Thật bất ngờ, khi kiểm tra lại trên các chứng từ và tính toán chi tiết, các chuyên gia ngành thuế phát hiện rằng mức thuế phải nộp theo cách thứ hai chỉ bằng khoảng 10% cách thứ nhất. Phần lớn doanh thu và lợi nhuận đã “ở lại” với Keangnam Enterprises chỉ vì đơn giản là các quy định hiện hành của Việt Nam đã cho phép họ làm điều đó.

Hiện vẫn chưa có kết luận cuối cùng nào về nghi vấn chuyển giá của Keangnam Vina từ phía ngành thuế. Tuy nhiên, từ các phát hiện ban đầu tại doanh nghiệp này, rõ ràng hệ thống pháp lý của Việt Nam còn nhiều bất cập, qua đó có thể “tạo điều kiện” cho các doanh nghiệp FDI tiến hành “biểu diễn kỹ thuật” trên các báo cáo tài chính của họ.

Luật Biển và 9 luật khác có hiệu lực từ 1/1/2013

Lần đầu tiên có luật có quy định đầy đủ chế độ pháp lý các vùng biển, đảo thuộc chủ quyền và quyền chủ quyền của Việt Nam…

Đảo, quần đảo thuộc chủ quyền của Việt Nam là bộ phận không thể tách rời của lãnh thổ Việt Nam, theo khẳng định của Luật Biển Việt Nam.

Bắt đầu từ ngày đầu tiên của năm mới 2013, Luật Biển Việt Nam và 9 luật khác cùng có hiệu lực.

Được chuẩn bị từ Quốc hội khóa 12, thông qua tại kỳ họp thứ 3 (giữa năm 2012) của Quốc hội khóa 13, Luật Biển Việt Nam đã được Chủ tịch nước công bố vào ngày 16/7/2012.

Với sự kiện này, lần đầu tiên Việt Nam có một văn bản luật quy định đầy đủ chế độ pháp lý các vùng biển, đảo thuộc chủ quyền và quyền chủ quyền của Việt Nam theo đúng công ước Luật Biển năm 1982.

Gồm 7 chương, 55 điều, Luật Biển Việt Nam quy định về đường cơ sở, nội thủy, lãnh hải, vùng tiếp giáp lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế, thềm lục địa, các đảo, quần đảo Hoàng Sa, quần đảo Trường Sa và quần đảo khác thuộc chủ quyền, quyền chủ quyền, quyền tài phán quốc gia của Việt Nam; hoạt động trong vùng biển Việt Nam; phát triển kinh tế biển; quản lý và bảo vệ biển, đảo.

Đảo, quần đảo thuộc chủ quyền của Việt Nam là bộ phận không thể tách rời của lãnh thổ Việt Nam, theo khẳng định của Luật Biển Việt Nam.

Luật cũng đã quy định cụ thể nội hàm của việc đi qua không gây hại, hoạt động của tàu thuyền trong các vùng biển của Việt Nam. Đồng thời quy định rõ những hành vi mà tàu thuyền nước ngoài không được làm khi đi qua lãnh hải Việt Nam.

Cụ thể là không được đe dọa hoặc sử dụng vũ lực chống lại độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam cũng như của quốc gia khác. Luyện tập hay diễn tập với bất kỳ kiểu, loại vũ khí nào, dưới bất kỳ hình thức nào, thu thập thông tin gây thiệt hại cho quốc phòng, an ninh của Việt Nam, tuyên truyền nhằm gây hại đến quốc phòng, an ninh của Việt Nam…

Theo quy định của Luật Biển Việt Nam, các cơ quan, tổ chức và mọi công dân Việt Nam có trách nhiệm bảo vệ chủ quyền, quyền chủ quyền, quyền tài phán quốc gia trên các vùng biển, đảo và quần đảo, bảo vệ tài nguyên và môi trường biển.  Nhà nước sẽ thực hiện các chính sách ưu tiên đối với nhân dân sinh sống trên các đảo và quần đảo; chế độ ưu đãi đối với các lực lượng tham gia quản lý và bảo vệ các vùng biển, đảo và quần đảo.

9 luật khác cũng có hiệu lực từ 1/1/2013

Bên cạnh Luật Biển Việt Nam, 9 luật khác cũng có hiệu lực cùng thời điểm gồm: Luật Giáo dục đại học; Luật Công đoàn; Luật Bảo hiểm tiền gửi; Luật Giá; Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật; Luật Giám định tư pháp; Luật Quảng cáo; Luật Tài nguyên nước; Luật Phòng, chống rửa tiền.

Luật Giáo dục đại học gồm 12 Chương, 73 Điều thể hiện rõ quyền tự chủ của cơ sở giáo dục đại học và có các điều khoản giám sát chặt chẽ chất lượng đào tạo trong suốt quá trình sinh viên học tập tại trường.

Với 6 Chương, 33 Điều, Luật Công đoàn đã quy định rõ thêm trách nhiệm cơ quan nhà nước, đơn vị, doanh nghiệp với hoạt động công đoàn và cơ chế giải quyết tranh chấp, xử lý vi phạm pháp luật về công đoàn.

Luật này cũng quy định các cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp phải đóng kinh phí công đoàn bằng 2% quỹ tiền lương làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội cho người lao động.

Với Luật Bảo hiểm tiền gửi , Ngân hàng Nhà nước được xác định là cơ quan chịu trách nhiệm trước Chính phủ thực hiện quản lý nhà nước về bảo hiểm tiền gửi.

Dù còn nhiều tranh cãi khi thảo luận, luật cũng quy định chỉ bảo hiểm tiền gửi của người gửi tiền là cá nhân mà không bảo hiểm tiền gửi của hộ gia đình tổ hợp tác, doanh nghiệp tư nhân và công ty hợp danh.

Luật Giá  quy định danh mục hàng hóa, dịch vụ Nhà nước thực hiện bình ổn giá gồm: xăng, dầu thành phẩm; điện; khí dầu mỏ hóa lỏng; phân đạm; phân NPK; thuốc bảo vệ thực vật theo quy định của pháp luật; vắc-xin phòng bệnh cho gia súc, gia cầm; muối ăn; sữa dành cho trẻ em dưới 6 tuổi; đường ăn (đường trắng và đường tinh luyện); thóc, gạo tẻ thường; thuốc phòng, chữa bệnh cho người thuộc danh mục thuốc chữa bệnh thiết yếu sử dụng tại các cơ sở khám, chữa bệnh theo quy định của pháp luật.

Theo Luật Phổ biến giáo dục pháp luật, ngày 9/11 hàng năm là Ngày Pháp luật Việt Nam, nhằm tôn vinh Hiến pháp, pháp luật, giáo dục ý thức thượng tôn pháp luật cho cán bộ công chức, viên chức, nhân dân và doanh nhân.

Luật Giám định tư pháp quy định tổ chức giám định tư pháp ngoài công lập hoạt động dưới hình thức văn phòng giám định tư pháp được thành lập trong lĩnh vực tài chính, ngân hàng, xây dựng, cổ vật, di vật, bản quyền tác giả.

Ở Luật Quảng cáo, các sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ cấm quảng cáo được quy định rõ, bao gồm:  thuốc lá, rượu có nồng độ cồn từ 15 độ, sữa dùng cho trẻ dưới 24 tháng tuổi, sản phẩm dinh dưỡng dùng cho trẻ dưới 6 tháng tuổi, bình vú, vú ngậm nhân tạo; thuốc kê đơn, thuốc được cơ quan nhà nước khuyến cáo hạn chế sử dụng hoặc sử dụng có sự giám sát của thầy thuốc; sản phẩm hàng hóa có tính chất kích dục, kích động bạo lực; súng săn, đạn súng săn, vũ khí thể thao.

Luật Tài nguyên nước đã quy định cụ thể về các biện pháp phòng, chống ô nhiễm, suy thoái, cạn kiệt nguồn nước và ứng phó và khắc phục sự cố ô nhiễm nguồn nước; quy định giám sát tài nguyên nước, các hoạt động khai thác, sử dụng nước và xả nước thải vào nguồn nước, bảo vệ và phát triển nguồn sinh thủy; quy định hành lang bảo vệ nguồn nước, các biện pháp bảo vệ lòng, bờ, bãi sông, bảo đảm sự lưu thông của dòng chảy… nhằm kiểm soát chặt chẽ các hoạt động có nguy cơ gây ô nhiễm, suy thoái, cạn kiệt nguồn nước để bảo vệ số lượng, chất lượng của nguồn nước và bảo vệ các dòng sông.

Luật Phòng, chống rửa tiền được đánh giá là bước tiến quan trọng trong việc hoàn thiện khuôn khổ pháp lý cho hoạt động phòng chống rửa tiền ở Việt Nam.

Phòng, chống rửa tiền theo luật này được thực hiện chủ yếu thông qua việc thiết lập một cơ chế thu thập, xử lý các thông tin về nhận dạng khách hàng, thông tin về giao dịch bất thường, giao dịch có giá trị lớn để xây dựng cơ sở dữ liệu thống nhất, sàng lọc, xác định các giao dịch có nguy cơ liên quan đến hành vi rửa tiền được thực hiện thông qua các giao dịch tại các tổ chức tài chính, các tổ chức, cá nhân kinh doanh ngành nghề phi tài chính có liên quan.

Thái Nguyên lập ban chỉ đạo đón dự án 2 tỷ USD của Samsung

Samsung dự kiến đầu tư 2 tỷ USD vào Thái Nguyên sau thành công của dự án tại Bắc Ninh…

Dự án nhà máy sản xuất điện thoại di động và điện tử thứ hai của Samsung cũng nhận được mức ưu đãi cao nhất từ Chính phủ Việt Nam.

Tập đoàn Samsung có thể sẽ đầu tư một tổ hợp điện tử tại khu công nghiệp Yên Bình, tỉnh Thái Nguyên với tổng số vốn đầu tư lên tới 2 tỷ USD. Đáp lại, tỉnh Thái Nguyên sẽ có ban chỉ đạo riêng để hỗ trợ nhà đầu tư triển khai dự án.

Nguồn tin từ UBND tỉnh Thái Nguyên cho hay, thực hiện ý kiến chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ về định hướng đầu tư dự án thứ hai của tập đoàn Samsung (Hàn Quốc) vào Việt Nam, ông Dương Ngọc Long, Chủ tịch UBND tỉnh đã chủ trì cuộc họp với đại diện các sở, ban, ngành và UBND huyện Phổ Yên nhằm đánh giá tiến độ về mặt bằng, xây dựng cơ sở hạ tầng thiết yếu, đáp ứng yêu cầu của các nhà đầu tư tại khu công nghiệp Yên Bình (Phổ Yên).

Theo đó, trước mắt, Thái Nguyên cần tập trung giải phóng từ 50-70 ha mặt bằng, san nền và xây dựng cơ sở hạ tầng cũng như các công trình điện, nước, hệ thống viễn thông, đáp ứng yêu cầu của nhà đầu tư.

Hiện tại, Công ty Cổ phần Đầu tư phát triển Yên Bình đã phối hợp với UBND huyện Phổ Yên và các cơ quan chức năng của tỉnh tổ chức đền bù, giải phóng mặt bằng được 20 ha, dự kiến đến cuối tháng 11/2012, giải phóng mặt bằng 30 ha. Hiện hai dự án cải tạo, nâng cấp đường Ba Hàng – Tiên Phong (Phổ Yên) và đường kết nối với khu công nghiệp cũng đang được thực hiện theo kế hoạch.
 
Chủ tịch tỉnh Thái Nguyên yêu cầu, trong thời gian tới, các cấp, các ngành, các cơ quan, đơn vị và doanh nghiệp có liên quan cần làm tốt công tác vận động nhân dân nghiêm túc việc giao đất, giải phóng mặt bằng để thực hiện dự án; tổ chức hướng dẫn, tạo điều kiện cho chủ đầu tư hoàn chỉnh các hồ sơ liên quan đến dự án.

Cũng tại cuộc họp, Thái Nguyên đã thống nhất thành lập ban chỉ đạo hỗ trợ thực hiện đầu tư các dự án trong khu công nghiệp Yên Bình với 28 thành viên do ông Dương Ngọc Long làm trưởng ban.

Trước đó, trong tháng 9/2012, Văn phòng Chính phủ đã có Công văn số 7171/VPCP-QHQT về việc giải quyết ưu đãi đầu tư cho công ty Samsung Electronics Việt Nam.

Theo công văn này, Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Tấn Dũng đã có ý kiến đồng ý để Bộ Kế hoạch và Đầu tư chủ trì, phối hợp với các cơ quan, địa phương liên quan, làm việc cụ thể với Samsung để định hướng việc đầu tư dự án thứ hai của Samsung vào tỉnh Thái Nguyên để tiếp tục được hưởng các quy định ưu đãi đầu tư cao nhất theo quy định của pháp luật.

Trước đó, vào ngày 6/12/2012, Samsung đã đề xuất với tỉnh Thái Nguyên việc đầu tư xây dựng nhà máy sản xuất, gia công, lắp ráp điện thoại di động và các sản phẩm điện tử công nghệ cao với quy mô vốn đầu tư khoảng 2 tỷ USD tại khu công nghiệp Yên Bình, tỉnh Thái Nguyên.

Theo đề xuất này, Samsung sẽ hình thành doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài hoạt động theo loại hình doanh nghiệp chế xuất, tương tự như dự án tại Bắc Ninh hiện nay. Việc sản xuất, gia công lắp ráp điện thoại di động và các sản phẩm công nghệ cao, đặc biệt là các dòng sản phẩm thế hệ mới, ứng dụng công nghệ cao, có giá trị thương mại và là sản phẩm mũi nhọn của tập đoàn như Galaxy SIII, Galaxy Tab, Galaxy Note…

Dự án dự kiến sẽ thu hút 10.000 lao động trong những năm đầu đi vào hoạt động và có thể tăng lên 30.000 lao động trong những năm tiếp theo.

Samsung cũng đề nghị được hưởng ưu đãi về thuế thu nhập doanh nghiệp 10% trong thời gian 30 năm kể từ khi bắt đầu hoạt động, được miễn thuế trong 4 năm kể từ khi có lãi và giảm 50% số thuế phải nộp trong 9 năm tiếp theo…

Được biết, dự án đầu tư của Samsung tại khu công nghiệp Yên Phong, Bắc Ninh có vốn đầu tư ban đầu là 670 triệu USD đã được tăng vốn lên 1,5 tỷ USD vào tháng 11/2012. Theo tính toán của Samsung, năm 2012, nhà máy Samsung tại Bắc Ninh sẽ đạt kim ngạch xuất khẩu 12 tỷ USD.

Kinh tế 2013: Thoát đáy vượt dốc?

Nếu không có biện pháp quyết liệt và đồng bộ thì việc “thoát đáy vượt dốc đi lên” sẽ khó đạt được…

Một kết quả nổi bật là dự trữ ngoại hối tăng, cao gấp đôi cuối năm trước, gần đạt mức 12 tuần nhập khẩu – ranh giới an toàn theo thông lệ quốc tế – Ảnh: TT.

Kinh tế năm 2012 bên cạnh nhiều kết quả tích cực, cũng còn những hạn chế, bất cập và đứng trước những thách thức không nhỏ.

Những kết quả tích cực

Rõ nhất là lạm phát đã được kiềm chế. Tốc độ tăng giá tiêu dùng (CPI) tháng 12/2012 so với tháng 12/2011 thấp hơn nhiều so với con số tương ứng của năm 2010, 2011 (tương ứng là 6,81% so với 11,75% và 18,13%), thấp xa so với bình quân thời kỳ 2004 – 2011 (11,58%), thấp hơn so với mục tiêu theo Nghị quyết của Quốc hội (dưới 10%).

Đáng lưu ý trong năm có tới 7 tháng tăng thấp và giảm; giá lương thực giảm sâu và giá thực phẩm tăng rất thấp – trong khi hai nhóm này chiếm tới gần 40% tổng tiêu dùng của dân cư và chiếm tỷ trọng cao hơn nữa đối với người nghèo, người có thu nhập thấp. Đây là niềm vui của người tiêu dùng nói chung và người nghèo, người có thu nhập thấp nói riêng.

Lạm phát được kiềm chế do nhiều nguyên nhân. Nguyên nhân trực tiếp là tiền tệ, tài khoá được thắt chặt, với lãi suất cho vay cao, kéo dài; tăng trưởng tín dụng thấp (năm 2011 thấp chưa bằng một nửa mấy năm trước, năm 2012 giảm trong nửa năm, tính chung cả năm cũng chưa bằng một nửa năm trước). Đầu tư, sản xuất, tiêu dùng co lại. Giá lương thực giảm (5,66%), giá thực phẩm tăng thấp (0,95%).

Một kết quả nổi bật là dự trữ ngoại hối tăng, cao gấp đôi cuối năm trước, gần đạt mức 12 tuần nhập khẩu – ranh giới an toàn theo thông lệ quốc tế.

Dự trữ ngoại hối tăng do hai yếu tố. Yếu tố thứ nhất do cán cân thanh toán quốc tế có số dư, ước đạt 10 tỷ USD, kỷ lục từ trước tới nay.

Cán cân thanh toán có số dư do hai yếu tố.

(1) Cán cân thương mại lần đầu tiên sau 20 năm nhập siêu, đặc biệt 5 năm qua (bình quân 13,5 tỷ USD/năm), năm nay đã chuyển sang xuất siêu (gần 0,3 tỷ USD).

Cán cân thương mại đạt thặng dư, do xuất khẩu đạt được nhiều sự vượt trội về tổng kim ngạch xuất khẩu (114,6 tỷ USD), về kim ngạch bình quân đầu người (đạt 1300 USD), về tỷ lệ xuất khẩu so với GDP (đạt trên 82%), về tốc độ tăng cao hơn so với tốc độ tăng của nhập khẩu (18,3% so với 7,1%), tăng cao so với kế hoạch.

(2) Lượng ngoại tệ vào Việt Nam từ các nguồn đạt khá. Lượng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài thực hiện ước đạt 10,5 tỷ USD, tương đương với mức thực hiện trong 4 năm trước. Lượng vốn hỗ trợ phát triển chính thức giải ngân đạt mức kỷ lục từ trước tới nay.

Lượng kiều hối gửi về nước ước đạt khoảng 10,5 tỷ USD, cao nhất từ trước tới nay. Chi tiêu của khách quốc tế tới Việt Nam ước có thể đạt 6,6 tỷ USD, tăng khoảng 1 tỷ USD so với kỷ lục đạt được trong năm trước chủ yếu do lượng khách quốc tế tăng và một phần do chi tiêu bình quân 1 khách tăng.

Yếu tố thứ hai do lượng ngoại tệ mua được ở trong dân cư và doanh nghiệp đạt khá, không những góp phần tăng dự trữ ngoại hối mà còn hạn chế tình trạng găm giữ ngoại tệ, chống Đôla hoá.

Do lạm phát được kiềm chế, do cán cân thanh toán quốc tế được cải thiện, do lãi suất gửi tiết kiệm bằng VND cao hơn nhiều lần ngoại tệ,… nên tỷ giá VND/USD cả năm lần đầu tiên tính từ năm 2007 đã giảm 0,96%, trong khi mấy năm trước tăng cao (năm 2008 tăng 6,31%, năm 2009 tăng 10,7%, năm 2010 tăng 9,68%, năm 2011 tăng thấp hơn cũng ở mức 2,24%). Dự trữ ngoại hối tăng, cao gấp đôi so với cuối năm 2011, tỷ giá giảm là một kết quả nổi bật của năm 2012, góp phần ổn định kinh tế vĩ mô.

Tăng trưởng kinh tế có kết quả tích cực, thể hiện ở một số điểm. Tăng trưởng đã cao lên qua các quý (quý 1 tăng 4,64%, quý 2 tăng 4,80%, quý 3 tăng 5,05%, quý 4 tăng 5,44%). Tăng trưởng đạt được ở cả 3 nhóm ngành, trong đó nhóm ngành dịch vụ tăng cao hơn tốc độ chung (6,42%% so với 5,03%). Tăng trưởng 5,2% được coi là hợp lý, với nhiều lý do.

Tăng trưởng đạt được trong điều kiện phải thực hiện mục tiêu ưu tiên là kiềm chế lạm phát – mà các giải pháp thực hiện mục tiêu này thường có hiệu ứng phụ là tăng trưởng kinh tế bị suy giảm.

Tăng trưởng đạt được trong điều kiện nền kinh tế gặp nhiều điểm nghẽn lớn: nợ xấu tăng cao, tồn kho lớn, bất động sản đóng băng. Tăng trưởng đạt được trong điều kiện tỷ lệ vốn đầu tư xã hội/GDP năm 2012 ước đạt 33,5%, thấp so với các thời kỳ trước (năm 2011 là 34,6%, bình quân thời kỳ 2006 – 2010 là 42,7%); trong điều kiện tốc độ tăng tổng mức bán lẻ hàng hoá và doanh thu dịch vụ tiêu dùng, nếu loại trừ yếu tố tăng giá, thấp chưa bằng một nửa bình quân thời kỳ 2006 – 2011 (6,2% so với 15%).

Công cuộc cơ cấu lại nền kinh tế, chuyển đổi mô hình tăng trưởng được khởi động và đẩy mạnh trong điều kiện nguồn lực tài chính của doanh nghiệp, ngân sách nhà nước khó khăn…

Những hạn chế, bất cập và thách thức

Ngay trong những kết quả tích cực đã đạt được như trên cũng chứa đựng những hạn chế, bất cập, nếu xét về nguyên nhân của chúng. Lạm phát thấp hơn năm trước và thấp hơn mục tiêu buôn bán với nước ngoài, chuyển từ nhập siêu sang xuất siêu, có một phần quan trọng do đầu tư, sản xuất và tiêu dùng bị “co lại”.

Sự “co lại” này trước mắt tuy góp phần kiềm chế lạm phát, cải thiện cán cân thương mại, nhưng việc kiềm chế, cải thiện đó sẽ không vững chắc. Yếu tố tiềm ẩn và nguyên nhân sâu xa của lạm phát là hiệu quả đầu tư, năng suất lao động, thì cả 2 yếu tố này của Việt Nam vẫn còn thấp so với các nước và việc cải thiện còn chậm.

Nguyên nhân chủ yếu của nhập siêu là hiệu quả, sức cạnh tranh thấp, là cơ cấu sản xuất và xuất khẩu mang tính gia công lắp ráp…, mà về mặt này, sự cải thiện của Việt Nam còn chậm. Nền kinh tế vẫn còn đứng trước thách thức lạm phát và nhập siêu quay trở lại. Lạm phát quay trở lại bởi có những yếu tố tác động.

Sự nới lỏng chính sách tiền tệ – tài khoá từ giữa năm 2012, nay có thể được tiếp tục với liều lượng cao hơn để tháo gỡ nợ xấu, tồn kho, thị trường bất động sản, cơ cấu lại các ngân hàng thương mại.

Giá thực phẩm đã có dấu hiệu tăng cao trở lại khi đàn gia súc tại thời điểm 1/10 giảm, mùa cưới hỏi, tổng kết, Tết cổ truyền, lễ hội đang đến gần. Việc thực hiện lộ trình giá thị trường của các doanh nghiệp giữ vị thế độc quyền thường thực hiện khi giá tiêu dùng vừa mới tăng thấp, nếu không có sự phối hợp chặt chẽ giữa các bộ, ngành, giữa Trung ương, địa phương, cơ sở, nếu không cân nhắc về liều lượng, về thời gian điều chỉnh như đã xảy ra hồi tháng 8, tháng 9 thì sẽ làm cho CPI tăng cao.

Giá thế giới có thể tăng lên khi các nền kinh tế lớn bơm tiền kích thích kinh tế; nếu tỷ giá không được giữ ổn định và nhập siêu trở lại, thì sẽ làm xuất hiện “nhập khẩu lạm phát” và “khuếch đại lạm phát” ở trong nước. Năm 2012 xuất siêu, nhưng mục tiêu năm 2013 lại nhập siêu khi tốc độ tăng xuất khẩu thấp hơn tốc độ tăng nhập khẩu…

Tăng trưởng kinh tế năm 2012 là mức thấp nhất trong 13 năm qua, tính từ năm 2000. Trong đó, tăng trưởng của nhóm ngành công nghiệp và xây dựng (sau nhiều năm tăng trưởng cao nhất và với tỷ trọng cao nhất trong GDP, đã trở thành động lực và đầu tàu tăng trưởng của toàn bộ nền kinh tế), thì nay đã 2 năm liên tiếp thấp hơn tốc độ tăng chung- tức là chưa thoát đáy.

Thu, chi ngân sách năm 2012 gặp khó khăn nhất trong nhiều năm qua, do nguồn thu bị hạn chế khi tăng trưởng kinh tế bị suy giảm, nhập khẩu tăng thấp, trong khi chi cho việc tháo gỡ khó khăn cho sản xuất kinh doanh, hỗ trợ thị trường, tháo gỡ các điểm nghẽn, tái cơ cấu, chi bảo đảm an sinh xã hội tăng…

Doanh nghiệp ngừng hoạt động, phá sản, thu hẹp sản xuất kinh doanh đã tăng trong năm 2011, tiếp tục tăng lên trong năm 2012 và gặp khó khăn do bị suy kiệt trong mấy năm qua.

Thị trường chứng khoán lình xình, bị sụt giảm về điểm số, về giá trị giao dịch. Thị trường bất động sản “đao” xuống thời gian khá dài. Thị trường tiền tệ gặp khó khăn hiếm thấy, khi tăng trưởng tín dụng thấp, nợ xấu cao, xuất hiện các nhóm lợi ích thâu tóm ngân hàng…

Mục tiêu năm 2013, với chỉ tiêu chủ yếu là lạm phát thấp hơn, tăng trưởng cao hơn, là một kỳ vọng theo hai ý nghĩa: kinh tế sẽ tốt đẹp hơn nếu mục tiêu đó thực hiện được; nhưng nếu không có biện pháp quyết liệt và đồng bộ thì việc “thoát đáy vượt dốc đi lên” sẽ khó đạt được.

Cần lưu ý, các mô hình kinh tế khi bị khủng hoảng có 4 dạng.

Dạng một là hình chữ V, tức là xuống đáy nhanh, nhưng ngắn và vượt dốc đi lên cũng nhanh.

Dạng hai là hình chữ W, tức là xuống đáy 2 lần nhanh, nhưng ngắn và vượt dốc cũng nhanh.

Dạng ba là hình chữ U, tức là xuống đáy nhanh, nhưng phải mất thời gian tương đối dài mới vượt dốc đi lên.

Dạng bốn là hình chữ L, tức là xuống đáy nhanh, nhưng nằm ở đó khá lâu, chưa biết bao giờ mới vượt dốc đi lên được.

(Nguồn: Thời báo Kinh tế Việt Nam)

Lịch trả cổ tức bằng tiền tháng 1/2013

Tổng hợp ngày trả cổ tức bằng tiền của các doanh nghiệp niêm yết trên HOSE và HNX trong tháng 1/2013…

Diễn biến giá cổ phiếu MPC trong 3 tháng qua. Nguồn: HOSE.

Tổng hợp ngày trả cổ tức bằng tiền của các doanh nghiệp niêm yết trên HOSE và HNX trong tháng 1/2013.

* Ngày 4/1/2013, Công ty Cổ phần Tập đoàn Thuỷ sản Minh Phú (mã MPC-HOSE) tạm ứng cổ tức bằng tiền mặt năm 2012 với tỷ lệ 25%/cổ phiếu (1 cổ phiếu được nhận 2.500 đồng).

* Ngày 7/1/2013, Công ty Cổ phần Fiditour (mã FDT-HNX) tạm ứng cổ tức bằng tiền đợt 2/2012 với tỷ lệ 7%/cổ phiếu (1 cổ phiếu được nhận 700 đồng).

* Ngày 7/1/2013, Công ty Cổ phần Tập đoàn Daco Việt Nam (mã DBC-HOSE) tạm ứng cổ tức bằng tiền năm 2012 với tỷ lệ 15%/cổ phiếu (1 cổ phiếu được nhận 1.500 đồng).

* Ngày 8/1/2013, Công ty Cổ phần Dệt may Đầu tư thương mại Thành Công (mã TCM-HSX) thanh toán cổ tức đợt 2/2011 bằng tiền với tỷ lệ 7%/cổ phiếu (1 cổ phiếu nhận được 700 đồng).

* Ngày 10/1/2013, Công ty Cổ phần Xuất nhập khẩu Khánh Hội (mã KHA-HOSE) tạm ứng cổ tức bằng tiền đợt 2/2012 với tỷ lệ 5%/cổ phiếu (1 cổ phiếu được nhận 500 đồng).

* Ngày 10/1/2013, Công ty Cổ phần Mía đường Lam Sơn (mã LSS-HOSE) trả cổ tức đợt 2/2011 bằng tiền với tỷ lệ 10%/cổ phiếu (1 cổ phiếu nhận được 1.000 đồng).

* Công ty Cổ phần Xây dựng số 5 (mã VC5-HNX) thông báo điều chỉnh thời gian thanh toán cổ tức đợt 2 năm 2011 bằng tiền sang ngày 10/1/2013 thay vì ngày 31/12/2012 như đã thông báo do ngày thanh toán cổ tức đã thông báo trùng với ngày nghỉ lễ tết Dương lịch năm 2013.

Giá gas giảm từ đầu năm mới 2013

Giá gas bán lẻ trên thị trường sẽ giảm 7.000 đồng/bình 12kg bắt đầu từ 7h30 sáng 1/1/2013…

Giá gas bán lẻ trong nước được điều chỉnh giảm do tác động từ giá thế giới giảm.

Ông Đỗ Trung Thành, Phó phòng Kinh doanh của Công ty TNHH Một thành viên Dầu khí Tp.HCM (Saigon Petro) cho biết, doanh nghiệp này sẽ giảm giá gas bán lẻ 7.000 đồng/bình 12kg từ 7h30 sáng 1/1/2013.

Theo đó, với mức giảm tương ứng là 583 đồng/kg so với đầu tháng 12/2012, giá gas của Saigon Petro tới tay người tiêu dùng khu vực Tp.HCM là 422.000 đồng/bình 12kg.

Trao đổi với VnEconomy, đại diện Công ty MTGas cho hay, đơn vị này cũng giảm giá gas 7.000 đồng/bình 12kg từ ngày 1/1/2013.

Còn phía Công ty Cổ phần Gas Petrolimex Hà Nội hiện chưa có quyết định cuối cùng. Vào ngày mai, hãng này mới có giá bán lẻ mới cho hệ thống.

Việc điều chỉnh giảm giá bán lần này được Saigon Petro lý giải là do giá gas thế giới trong tháng đã giảm 25 USD/tấn so với đầu tháng 11/2012, xuống còn 955 USD/tấn.

Được biết, trong năm 2012, giá gas có 9 lượt tăng giá và 7 lượt giảm giá.

Thống đốc và định hướng điều hành tiền tệ 2013

Chính sách về lãi suất, tỷ giá, xử lý nợ xấu, thị trường vàng… từ góc nhìn của Thống đốc Nguyễn Văn Bình…

2012 là một năm nhiều thử thách đối với Thống đốc Ngân hàng Nhà nước.

“Trong thời gian tới, khi hoạt động thị trường tiền tệ ổn định bền vững và điều kiện kinh tế vĩ mô cho phép, Ngân hàng Nhà nước sẽ xem xét dần tháo gỡ các biện pháp hành chính”, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Nguyễn Văn Bình trả lời phỏng vấn VnEconomy về kết quả điều hành chính sách tiền tệ năm 2012 và định hướng cho năm 2013.

Có thời điểm dư luận đưa thông tin thiếu chính xác

Ở góc độ cá nhân, đâu là những điểm mà ông hài lòng và chưa hài lòng trong kết quả điều hành chính sách tiền tệ năm 2012?

Nhìn lại một năm qua, có thể thấy rằng điều hành chính sách tiền tệ của Ngân hàng Nhà nước đã có những đóng góp quan trọng, giúp tăng cường ổn định kinh tế vĩ mô, lạm phát được kiềm chế, hỗ trợ tăng trưởng ở mức hợp lý. Trong đó, Ngân hàng Nhà nước đã thể hiện rõ nét được vai trò chủ động dẫn dắt và định hướng thị trường, ứng phó linh hoạt và kịp thời với những biến chuyển trên thị trường tiền tệ.

Chúng ta đặt mục tiêu hạ lãi suất và mặt bằng đã giảm từ 3 – 8%/năm so với cuối năm 2011, góp phần tháo gỡ khó khăn, giảm áp lực chi phí vay vốn của các doanh nghiệp và hộ dân, qua đó hỗ trợ tăng tổng cầu của nền kinh tế.

Thị trường ngoại hối và tỷ giá ổn định, lòng tin vào đồng Việt Nam và các giải pháp điều hành của Ngân hàng Nhà nước được củng cố, tình trạng đô la hóa từng bước giảm bớt, dự trữ ngoại hối tăng mạnh, góp phần tăng tiềm lực tài chính quốc gia.

Cơ chế mới về quản lý hoạt động kinh doanh vàng theo Nghị định 24 đã đạt được các mục tiêu định hướng đặt ra, góp phần ổn định kinh tế vĩ mô và hỗ trợ ổn định thị trường ngoại hối và tỷ giá.

Thống đốc và định hướng điều hành tiền tệ 2013 1Mặc dù trong thời gian qua Ngân hàng Nhà nước đã tích cực tăng cường công tác truyền thông để định hướng dư luận và tạo lòng tin cho công chúng, tuy nhiên vẫn còn một số hạn chế trong công tác này, có thời điểm xảy ra dư luận đưa thông tin thiếu chính xác nên công chúng hiểu chưa rõ về chủ trương, chính sách của Ngân hàng Nhà nước. Thống đốc Nguyễn Văn Bình

Thanh khoản của hệ thống ngân hàng được cải thiện, những tháng cuối năm 2011, nhiều tổ chức tín dụng khó khăn về thanh khoản nhưng Ngân hàng Nhà nước đã thành công trong việc giữ vững ổn định hệ thống, đến nay thanh khoản hệ thống cơ bản ổn định và cải thiện tích cực; quá trình tái cơ cấu các tổ chức tín dụng đã có những kết quả bước đầu.

Tuy nhiên, trong điều kiện chịu tác động từ diễn biến phức tạp của kinh tế thế giới và những khó khăn nội tại của nền kinh tế, điều hành chính sách tiền tệ của Ngân hàng Nhà nước vẫn đối mặt với một số khó khăn.

Hoạt động của hệ thống các tổ chức tín dụng về cơ bản an toàn nhưng nợ xấu gia tăng, là kết quả tích lũy của một thời gian dài trước đây. Tín dụng tăng trưởng thấp so với mục tiêu đề ra, chủ yếu là do các nhân tố bên cầu tín dụng ngoài lãi suất như sức cầu trong nước và cầu nước ngoài yếu; khả năng tiêu thụ sản phẩm khó khăn; hàng tồn kho tăng cao nên nhiều doanh nghiệp gặp khó khăn, không đủ điều kiện vay vốn; tồn kho bất động sản khá lớn…

Điều đó cho thấy, để lưu thông dòng vốn tín dụng, cần có sự phối hợp đồng bộ các chính sách từ phía các bộ, ngành trong thời gian tới.

Ở một khía cạnh khác, tôi thấy rằng, mặc dù trong thời gian qua Ngân hàng Nhà nước đã tích cực tăng cường công tác truyền thông để định hướng dư luận và tạo lòng tin cho công chúng, tuy nhiên vẫn còn một số hạn chế trong công tác này, có thời điểm xảy ra dư luận đưa thông tin thiếu chính xác nên công chúng hiểu chưa rõ về chủ trương, chính sách của Ngân hàng Nhà nước.

Sẽ gỡ dần các biện pháp hành chính

Năm 2012, có thể nói Ngân hàng Nhà nước đã thực hiện được mục tiêu kiềm chế lạm phát, giảm được lãi suất. Vậy xin hỏi Thống đốc, trong năm 2013, định hướng điều hành lãi suất và mức độ can thiệp của các biện pháp hành chính sẽ như thế nào?

Năm 2013, trên cơ sở mục tiêu của Quốc hội, Chính phủ, Ngân hàng Nhà nước sẽ điều hành chính sách tiền tệ thận trọng, hiệu quả; sử dụng linh hoạt các công cụ của chính sách tiền tệ; gắn kết chặt chẽ với chính sách tài khóa theo mục tiêu kiềm chế lạm phát, tăng cường ổn định kinh tế vĩ mô và bảo đảm tăng trưởng hợp lý.

Theo đó, Ngân hàng Nhà nước điều hành lãi suất phù hợp với diễn biến kinh tế vĩ mô, mục tiêu kiểm soát lạm phát và hỗ trợ tăng trưởng kinh tế ở mức hợp lý; đảm bảo thanh khoản và hoạt động của hệ thống tổ chức tín dụng và của nền kinh tế.

Về các biện pháp hành chính quản lý lãi suất, đây là những giải pháp mang tính chất tạm thời, áp dụng trong điều kiện thị trường tiền tệ và hoạt động ngân hàng chưa thật sự ổn định. Trong thời gian tới, khi hoạt động thị trường tiền tệ ổn định bền vững và điều kiện kinh tế vĩ mô cho phép, Ngân hàng Nhà nước sẽ xem xét dần tháo gỡ các biện pháp hành chính, tạo điều kiện cho các tổ chức tín dụng hoạt động hiệu quả, lành mạnh, phù hợp với cơ chế thị trường.

Thống đốc và định hướng điều hành tiền tệ 2013 2Cuối năm 2012, Ngân hàng Nhà nước đã trình Chính phủ đề án xử lý nợ xấu của hệ thống tổ chức tín dụng. Trong năm 2013, trọng tâm của Ngân hàng Nhà nước là triển khai thực hiện các giải pháp được Chính phủ thông qua tại đề án này. Thống đốc Nguyễn Văn Bình


Cuối năm 2011 và năm 2012, Thống đốc đã lần lượt đưa ra định hướng “giới hạn” biên độ của tỷ giá USD/VND và đã giữ vững. Với năm 2013, ông có thể đưa ra một “giới hạn” tương tự hay không?

Một dấu ấn khác biệt trong điều hành tỷ giá và thị trường ngoại hối trong giai đoạn gần đây là việc Ngân hàng Nhà nước chủ động đưa ra những cam kết mạnh mẽ về ổn định tỷ giá để thể hiện quyết tâm của cơ quan điều hành, ổn định tâm lý thị trường và định hình kỳ vọng về tỷ giá của công chúng. Cả hai lần cam kết về ổn định tỷ giá đều được thực hiện thành công.

Để có thành công này, khi đưa ra cam kết, chúng tôi đã có những phân tích kỹ lưỡng các yếu tố ảnh hưởng đến tỷ giá VND/USD cũng như mục tiêu điều hành chính sách tiền tệ nói riêng và chính sách vĩ mô nói chung.

Còn năm tới, tôi cũng lưu ý là bối cảnh và tình hình chung sẽ có những khác biệt so với năm 2012, có nhiều thử thách. Song định hướng chung là Ngân hàng Nhà nước tiếp tục giữ ổn định tỷ giá, điều hành có sự linh hoạt, phù hợp với diễn biến thị trường và tình hình cung cầu ngoại tệ, góp phần nâng cao tính cạnh tranh của hàng hóa trong nước, khuyến khích xuất khẩu, giảm nhập siêu, tiếp tục cải thiện cán cân thanh toán quốc tế và tăng dự trữ ngoại hối nhà nước, giữ ổn định giá trị đồng Việt Nam, hỗ trợ phát triển bền vững và chống đô la hóa nền kinh tế.

Ngân hàng Nhà nước sẽ tiếp tục triển khai các giải pháp khắc phục căn bản tình trạng đô la hóa nền kinh tế, cũng như tập trung nguồn ngoại tệ vào hệ thống tổ chức tín dụng để tạo điều kiện đáp ứng tốt nhu cầu ngoại tệ hợp pháp, hợp lý của nền kinh tế để hỗ trợ công tác điều hành tỷ giá.

Xử lý nợ xấu, chống “vàng hóa”

Một khó khăn nổi bật trong năm 2012 là nợ xấu tăng cao. Vậy năm 2013 Ngân hàng Nhà nước sẽ tập trung xử lý như thế nào, thưa Thống đốc?

Cuối năm 2012, Ngân hàng Nhà nước đã trình Chính phủ đề án xử lý nợ xấu của hệ thống tổ chức tín dụng. Trong năm 2013, trọng tâm của Ngân hàng Nhà nước là triển khai thực hiện các giải pháp được Chính phủ thông qua tại đề án này.

Có thể kể đến các giải pháp lớn như: thành lập công ty quản lý tài sản Việt Nam để xử lý tập trung nợ xấu; triển khai sửa đổi, bổ sung các quy định về mua trái phiếu doanh nghiệp, cấp tín dụng; xây dựng quy định mới về phân loại nợ, trích lập dự phòng rủi ro theo hướng chặt chẽ hơn và mở rộng phạm vi tài sản có tiềm ẩn rủi ro tín dụng phải phân loại và trích lập dự phòng để phản ánh đầy đủ hơn thực trạng nợ xấu và hạn chế nợ xấu gia tăng; sửa đổi, bổ sung và hoàn thiện các quy định an toàn trong hoạt động ngân hàng; tăng cường công tác thanh tra giám sát trong việc thực hiện các quy định về cấp tín dụng, an toàn hoạt động và phân loại nợ, trích lập dự phòng rủi ro…

Các bộ, ngành cũng sẽ triển khai đồng bộ và quyết liệt các giải pháp nhằm xử lý hàng tồn kho; phát triển thị trường bất động sản; sửa đổi, bổ sung và hoàn thiện các quy định về bán, xử lý tài sản bảo đảm tiền vay để giúp ngân hàng xử lý tài sản đảm bảo, nhanh chóng thu hồi nợ.

Ngoài ra, Ngân hàng Nhà nước sẽ tiếp tục đôn đốc các tổ chức tín dụng tích cực xử lý nợ xấu thông qua các biện pháp như đánh giá lại chất lượng và khả năng thu hồi của các khoản nợ để có biện pháp xử lý thích hợp, tăng cường trích lập và sử dụng dự phòng rủi ro để xử lý nợ xấu…

Thống đốc và định hướng điều hành tiền tệ 2013 3Trong thời gian tới, khi thị trường vàng đã hoạt động tương đối ổn định, dự kiến Ngân hàng Nhà nước sẽ tham gia với vai trò là người kiến tạo, mua bán cuối cùng để đảm bảo sự lưu thông của thị trường và tăng dự trữ ngoại hối nhà nước bằng vàng, phù hợp với mục tiêu điều hành chính sách tiền tệ trong từng thời kỳ. Thống đốc Nguyễn Văn Bình

Với thị trường vàng, Thống đốc nói gì về kết quả của chính sách quản lý năm qua? Một số thông tin gợi mở rằng Ngân hàng Nhà nước sẽ tham gia điều tiết thị trường…

Có thể khẳng định 2012 là năm đánh dấu sự thành công bước đầu của công tác quản lý thị trường vàng nói chung thông qua việc Ngân hàng Nhà nước đã từng bước hoàn thiện cơ sở pháp lý để quản lý thị trường vàng, chấm dứt hoạt động huy động và cho vay vốn bằng vàng vào ngày 25/11/2012.

Kết quả bước đầu sau khi Nghị định 24 được ban hành cho thấy với sự kết hợp của Nghị định 95 và các biện pháp Ngân hàng Nhà nước đã triển khai, thị trường vàng miếng trong nước có nhiều chuyển biến đáng kể so với trước kia.

Chúng ta thấy rằng, mặc dù giá vàng trong nước và thế giới biến động mạnh, nhưng không như thời gian trước đây, khoảng cách lớn giữa giá vàng trong nước và giá vàng thế giới không đi kèm với hiện tượng “sốt vàng”. Ngân hàng Nhà nước không cho phép nhập khẩu vàng, không thực hiện bình ổn giá nhưng hầu như không diễn ra việc thu gom ngoại tệ trên thị trường tự do để nhập lậu, nhờ đó tỷ giá và thị trường ngoại tệ ổn định, không bị tác động tiêu cực bởi sự biến động của giá vàng.

Sau khi chấm dứt hoạt động huy động và cho vay vốn bằng vàng, thị trường vàng sẽ không còn hoạt động huy động vàng để cho vay vàng đầu tư hoặc chuyển đổi vàng huy động thành tiền, không được vay vốn mua vàng, chỉ còn quan hệ mua – bán vàng theo đúng chủ trương của Nhà nước về việc chống “vàng hóa” trong nền kinh tế, từ đó giảm nhu cầu cất trữ vàng và giảm tâm lý nắm giữ vàng trong dân, góp phần tăng nguồn cung vàng trên thị trường.
 
Trong thời gian tới, khi thị trường vàng đã hoạt động tương đối ổn định, dự kiến Ngân hàng Nhà nước sẽ tham gia với vai trò là người kiến tạo, mua bán cuối cùng để đảm bảo sự lưu thông của thị trường và tăng dự trữ ngoại hối nhà nước bằng vàng, phù hợp với mục tiêu điều hành chính sách tiền tệ trong từng thời kỳ. Đây là kênh chính để huy động nguồn lực vàng trong nền kinh tế nhằm mục tiêu chuyển hóa nguồn lực vàng, phục vụ cho hoạt động sản xuất kinh doanh và sự nghiệp phát triển kinh tế của đất nước.

Trả phí thẻ: “Tùy tâm” mỗi ngân hàng…

May mà cơ chế thu phí giao dịch thẻ còn để cửa hỗ trợ khách hàng, tùy vào “thành ý” của mỗi nhà băng…

Với các chủ thẻ cũ, phải trả phí hay không thì chỉ biết chờ vào… may mắn. Nhưng các khách hàng mới chắc chắn sẽ để tâm đến điều này khi chọn nơi mở thẻ.

Ngân hàng Nhà nước vừa ban hành thông tư quy định về phí dịch vụ thẻ ghi nợ nội địa. Quyền thu phí giao dịch của các ngân hàng chính thức xác lập cụ thể. “Cửa” hỗ trợ khách hàng còn lại là tùy tâm của họ.

Chính sách cho thu phí bắt đầu có hiệu lực từ ngày 1/3/2013. Một loạt phí giao dịch liên quan chính thức bắt đầu…

2 triệu và 5 triệu đồng

Không phải lúc này mà những năm qua nhiều ngân hàng thương mại đã rục rịch tính chuyện và tìm cách thu phí giao dịch thẻ. Ngay từ thực tế cố chia nhỏ món tiền chi trả cũng đã thể hiện “ý đồ”.

Hiện phần lớn các nhà băng đang áp mức phí rút tiền mặt ngoại mạng là 3.300 đồng/giao dịch (bao gồm VAT). Càng chia nhỏ món tiền để ép thêm giao dịch đồng nghĩa với việc tăng thêm nguồn thu phí.

Cùng một mức 5 triệu đồng, rút tiền mặt tại ATM một vài ngân hàng chỉ mất 1 lần giao dịch, nhưng tại nhiều thành viên có khi phải thực hiện tới 3 giao dịch, theo mức giới hạn 2 triệu đồng/lần. Theo đó, mức phí để rút 5 triệu đồng đó là 3.300 đồng, nhưng cũng có thể lên tới 9.900 đồng.

Theo dữ liệu của Công ty Cổ phần Dịch vụ thẻ Smartlink, hiện nay bình quân mỗi tháng có gần 5 triệu giao dịch ATM và POS được xử lý giữa 39 ngân hàng thành viên. Tổng số phí theo đó có thể rất lớn. Nhưng, như ví dụ trên, giả sử các nhà băng đều “chơi đẹp”, cùng cho giới hạn 5 triệu đồng/lần giao dịch cũng đã là sự hỗ trợ đáng kể cho khách hàng, đó là chưa nói về việc giảm thiểu thời gian giao dịch.

Với cơ chế Ngân hàng Nhà nước vừa ban hành và lộ trình thực hiện, hàng chục triệu giao dịch ATM nội mạng mỗi tháng cũng có thể bị thu phí, thậm chí tăng gấp đôi tới gấp ba chỉ trong vài năm tới.

Cụ thể, theo phụ lục thông tư, từ 1/3/2013 các ngân hàng được thu phí rút tiền mặt tại ATM là 1.000 đồng/giao dịch; đến 2014 lên 2.000 đồng; và đến năm 2015 được áp tới 3.000 đồng.

Hiện trên thị trường có khoảng hơn 50 triệu thẻ ngân hàng. Chỉ riêng việc thu phí rút tiền mặt nội mạng chắc chắn cũng sẽ tạo ra một nguồn phí lớn trong xã hội, và càng rất lớn vào các năm 2014, 2015 và sau đó.

Tùy tâm…

Tuy nhiên, quy định trong cơ chế vừa ban hành không phải là ép hết mức. Các loại phí phát hành, thường niên, vấn tin tài khoản, rút tiền mặt nội và ngoại mạng, chuyển khoản tại ATM có khởi điểm là từ 0 đồng, hay các mức phí quy định được hiểu là tối đa.

Theo đó, cửa hỗ trợ khách hàng là vẫn còn, nhưng tùy vào thành ý của mỗi ngân hàng. Thời gian qua và hiện nay cũng đã có một số ít ngân hàng thương mại áp chính sách không thu phí giao dịch thẻ, không chỉ nội mạng mà cả ngoại mạng.

Như tại Ngân hàng Quốc tế (VIB), ngay khi mở thẻ, chủ tài khoản được miễn phí rút tiền nội và ngoại mạng trong 6 tháng; từ tháng thứ 7 tiếp tục được miễn phí nếu có số dư tài khoản trung bình của tháng trước đó là 500 ngàn đồng.

Dĩ nhiên ngân hàng sẽ không thiệt khi miễn phí. Bởi nó tạo thêm giá trị và sức hút dịch vụ, mà dịch vụ đó không đơn lẻ. Tại VIB, lượng khách hàng đăng ký mở tài khoản thanh toán đã tăng 250% so với bình quân của 6 tháng trước khi công bố chính sách miễn phí nói trên.

Hay tại Ngân hàng Tiên Phong (TienPhong Bank), mọi giao dịch ATM nội mạng và ngoại mạng hiện đều được miễn phí; giới hạn một lần rút tiền mặt được áp tới 5 triệu đồng.

Theo ông Nguyễn Lâm Hoàng, Giám đốc khối Ngân hàng cá nhân, quan điểm của TienPhong Bank giai đoạn này quan trọng nhất cần làm là nâng cao chất lượng dịch vụ. Nếu dịch vụ tốt (ATM ít bị giao dịch lỗi, xử lý giao dịch, trợ giúp khách hàng nhanh chóng ổn định…), khách hàng được chăm sóc tốt thì việc thu phí sẽ dễ dàng được khách hàng đón nhận hơn.

Sắp tới, cơ chế cho thu phí bắt đầu có hiệu lực. Với các chủ thẻ cũ, phải trả phí hay không thì chỉ biết chờ vào… may mắn. Nhưng các khách hàng mới chắc chắn sẽ để tâm đến điều này khi chọn nơi mở thẻ. Theo đó, dù ít hay nhiều thì giữa các nhà băng sẽ có thêm sự cạnh tranh.