10 sự thật thế giới ít biết về kinh tế Việt Nam

Viện nghiên cứu McKinsey Global Institute chỉ ra 10 sự thật về kinh tế Việt Nam có thể khiến công chúng thế giới ngạc nhiên…

Việt Nam có tên trong hầu hết các danh sách về các thị trường mới nổi hấp dẫn đối với các nhà đầu tư nước ngoài – Ảnh: Brian Ashcraft.

Thành tựu kinh tế của Việt Nam trong gần 1/4 thế kỷ qua đã và đang thu hút được sự quan tâm lớn của giới phân tích quốc tế. Một báo cáo mới đây của viện nghiên cứu McKinsey Global đã chỉ ra 10 sự thật về kinh tế Việt Nam có thể khiến công chúng thế giới phải ngạc nhiên, báo Foreign Policy của Mỹ cho biết.

Bản báo cáo mang tựa đề “Sustainining Vietnam’s Growth: The Productivity Challenge” (tạm dịch: “Duy trì tăng trưởng ở Việt Nam: Thách thức về năng suất”) cho rằng, Việt Nam đang có những bước chuyển mình rõ nét.

Trong đó, phải kể tới việc Việt Nam trở thành thành viên chính thức của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) vào năm 2007, hay sức hút mãnh liệt của Việt Nam đối với vốn đầu tư nước ngoài, sự dịch chuyển từ nền kinh tế nông nghiệp sang sản xuất công nghiệp và dịch vụ.

Tuy nhiên, báo cáo cũng khuyến nghị rằng, nếu muốn duy trì sự tăng trưởng năng động này, Việt Nam cần cải thiện năng suất lao động trong các ngành công nghiệp và dịch vụ trong những năm sắp tới.

VnEconomy xin giới thiệu 10 điểm đáng chú ý nói trên trong báo cáo của McKinsey Global.

1. Việt Nam tăng trưởng kinh tế nhanh thứ nhì châu Á, sau Trung Quốc

Trong vòng 1/4 thập kỷ qua, Việt Nam từ chỗ là một quốc gia bị tàn phá bởi chiến tranh đã vươn lên trở thành một trong những câu chuyện kinh tế thành công của châu Á. Từ khi thực hiện chính sách Đổi mới năm 1986, kinh tế Việt Nam đã đạt tốc độ tăng trưởng nhanh hơn bất kỳ một nền kinh tế nào khác trừ Trung Quốc, với tốc độ tăng trưởng GDP bình quân đầu người hàng năm là 5,3%.

Sự tăng trưởng này được duy trì bất chấp cuộc khủng hoảng tài chính châu Á trong thập niên 1990 và khủng hoảng tài chính toàn cầu mới đây. Trong thời gian từ năm 2005-2010, kinh tế Việt Nam tăng 7% mỗi năm.

2. Kinh tế Việt Nam đang dịch chuyển mạnh mẽ khỏi nông nghiệp

Ngày nay, nền kinh tế Việt Nam không còn tập trung vào nông nghiệp như trước. Trên thực tế, chỉ trong vòng 15 năm, tỷ trọng đóng góp của nông nghiệp trong GDP của Việt Nam đã giảm một nửa từ 40% xuống còn 20%, một tốc độ nhanh chóng hơn ở các nền kinh tế châu Á khác. Một sự dịch chuyển tương tự phải mất tới 29 năm ở Trung Quốc và 41 năm ở Ấn Độ.

Trong vòng 10 năm qua, tỷ lệ lao động trong nông nghiệp của Việt Nam giảm 13 điểm phần trăm, trong khi tỷ lệ lao động trong công nghiệp tăng 9,6 điểm phần trăm và trong lĩnh vực dịch vụ tăng 3,4%. Sự dịch chuyển của lao động từ nông nghiệp sang công nghiệp và dịch vụ đã tạo ra đóng góp to lớn cho phát triển kinh tế của Việt Nam, vì năng suất lao động giữa các ngành này có sự khác biệt lớn.

Kết quả là, trong thập kỷ qua, tỷ trọng của ngành nông nghiệp trong GDP của Việt Nam giảm 6,7 điểm phần trăm, trong khi tỷ trọng của lĩnh vực công nghiệp tăng thêm 7,2 điểm phần trăm.

3. Tuy nhiên, Việt Nam vẫn là nước xuất khẩu hàng đầu thế giới về hạt tiêu, hạt điều, gạo và cà phê

Việt Nam là nước xuất khẩu hạt tiêu lớn nhất thế giới, với khối lượng xuất khẩu nông sản này đạt 116.000 tấn trong năm 2010. Việt Nam cũng dẫn đầu thế giới về xuất khẩu hạt điều trong 4 năm liên tiếp, chưa kể giữ vị trí xuất khẩu gạo lớn thứ nhì thế giới sau Thái Lan, và chỉ thua Brazil về xuất khẩu cà phê.

Chỉ trong vòng có 4 năm, khối lượng cà phê xuất khẩu của Việt Nam đã tăng gấp gần 3 lần. Ngoài ra, Việt Nam đứng thứ 5 thế giới về sản lượng chè và đứng thứ 6 về xuất khẩu các mặt hàng cá da trơn, tôm và cá ngừ.

4. Việt Nam không phải là “Trung Quốc + 1”

Chi phí lao động gia tăng ở Trung Quốc đã thúc đẩy nhiều doanh nghiệp sản xuất ở nước này chuyển nhà máy sang Việt Nam để tận dụng nguồn lao động giá rẻ. Xu hướng này đã khiến nhiều lãnh đạo doanh nghiệp đề cập nhiều tới việc Việt Nam sẽ trở thành một địa chỉ sản xuất hàng xuất khẩu lớn tiếp theo tại châu Á, giống như một phiên bản thu nhỏ của Trung Quốc, gọi nôm na là “Trung Quốc + 1”.

Tuy nhiên, Việt Nam có sự khác biệt lớn so với Trung Quốc trên hai phương diện. Thứ nhất, nền kinh tế Việt Nam phụ thuộc nhiều vào tiêu dùng cá nhân hơn so với kinh tế Trung Quốc. Tiêu dùng của các hộ gia đình đóng góp 65% vào GDP của Việt Nam, một tỷ lệ cao hiếm có ở châu Á. Trong khi đó, tỷ lệ này ở Trung Quốc chỉ là 36%.

Thứ hai, trong khi sự phát triển kinh tế mạnh mẽ của Trung Quốc là kết quả của hoạt động xuất khẩu hàng hóa và mức độ đầu tư cơ bản đặc biệt cao, thì nền kinh tế Việt Nam cân bằng hơn giữa sản xuất công nghiệp và dịch vụ. Trong đó, mỗi ngành này đóng góp xấp xỉ 40% GDP của Việt Nam. Sự phát triển của Việt Nam dựa trên nhiều ngành nghề đa dạng, với các phân khúc thị trường cạnh tranh trong khắp nền kinh tế.

Trong vòng 5 năm qua, sản lượng công nghiệp (bao gồm các ngành xây dựng, sản xuất, khai mỏ, điện…) và dịch vụ của Việt Nam đã tăng trưởng với tốc độ khoảng 8% mỗi năm.

5. Việt Nam là một thỏi nam châm đối với vốn đầu tư nước ngoài

Việt Nam có tên trong hầu hết các danh sách về các thị trường mới nổi hấp dẫn đối với các nhà đầu tư nước ngoài. Các nghiên cứu của Bộ Thương mại và Đầu tư Vương quốc Anh hay trung tâm nghiên cứu kinh tế Economist Intelligence Unit (EIU) đều xếp Việt Nam là thị trường mới nổi hấp dẫn nhất đối với vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) sau khối BRIC gồm các nước Brazil, Nga, Ấn Độ và Trung Quốc.

Lượng vốn FDI đăng ký vào Việt Nam đã tăng lên 71,7 tỷ USD vào năm 2008 từ mức 3,2 tỷ USD vào năm 2003, trước khi giảm xuống còn 21,5 tỷ USD vào năm 2009 do ảnh hưởng của suy thoái toàn cầu.

Điểm khác biệt tiếp theo giữa Việt Nam và Trung Quốc là, gần 60% vốn FDI ở Trung Quốc được đổ vào những ngày có hàm lượng nhân công cao, so với tỷ lệ chỉ 20% ở Việt Nam. Đối với Việt Nam, số vốn FDI còn lại được rót vào các ngành như khai mỏ và dầu khí (40%), bất  động sản (15-20%) và du lịch. Từ năm 2005 tới nay, số du khách quốc tế tới Việt Nam đã tăng 1/3.

6. Việt Nam có hạ tầng đường giao thông tiên tiến hơn so với Philippines và Thái Lan

Việt Nam đã và đang đầu tư mạnh cho cơ sở hạ tầng. Nhiều du khách tới Việt Nam vẫn xem những con đường giao thông ở đây còn khá cơ bản. Tuy nhiên, ở giai đoạn phát triển kinh tế như hiện nay, Việt Nam đã đạt được tốc độ phát triển đường xá đáng ghi nhận.

Mật độ đường giao thông của Việt Nam đã đạt mức 0,78 km đường/km2 diện tích vào năm 2009, cao hơn ở Philippines và Thái Lan – hai nền kinh tế đạt mức độ phát triển cao hơn Việt Nam. Cũng trong năm 2009, mạng lưới điện đã phủ khắp 96% diện tích Việt Nam. Những cảng container mới như Dung Quất và Cái Mép, hay các sân bay được nâng cấp ở Đà Nẵng, Cần Thơ… đã tăng cường kết nối giữa Việt Nam với phần còn lại của thế giới.

7. Internet đã trở nên phổ biến đối với thế hệ trẻ Việt Nam

Việt Nam có dân số trẻ, có trình độ học vấn tốt và sử dụng mạng ngày càng nhiều hơn. Từ năm 2000-2010, số thuê bao di động ở Việt Nam tăng gần 70% mỗi năm, so với mức tăng chưa đầy 10% mỗi năm ở Mỹ trong cùng khoảng thời gian. Đến cuối năm 2010, Việt Nam có 170 triệu thuê bao điện thoại, trong đó 154 triệu là thuê bao di động.

So với nhiều quốc gia và vùng lãnh thổ châu Á khác, tỷ lệ sử dụng Internet ở mức 31% tại Việt Nam còn thấp. Chẳng hạn, tỷ lệ này ở Malaysia và Đài Loan lần lượt là 55% và 72%. Nhưng những thay đổi chóng mặt đang diễn ra. Số thuê bao băng thông rộng ở Việt Nam đã tăng lên từ 0,5 triệu thuê vào vào năm 2006 lên mức 3,8 triệu thuê bao vào năm 2010. Cũng trong năm 2010, số thuê bao mạng 3G tại Việt Nam đạt 7,7 triệu thuê bao.

Một khi cơ sở hạ tầng viễn thông tại Việt Nam phát triển, thì mức độ sử dụng di động và Internet tại Việt Nam cũng sẽ bùng nổ theo. Đến nay, tỷ lệ người dùng Internet ở Việt Nam có tiếp cận tin tức trên mạng là 94%. Hơn 40% người dùng mạng ở Việt Nam lướt web mỗi ngày.

8. Việt Nam đang trở thành một địa chỉ hàng đầu cho các dịch vụ gia công và thuê ngoài

Số lao động trong lĩnh vực dịch vụ gia công và thuê ngoài của Việt Nam đến nay đã lên tới 100.000 người, và ngành này đang tạo ra doanh thu hơn 1,5 tỷ USD mỗi năm cho Việt Nam. Nhiều công ty đa quốc gia lớn như HP, IBM hay Panasonic đều đã có cơ sở hoạt động tại Việt Nam

Trên thực tế, Việt Nam hoàn toàn có tiềm năng lọt vào top 10 địa chỉ dẫn đầu thế giới trong lĩnh vực gia công và thuê ngoài, nhờ những ưu thế như lực lượng lao động trẻ được đào tạo tốt (mỗi năm, có 257.000 sinh viên đại học Việt Nam ra trường) và mức lương tương đối thấp. Một nhà lập trình phần mềm ở Việt Nam có thể trả mức lương nhân viên thấp hơn 60% so với ở Trung Quốc. Tương tự, các kỹ sư về xử lý dữ liệu và giọng nói ở Việt Nam được trả thấp hơn 50% so với ở Trung Quốc.

Ngành dịch vụ gia công và thuê ngoài ở Việt Nam có khả năng đem đến mức doanh thu 6-8 tỷ USD mỗi năm, miễn là thế giới có nhu cầu và Việt Nam đảm bảo đáp ứng. Ngành này có thể trở thành một cỗ máy tạo việc làm cho các đô thị, tạo công ăn việc làm cho thêm 600.000-700.000 người trong thời gian từ nay đến năm 2020, và đóng góp 3-5% vào tăng trưởng GDP của Việt Nam.

9. Tốc độ tăng trưởng tín dụng của các ngân hàng Việt Nam đang cao hơn so với các ngân hàng của Trung Quốc, Ấn Độ và các nước khác trong ASEAN

Trong thập kỷ qua, tổng dư nợ tín dụng của Việt Nam tăng với tốc độ 33% mỗi năm, mạnh hơn so với ở Trung Quốc, Ấn Độ hay bất kỳ nước nào khác trong khối ASEAN. Đến cuối năm 2010, dư nợ tín dụng đã tương đương khoảng 120% GDP của Việt Nam, so với mức chỉ 22% vào năm 2010.

Mặc dù tình trạng tăng trưởng tín dụng mạnh mẽ này có thể là một bằng chứng về tốc độ phát triển năng động của nền kinh tế Việt Nam và sự mở rộng của hệ thống ngân hàng, nhiều người vẫn lo ngại về khả năng gia tăng của nợ xấu cũng như những hệ lụy đối với nền kinh tế.

10. Lợi tức dân số (demographic dividen) của Việt Nam đang giảm dần

Lợi tức dân số được định nghĩa đơn giản là những ích lợi kinh tế có được từ biến đổi dân số. Trong thời gian 2005-2015, lực lượng lao động trẻ gia tăng và sự dịch chuyển chóng vánh của nền kinh tế khỏi lĩnh vực nông nghiệp đã đóng góp 2/3 tăng trưởng kinh tế của Việt Nam. 1/3 tăng trưởng còn lại xuất phát từ năng suất lao động được cải thiện. Tuy nhiên, đến nay, hai động lực tăng trưởng đầu tiên của nền kinh tế Việt Nam đang yếu đi.

Thống kê chính thức dự báo rằng, tăng trưởng lực lượng lao động của Việt Nam sẽ giảm xuống còn khoảng 0,6% mỗi năm trong thập kỷ tới, từ mức 2,8% mỗi năm trong thời kỳ 2000-2010. Bên cạnh đó, sự dịch chuyển “từ đồng ruộng tới nhà máy” của nền kinh tế Việt Nam cũng khó có khả năng diễn ra với tốc độ như trước nữa.

Bởi thế, việc cải thiện năng suất lao động là cần thiết đề bù đắp cho những suy giảm nói trên nếu Việt Nam muốn duy trì tốc độ tăng trưởng GDP cao như thời gian qua. Cụ thể hơn, Việt Nam cần đẩy nhanh thêm 50% tốc độ gia tăng năng suất lao động hàng năm, từ mức 4,1% lên 6,4%, để đạt mục tiêu tăng trưởng hàng năm 7-8% mà Chính phủ đề ra trong thời gian từ nay đến năm 2020. Nếu không đạt được mức tăng trưởng năng suất như vậy, tăng trưởng GDP của Việt Nam có thể giảm xuống còn 4-4,5% mỗi năm. Với tốc độ tăng GDP như thế, giá trị GDP của Việt Nam vào năm 2020 sẽ thấp hơn 30% so với giá trị đạt được trong trường hợp nền kinh tế tăng trưởng 7% mỗi năm.

Đề xuất ba phương án giảm lãi suất

Hiệp hội Các nhà đầu tư tài chính Việt Nam (VAFI) vừa có đề xuất về ba phương án giảm lãi suất cho vay…

Theo một trong ba phương án của VAFI, Ngân hàng Nhà nước nên giảm ngay lãi suất huy động đối với tổ chức xuống 11%/năm.

Hiệp hội Các nhà đầu tư tài chính Việt Nam (VAFI) vừa có đề xuất về ba phương án giảm lãi suất cho vay.

Theo ông Nguyễn Hoàng Hải, Tổng thư ký VAFI, việc giảm lãi suất không phải là việc khó, vấn đề là lựa chọn giải pháp và sau đó là nhanh chóng hành động.

Theo dự báo của VAFI, trong 7 năm tới sẽ diễn ra tiến trình thặng dư về cán cân thanh toán, nhập siêu sẽ giảm dần và tiến tới Việt Nam trở thành quốc gia xuất siêu. Lập luận này được đưa ra dựa trên cơ sở phân tích dòng vốn FDI và xu hướng đầu tư của các doanh nghiệp trong nước. Theo đó, dòng vốn FDI vẫn tiếp tục vào Việt Nam ở mức bình quân 12 tỷ USD/năm, con số này không đạt đỉnh cao như các năm trước, tuy nhiên sẽ là không nhỏ nếu so với nhiều nước trên thế giới.

Dòng vốn FDI sẽ chảy nhiều vào các ngành có lợi thế xuất khẩu. Việt Nam tiếp tục duy trì tốc độ tăng trưởng xuất khẩu ở mức 10%/năm. Nhiều dự án trong nước thay thế hàng nhập khẩu đã và sẽ tiếp tục ra đời như xi măng, sắt thép, phân bón, các sản phẩm hóa dầu, tiêu dùng… sẽ góp phần làm giảm nhập siêu.

Mặt khác, đầu tư  tài sản cố định của doanh nghiệp đang ở giai đoạn cuối, theo đó, thời kỳ bùng nổ đầu tư bắt đầu từ năm 2006, 2007, 2009, giảm dần từ 2010, 2011. Đầu tư của cộng đồng doanh nghiệp sẽ thấp đi do đã xuất hiện tình trạng dư thừa năng lực sản xuất tại nhiều ngành kinh tế. Trong giai đoạn tới, cộng đồng doanh nghiệp sẽ chuyển sang đầu tư cho chiều sâu là chủ yếu, và như vậy tỷ trọng nhập khẩu tài sản cố định sẽ giảm đi nhiều, góp phần đáng kể giảm nhập siêu.

Trong xu thế tích cực kể trên, tình trạng lãi suất cao đang gây không ít khó khăn cho doanh nghiệp. Do đó, VAFI đề xuất ba phương án  giảm lãi suất cho vay. Phương án thứ nhất đang được Ngân hàng Nhà nước triển khai. Theo đó, cơ quan này chỉ đạo các ngân hàng thương mại nhà nước hạ dần lãi suất cho vay, từ đó lan tỏa đến các ngân hàng thương mại cổ phần khác.

Đồng thời, theo tín hiệu của chỉ số giá tiêu dùng và thị trường liên ngân hàng, Ngân hàng Nhà nước thực hiện bơm tiền ở liều lượng thích hợp và cuối cùng sẽ điều chỉnh trần lãi suất huy động. “Với phương án này, lãi suất cho vay sẽ giảm chậm và dự kiến tới cuối năm 2012, lãi suất cho vay sẽ dao động từ 14-18%, phổ biến sẽ ở mức 15-17%”, ông Hải nhận xét.

Về phương án hai, theo đề xuất của VAFI, Ngân hàng Nhà nước nên giảm ngay lãi suất huy động đối với tổ chức xuống 11%/năm. Theo đó, việc giảm ngay lãi suất với đối tượng này sẽ không ảnh hưởng đến trật tự huy động vốn của hệ thống ngân hàng thương mại, cũng như không tác động tới thị trường ngoại tệ.

Đồng thời, Ngân hàng Nhà nước nên khống chế lãi suất tiền gửi ngoại tệ và vàng miếng ở mức không quá 1%/năm nhằm làm tăng sức hấp dẫn đối với tiền gửi VND, thúc đẩy tiến trình bán vàng ngoại tệ cho khối ngân hàng thương mại.

Mặt khác, VAFI đề xuất Ngân hàng Nhà nước đặt ngay trần lãi suất cho vay không quá 18%/năm, sau đó, theo tín hiệu thị trường giảm dần lãi suất tiền gửi của dân cư, và hạ tiếp trần lãi suất cho vay. Ông Hải cho rằng, với phương án này, đến cuối năm 2012, lãi suất cho vay sẽ dao động từ 12-16%, phổ biến sẽ ở mức 14-15%.

Phương án ba, nghị định về quản lý kinh doanh vàng cần sớm  được ban hành vì nó có tác động tích cực đến bình ổn thị trường ngoại hối. Điểm mấu chốt của Nghị định là sẽ ban hành chính sách thuế giá trị gia tăng, thuế tiêu thụ đặc biệt  đối với hoạt động kinh doanh vàng.

Theo phân tích của VAFI, nếu nhà nước sớm công bố chủ trương thuế giá trị gia tăng, thuế tiêu thụ đặc biệt với hoạt động kinh doanh vàng ở mức 20% trên giá bán thì đây sẽ là giải pháp đột phá để hạ  lãi suất cho vay về dưới 10%/năm. Hiệu quả của giải pháp này là nhanh chóng kích thích thị trường chứng khoán cũng như thị trường trái phiếu phục hồi và phát triển. Cùng với đó hệ thống ngân hàng sẽ có cơ hội huy động nguồn vốn dài hạn.

Mặt khác, giải pháp này không những ngăn chặn tình trạng chảy máu ngoại tệ mà nguồn ngoại tệ, nguồn vàng trong dân sẽ chảy vào hệ thống ngân hàng thương mại một cách dễ dàng.

Giá vàng trong nước bật lên mức cao nhất từ đầu tháng

Giá vàng trong nước sáng nay vượt mức 45,3 triệu đồng/lượng, cao nhất trong vòng 4 tuần trở lại đây…

Diễn biến giá vàng SJC trong 7 phiên gần nhất, tính đến 10h30 hôm nay, 29/2/2012 (đơn vị: nghìn đồng/lượng) – Ảnh: SJC.

Giá vàng trong nước sáng nay vượt mức 45,3 triệu đồng/lượng, cao nhất trong vòng 4 tuần trở lại đây, nhờ lực tăng đáng kể của giá vàng quốc tế. USD tiếp tục chững giá trên 20.800 đồng.

Lúc 9h30 sáng nay, Công ty Vàng bạc đá quý Sài Gòn (SJC) niêm yết giá vàng SJC tại thị trường Tp.HCM ở mức 45,1 triệu đồng/lượng (mua vào) và 45,25 triệu đồng/lượng (bán ra), cao hơn 200.000 đồng/lượng so với cuối giờ chiều qua.

Đầu giờ, SJC đã đẩy giá vàng lên 45,17 triệu đồng/lượng và 45,32 triệu đồng/lượng, tương ứng giá mua vào và bán ra, tăng 270.000 đồng/lượng so với mức cuối ngày hôm qua. Nhưng sau đó, doanh nghiệp này lại điều chỉnh giá vàng theo hướng giảm dần.

Tại Hà Nội, Công ty Phú Quý lúc 9h30 thu mua vàng SJC ở mức 45,15 triệu đồng/lượng và bán ra ở mức 45,25 triệu đồng/lượng.

Đỉnh giá vàng trên 45,3 triệu đồng/lượng lúc đầu giờ sáng nay là mức cao nhất của giá vàng miếng trong nước từ đầu tháng 2 tới nay. Giới kinh doanh vàng cho biết, thị trường vàng miếng vẫn giao dịch chậm, nhưng người dân bán ra nhiều hơn khi kênh đầu tư này đang được giá. Không loại trừ khả năng nhiều nhà đầu tư đang bán vàng ra để mua chứng khoán.

Bên cạnh đó, theo nhận định của Công ty Sacombank-SBJ, giống như một quy luật, trong những tháng đầu năm, vàng thường kém hấp dẫn hơn so với các kênh đầu tư khác và vàng thường “đúng giá” ở thời điểm này. Nghĩa là, giá vàng trong nước vào đầu năm thường không quá chênh lệch so với giá vàng thế giới.

Giá USD tự do tại Hà Nội sáng nay không có thay đổi so với hôm qua, giữ ở mức 20.800 đồng (mua vào) và 20.820 đồng (bán ra). Trong khi đó, Ngân hàng Vietcombank nâng giá USD 20 đồng ở cả hai chiều mua và bán so với sáng qua, lên 20.810 đồng và 20.870 đồng.

Tỷ giá USD/VND bình quân liên ngân hàng hôm nay tiếp tục được Ngân hàng Nhà nước giữ ổn định ở mức 20.828 đồng.

Kết thúc đà giảm của hai phiên liền trước, giá vàng thế giới tăng trong cả phiên đêm qua tại Mỹ và sáng nay tại châu Á.

Kết thúc phiên New York, giá vàng tăng 15,8 USD/oz, tương đương tăng 0,9%, chốt ở 1.784,9 USD/oz. Lúc 9h35 sáng nay giờ Việt Nam, giá vàng giao ngay tăng thêm 1,8 USD/oz, lên 1.786,7 USD/oz.

Mức giá này của vàng quốc tế quy đổi tương đương 44,8 triệu đồng/lượng, thấp hơn giá vàng SJC bán lẻ 450.000 đồng/lượng nếu chưa tính các chi phí liên quan. Khoảng cách giữa giá vàng trong nước và thế giới đang co hẹp nhanh. Hôm qua, độ vênh giá còn là hơn 600.000 đồng/lượng. Sự thu hẹp này cho thấy giá vàng trong nước đang tăng yếu hơn giá vàng thế giới.

Theo hãng tin Reuters, giá vàng thế giới hiện đang ở gần mức đỉnh của 3 tháng. Thị trường đang kỳ vọng Ngân hàng Trung ương châu Âu (ECB) hôm nay sẽ công bố bơm 500 tỷ USD vốn lãi suất thấp cho các ngân hàng thương mại trong khu vực.

Kỳ vọng này hỗ trợ cho thị trường chứng khoán và hàng hóa cơ bản, đồng thời cũng giúp vàng tăng giá, vì vàng đang ứng xử như một tài sản rủi ro. Ngoài ra, việc bơm tiền vào hệ thống cũng làm gia tăng rủi ro lạm phát, có lợi cho vàng – một kênh đầu tư hàng đầu cho việc chống lại sự mất giá của đồng tiền.

Đồng Euro và dầu thô cùng vững giá trong phiên sáng nay tại châu Á nhờ những hy vọng vào đợt bơm vốn của ECB.

Lúc 9h35 giờ Việt Nam, đồng Euro giao dịch ở mức gần 1,35 USDS/Euro, từ mức hơn 1,34 USD/Euro vào sáng qua. Giá dầu thô ngọt nhẹ giao tháng 4 cùng thời điểm là 106,82 USD/thùng, tăng 0,27 USD/thùng so với đóng cửa hôm qua.

10 công ty vũ khí lớn nhất thế giới

Trong số 100 công ty lớn nhất thế giới của lĩnh vực quốc phòng, có tới 44 công ty của Mỹ như Boeing, Lockheed Martin…

Sự tăng trưởng doanh số của thị trường này phản ảnh xu thế gia tăng trong chi tiêu quân sự đã kéo dài suốt 1 thập kỷ qua của các quốc gia.

Doanh số của thị trường vũ khí và dịch vụ quốc phòng toàn cầu của 100 nhà thầu quốc phòng lớn nhất trong năm 2010 đã tăng lên mức hơn 411 tỷ USD, Viện Nghiên cứu hòa bình quốc tế Stockholm (SIRPRI) của Thụy Điển vừa cho biết.

Sự tăng trưởng doanh số của thị trường này phản ảnh xu thế gia tăng trong chi tiêu quân sự đã kéo dài suốt 1 thập kỷ qua của các quốc gia. Từ năm 2002 tới nay, doanh thu từ bán vũ khí của 100 nhà sản xuất lớn nhất đã tăng 60%. Vào năm 2010, nhiều lĩnh vực kinh tế toàn cầu tiếp tục chịu ảnh hưởng bất lợi từ suy thoái, nhưng ngành sản xuất vũ khí gần như không “hề hấn” gì.

Dựa trên số liệu từ SIPRI, trang 24/7 Wall Street đưa ra danh sách 10 hãng sản xuất vũ khí lớn nhất thế giới xét về doanh thu. Riêng nhóm 10 công ty này đã chiếm khoảng 230 tỷ USD doanh thu trên thị trường vũ khí toàn cầu năm 2010.

Trong số 100 công ty lớn nhất thế giới của lĩnh vực quốc phòng, có tới 44 công ty của Mỹ như Boeing, Northrop Grumman hay Lockheed Martin. Các công ty Mỹ cũng chiếm tới hơn 60% doanh thu từ thị trường vũ khí của 100 nhà sản xuất hàng đầu này. Riêng trong top 10 của xếp hạng, có 7 công ty Mỹ, 1 công ty Anh, 1 công ty Italy và 1 công ty đa quốc gia của Liên minh châu Âu (EU).

10. United Technologies

Doanh thu từ bán vũ khí năm 2010: 11,41 tỷ USD
Tổng doanh thu năm 2010: 54,33 tỷ USD
Tỷ lệ % doanh thu từ bán vũ khí trong tổng doanh thu: 21%
Tổng lợi nhuận: 4,71 tỷ USD
Tổng số nhân viên: 208.220

Các lĩnh vực hoạt động: Máy bay, điện tử, động cơ
Có trụ sở ở Hartford, Connecticut, Mỹ, United Technologies là một tập đoàn công nghiệp lớn gồm nhiều công ty con thuộc hàng loạt lĩnh vực, từ công ty thang máy Otis tới hãng điện lạnh Carrier. Tập đòa này cũng là nhà sản xuất nhiều loại linh kiện sử dụng cho máy bay quân sự và xe chiến đấu.

9. L-3 Communications

Doanh thu từ bán vũ khí năm 2010: 13,07 tỷ USD
Tổng doanh thu năm 2010: 15,68 tỷ USD
Tỷ lệ % doanh thu từ bán vũ khí trong tổng doanh thu: 83%
Tổng lợi nhuận: 0,96 tỷ USD
Tổng số nhân viên: 63.000
Các lĩnh vực hoạt động: Điện tử, dịch vụ

L-3 Communications là một nhà thầu quân sự hàng đầu ở những mảng như liên lạc, do thám và giám sát. Công ty này cho biết, khách hàng của họ bao gồm hầu hết các cơ quan quốc phòng, tình báo, và an ninh của Mỹ, cũng như chính phủ các quốc gia và vùng lãnh thổ là đồng minh của Mỹ.

8. Finmeccanica

Doanh thu từ bán vũ khí năm 2010: 14,41 tỷ USD
Tổng doanh thu năm 2010: 24,76 tỷ USD
Tỷ lệ % doanh thu từ bán vũ khí trong tổng doanh thu: 58%
Tổng lợi nhuận: 0,74 tỷ USD
Tổng số nhân viên: 75.200
Các lĩnh vực hoạt động: Máy bay, pháo, điện tử, đên lửa, xe chiến đấu, vũ khí/đạn dược cỡ nhỏ

Finmeccanica là nhà thầu quân sự của Italy, đồng thời là tập đoàn công nghệ cao lớn nhất ở nước này. Do Chính phủ Italy kiểm soát một phần, Finmeccanica sản xuất nhiều sản phẩm quốc phòng đa dạng về hàng không, máy bay trực thăng, hệ thống phòng thủ,vũ trụ, điện tử, giao thông và năng lượng. Công ty này đã thành lập hàng loạt liên doanh ở châu Âu và nhiều khu vực khác trên thế giới.

7. EADS


Doanh thu từ bán vũ khí năm 2010: 16,36 tỷ USD
Tổng doanh thu năm 2010: 60,60 tỷ USD
Tỷ lệ % doanh thu từ bán vũ khí trong tổng doanh thu: 27%
Tổng lợi nhuận: 0,73 tỷ USD
Tổng số nhân viên: 121.690
Các lĩnh vực hoạt động: Máy bay, điện tử, tên lửa, vũ trụ

Hãng EADS là nhà thầu quân sự lớn thứ nhì của châu Âu trong danh sách này. EADS có nhiều chi nhánh khác nhau, trong đó có hãng Airbus, một công ty đi đầu về các sản phẩm hàng không vũ trụ và quốc phòng. Tuy nhiên, doanh thu từ thị trường vũ khí chỉ chiếm 27% doanh thu của EADS, một tỷ lệ thấp so với nhiều tập đoàn quốc phòng khác.

6. Raytheon

Doanh thu từ bán vũ khí năm 2010: 22,98 tỷ USD
Tổng doanh thu năm 2010: 25,18 tỷ USD
Tỷ lệ % doanh thu từ bán vũ khí trong tổng doanh thu: 91%
Tổng lợi nhuận: 1,88 tỷ USD
Tổng số nhân viên: 72.400
Các lĩnh vực hoạt động: Điện tử, tên lửa

Raytheon có trụ sở tại Cambridge, Massachusetts, Mỹ. Hãng này là nhà sản xuất lớn nhất thế giới về tên lửa dẫn đường. Năm 2010, doanh thu từ bán vũ khí chiếm hơn 90% tổng doanh thu của Raytheon, từ chỗ chỉ chiếm 17% vào năm 2007.

5. General Dynamics

Doanh thu từ bán vũ khí năm 2010: 23,94 tỷ USD
Tổng doanh thu năm 2010: 32,47 tỷ USD
Tỷ lệ % doanh thu từ bán vũ khí trong tổng doanh thu: 74%
Tổng lợi nhuận: 2,62 tỷ USD
Tổng số nhân viên: 90.000
Các lĩnh vực hoạt động: Pháo, điện tử, xe quân sự, vũ khí/đạn dược cỡ nhỏ, tàu

General Dynamics là một công ty quốc phòng của Mỹ với các sản phẩm về hàng không vũ trụ, hệ thống chiến đấu, hệ thống thông tin và hệ thống hải quân. Ra đời từ năm 1952, nhưng cho tới đầu những năm 1990, General Dynamics mới thực sự phát triển mạnh nhờ một số vụ sáp nhập. Từ năm 1997 tới nay, hãng này đã mua lại 50 công ty, đưa doanh thu tăng từ 4 tỷ USD lên hơn 32 tỷ USD, đồng thời số nhân viên tăng thêm 60.000 người.

4. Northrop Grumman

Doanh thu từ bán vũ khí năm 2010: 28,15 tỷ USD
Tổng doanh thu năm 2010: 34,76 tỷ USD
Tỷ lệ % doanh thu từ bán vũ khí trong tổng doanh thu: 81%
Tổng lợi nhuận: 2,05 tỷ USD
Tổng số nhân viên: 117.100
Các lĩnh vực hoạt động: Hàng không, điện tử, tên lửa, tàu chiến, vũ trụ

Northup Grumman là nhà thầu vũ khí lớn thứ 4 tại Mỹ. Công ty có trụ sở ở Falls Church, bang Virginia này là một trong những hãng đi đầu thế giới về công nghệ hàng không vũ trụ và là nhà sản xuất hàng đầu về tàu hải quân. Tàu sân bay của hãng này đang giữ những vị trí then chốt trong Không lực Hoa Kỳ.

3. Boeing

Doanh thu từ bán vũ khí năm 2010: 31,36 tỷ USD
Tổng doanh thu năm 2010: 64,31 tỷ USD
Tỷ lệ % doanh thu từ bán vũ khí trong tổng doanh thu: 49%
Tổng lợi nhuận: 3,31 tỷ USD
Tổng số nhân viên: 160.500
Các lĩnh vực hoạt động: Hàng không, điện tử, tên lửa, vũ trụ

Đến năm 2007, Boeing vẫn là tập đoàn sản xuất vũ khí lớn nhất thế giới. Nhưng từ năm 2008 trở đi, hãng này đã bị rớt lại sau Lockheed Martin và BAE Systems. Boeing đồng thời cũng là sản xuất máy bay lớn nhất thế giới tính theo số máy bay được giao hàng, chỉ sau hãng Airbus của châu Âu. Hãng này là nhà thầu quân sự lớn thứ nhì của Chính phủ Mỹ năm 2010, với tổng giá trị hợp đồng khoảng 19,5 tỷ USD.

2. BAE Systems

Doanh thu từ bán vũ khí năm 2010: 32,88 tỷ USD
Tổng doanh thu năm 2010: 34,61 tỷ USD
Tỷ lệ % doanh thu từ bán vũ khí trong tổng doanh thu: 95%
Tổng lợi nhuận: 1,67 tỷ USD
Tổng số nhân viên: 98.200

Các lĩnh vực hoạt động: Máy bay, pháo, điện tử, tên lửa, xe chiến đấu, vũ khí/đạn dược hạng nhỏ, tàu
BAE Systems là công ty hàng không vũ trụ và quốc phòng có trụ sở tại Anh, nhưng có một chi nhánh lớn ở Mỹ là công ty BAE Systems Inc. Công ty này ra đời năm 1999 từ vụ sáp nhập giữa Marconi Electronics (khi đó là chi nhánh của hãng công nghiệp Mỹ GE) và British Aerospace. BAE sản xuất hầu hết các loại vũ khí quân sự, bao gồm máy bay chiến đấu, thiết bị điện tử quốc phòng, xe chiến đấu, tàu hải quân và vũ khí cỡ nhỏ.

1. Lockheed Martin

Doanh thu từ bán vũ khí năm 2010: 35,73 tỷ USD
Tổng doanh thu năm 2010: 45,80 tỷ USD
Tỷ lệ % doanh thu từ bán vũ khí trong tổng doanh thu: 78%
Tổng lợi nhuận: 2,93 tỷ USD
Tổng số nhân viên: 132.000
Các lĩnh vực hoạt động: Máy bay, điện tử, tên lửa, vũ trụ

Tập đoàn Mỹ Lockheed Martin là nhà sản xuất vũ khí và cung cấp dịch vụ quốc phòng lớn nhất thế giới, với doanh thu từ các lĩnh vực này cao hơn đối thủ ở vị trí thứ nhì BAE Systems tới gần 3 tỷ USD. Tuy nhiên, so với nhiều hãng vũ khí lớn khác, tỷ lệ doanh thu từ bán vũ khí trong tổng doanh thu của Lockheed Martin, ở mức 78%, vẫn chưa phải là cao. Chẳng hạn, tỷ lệ này của BAE Systems là 95%. Lockheed Martin cũng là nhà thầu lớn nhất của Chính phủ Mỹ, với tổng giá trị hợp đồng đạt được từ Washington trong năm 2010 là gần 36 tỷ USD. Năm 2007, Lockheed Martin mới là nhà sản xuất vũ khí lớn thứ ba thế giới.

Hàng hiệu đắt cũng có… lý

Hàng hiệu đã xác lập được chỗ đứng của nó và luôn có một bộ phận giàu có không ngại ngần chi tiền để sắm chúng…

Trong giai đoạn khủng hoảng vừa qua, nhu cầu tiêu thụ các mặt hàng hiệu vẫn cao.

Đã bao giờ bạn tự hỏi, vì sao hàng hiệu lại đắt giá tới mức ấy? Tại sao cùng có công dụng, chất lượng, nguyên vật liệu như nhau nhưng hàng của hãng A lại đắt hơn sản phẩm của hãng B? Và rốt cục thì hàng hiệu khác biệt ở chỗ nào?

Bài viết dưới đây của hãng tin CNBC không có tham vọng giải nghĩa được toàn bộ những thắc mắc của mọi người về hàng hiệu, nhưng nó sẽ giúp chúng ta hiểu được một phần nguyên nhân khiến hàng hiệu luôn luôn là thứ có giá, thông qua một vài mẫu hàng cụ thể.

Ở bài viết này, hàng hóa xa xỉ thường được xem là những thứ làm thủ công hoặc ít nhất là cũng có “hơi người” trong một số công đoạn, thuộc của hiếm (nghĩa là không sản xuất đại trà), được thiết kế cho riêng một cá nhân nào đó (tất nhiên phải là giới thượng lưu)…

Chính vì sự “độc” và “hiếm”, hàng hiệu đã xác lập được chỗ đứng của nó và luôn có một bộ phận giàu có không ngại ngần chi tiền để sắm chúng. Thực tế là, theo hãng tư vấn Bain, trong giai đoạn khủng hoảng vừa qua, nhu cầu tiêu thụ các mặt hàng này vẫn cao.

Áo sơmi của Turnbull & Asser

Giá tham khảo: 295 – 395 USD

Mẫu áo sơmi cổ điển này được làm hoàn toàn bằng tay ở nước Anh. Để có được một sản phẩm như vậy, các “nghệ nhân” thời trang đã mất 17 công đoạn. Đó là chưa kể, các nút áo làm từ loại ngọc trai đã nuôi cấy suốt 7 năm. Do vậy, không thể nào đánh đồng sản phẩm này với hàng chợ, hoặc hàng sản xuất công nghiệp. Được biết, hoàng tử Anh cũng từng chọn trang phục của Turnbull & Asser trong ngày đính hôn của anh.

Giày cao gót da rắn BB của Manolo Blahnik

Giá tham khảo: 865 USD

Tại sao đôi giày này lại đắt như thế? Công ty sản xuất cho biết, 98% công đoạn là bằng tay. Loại da rắn sử dụng là hàng thượng hạng. Đó là chưa kể đôi giày của nhà thiết kế Manolo Blahnik luôn được đánh giá cao về chất lượng. Sự khéo léo xử lý ở phần mũi giày của Manolo Blahnik đã mang đến những hiệu quả không ngờ cho phái đẹp: trông cao hơn, đôi chân thon gọn hơn, khỏe khoắn hơn. Đó là biểu hiện của sự gợi cảm mà phụ nữ luôn khao khát sở hữu, còn đàn ông luôn khao khát chiếm hữu.

Giày “thày tu” của John Lobb William

Giá tham khảo: 1.100 USD

John Lobb nói rằng, tất cả các đôi giày của hãng đều được làm thủ công ở Northampton, nước Anh, kể từ năm 1849 tới nay. Không chỉ có vậy, công ty còn xử lý chúng bằng phương pháp truyền thống với 190 công đoạn khác nhau và mất tới vài tuần để hoàn thiện. Một nguyên nhân khác khiến đôi giày này đắt như vậy là bởi bạn chỉ có thể mua nó trên mạng.

Giày Mikaraja của Christian Louboutin

Giá tham khảo: 2.095 USD

Christian Louboutin cho biết, đôi giày này được rất nhiều nhà nghệ sỹ yêu thích và ngay cả tác giả của nó cũng thấy mê mẩn không dứt ra được. Đôi giày với những họa tiết kiểu Ấn Độ. Những chi tiết này do xưởng thêu huyền thoại “The House of Lesage” thiết kế. Ngoài ra, núm tua gắn trên đôi giày là sản phẩm của đích tay Jean-Francois Lesage, con trai ông chủ xưởng thêu huyền thoại House of Lesage.

Túi da cá sấu Demetra của Valentino

Giá tham khảo: 19.500 USD

Demetra mang dáng dấp cổ điển và phiên bản cực kì hiếm của chiếc túi này chỉ có ba chiếc với ba màu đỏ, xanh lá cây và đen. Phiên bản nhỏ của Demetra cũng chỉ có hai màu xanh và đen với giá 15.400 USD. Giám đốc sáng tạo của Valentino Pierpaolo Piccioli và Maria Grazia Churi giới thiệu rằng, Demetra là một phần trong bộ sưu tập “Nữ thần” của họ. Những chiếc túi xách này chỉ được sản xuất với số lượng hạn chế và bán độc quyền ở trung tâm thương mại danh tiếng Bergdorf Goodman (New York, Mỹ).

Túi da cá sấu Ralph Lauren

Giá tham khảo: 24.000 USD

Ralph Lauren cho biết, chiếc túi này 100% làm từ da cá sấu và được chế tác ở Italy. Công ty cũng cho biết, Ralph Lauren đã nắm bắt được “tinh thần của người Mỹ” trong mỗi sản phẩm xa xỉ được làm cầu kỳ với chất lượng cao nhất. Chiếc túi này nằm trong bộ sưu tập Purple Label của Ralph Lauren.

Ferrari 458 Spider

Giá tham khảo: 257.412 USD

Phiên bản mui trần của siêu xe Ferrari 458 Italy sử dụng kiểu mui xếp cứng bằng nhôm một mảnh thiết kế mới, thay vì 2-3 mảnh như thông thường. Khi mở ra, mui sẽ lật ngửa và xếp vào khoang sau ghế ngồi. Ferrari cho biết, kết cấu mui xe bằng nhôm này có nhiều ưu điểm so với loại rời mui mềm truyền thống, như trọng lượng giảm 25 kg và thời gian đóng-mở cũng ngắn hơn (14 giây). Xe sử dụng động cơ 4.5L V8 công suất 570 mã lực, kết hợp với hộp số F1 bán tự động, thời gian tăng tốc từ 0-100 km/h trong chưa đến 3,4 giây và đạt tốc độ tối đa 320 km/h.

Ferrari FF phiên bản 2012

Giá tham khảo: 395.000 USD

Mỗi năm, những người đam mê xe hơi đều háo hức chờ đón phiên bản đặc biệt hạn chế của dòng Neiman Marcus. Năm ngoái, Ferrari tung ra Ferrari FF 2012 với nhiều tính năng vượt trội, như động cơ V12 mã lực 651, tăng tốc từ 0 lên 100 km/h chỉ trong vòng chưa đến 3,7 giây và chế độ bảo hành lên tới 7 năm. Nội thất bên trong được làm bằng da mềm để duy trì độ ẩm tự nhiên cho da người. Hệ thống lái bốn bánh rất nhẹ để thích hợp với mọi loại thời tiết.

Lãi suất vàng ACB tăng nốt các kỳ hạn còn lại

Ngân hàng Á châu (ACB) lại tiếp tục điều chỉnh biểu lãi suất huy động, tăng nốt các kỳ hạn còn lại…

Sau một tuần, biểu lãi suất huy động của ACB tiếp tục có thay đổi.

Ngân hàng Á châu (ACB) lại tiếp tục điều chỉnh biểu lãi suất huy động. Lãi suất huy động vàng của ngân hàng này theo đó đã tăng nốt ở các kỳ hạn còn lại.

Một tuần sau lần điều chỉnh đầu tiên trong năm 2012, ACB có thêm biểu lãi suất huy động mới với thay đổi tại biểu lãi suất chứng chỉ huy động vàng (gồm vàng SJC và vàng ACB).

Trong cơ cấu của ACB, chứng chỉ huy động vàng có 6 kỳ hạn ngắn. Trong lần tăng ngày 16/2 vừa qua, lãi suất ở các kỳ hạn 1, 2 và 3 tháng đã tăng mạnh từ 1,45% – 1,55%/năm lên 2,35% – 2,45%/năm; còn các kỳ hạn 6, 9 và 11 tháng giữ nguyên ở mức 1,5% – 1,6%/năm tùy loại.

Ở lần điều chỉnh mới này, ACB tăng nốt lãi suất ở các kỳ hạn còn lại là 6, 9 và 11 tháng lên 2,2% – 2,3%/năm.

Mức lãi suất cao nhất của chứng chỉ huy động vàng trong cơ cấu huy động vẫn giữ nguyên là 3%/năm, theo chương trình “Ngày vàng ACB”.

Giá cả hàng hóa toàn cầu biến động dữ dội

Trong khi, dầu thô thế giới giảm giá sâu nhất trong 5 tuần, thì giá vàng lại đột ngột tăng khá mạnh trở lại…

Thị trường hàng hóa đang chịu tác động từ tin tức trái chiều của kinh tế Mỹ cùng châu Âu.

Chịu tác động từ tình hình kinh tế Mỹ, giá dầu thô thế giới đêm qua sụt mạnh nhất trong vòng 5 tuần. Ngược chiều, nhờ lực đẩy từ việc ECB có khả năng bơm tiền cho các ngân hàng, giá vàng thế giới đêm qua tăng khá mạnh trở lại.

Dầu thô sụt hơn 2%

Đóng cửa phiên giao dịch ngày 28/2, giá dầu thô ngọt, nhẹ giao tháng 4 trên sàn New York giảm 2,01 USD, tương ứng 1,9%, xuống đứng ở mức 106,55 USD/thùng. Đây là mức giảm giá mạnh nhất của dầu kỳ hạn kể từ phiên 20/1/2012.

Tại London, giá dầu Brent giao tháng 4 cũng suy giảm 2,62 USD, tương đương 2,1%, xuống 121,55 USD/thùng. Hiện chênh lệch giữa giá dầu Brent và dầu New York đã được thu hẹp xuống còn 15 USD/thùng, sau bốn phiên liên tiếp.

Nguyên nhân chính khiến dầu thô lao dốc là bởi thông tin lượng đơn hàng tiêu dùng bền tháng 1 của Mỹ giảm mạnh nhất trong 3 năm và việc giá nhà đất tại 20 thành phố Mỹ xuống thấp nhất kể từ khủng hoảng địa ốc giữa năm 2006.

Cùng với dầu thô, xăng giao tháng 3 giảm 9 cent, tương ứng 2,8% xuống 3,04 USD/gallon. Dầu sưởi hạ 6 cent, tương ứng 1,9%, xuống 3,22 USD/gallon. Khí tự nhiên trượt mạnh tới 8 cent, tương ứng 3,2%, xuống 2,52 USD/ triệu BTU.

Vàng leo dốc khá mạnh

Kết thúc phiên giao dịch đêm qua (28/2), giá vàng giao tháng 4 trên sàn Comex tăng 13,5 USD/ounce lên 1.788,4 USD/ounce. Lúc 6h45 sáng nay, giá vàng giao ngay tăng 16,6 USD/ounce tương ứng 0,93%, lên 1.784,7 USD/ounce.

Giá vàng tăng sau khi Ngân hàng Trung ương châu Âu (ECB) dự kiến sẽ cấp các khoản vay tương đương 500 tỷ Euro với lãi suất thấp trong vòng 3 năm, cho các ngân hàng và những công ty cần vốn đầu tư. Từ đầu năm, vàng đã tăng 14%.

Giới phân tích kỳ vọng động thái này sẽ xoa dịu thêm những căng thẳng trong hệ thống ngân hàng của Khu vực đồng Euro. Trong lần tái cấp vốn trước, các ngân hàng vay tổng cộng 489 tỷ Euro (tương đương 657 tỷ USD) với thời hạn 3 năm.

Các kim loại khác cũng có xu hướng đi lên với giá vàng. Trong đó, bạc tháng 3 tăng 1,62 USD, lên 37,14 USD/ounce, cao nhất từ tháng 9/2011. Đồng tăng 3 cent lên 3,91 USD/lb. Palladium tăng 14,45 USD lên 719,75 USD/ounce.

Giá ca cao giảm mạnh

Trên thị trường nông sản, mặt hàng ca cao trượt mạnh tới 30 USD khi chốt phiên 28/2, tương ứng mức giảm 1,25%, xuống còn 2.370 USD/tấn. Ở chiều ngược lại, cà phê arabica tăng 0,81% lên đóng cửa ở 206,25 cent/lb.

Giá đường thô thế giới diễn biến cùng chiều với ca cao, khi trượt 0,86% xuống còn 25,33 cent/lb. Giá gạo chưa xay, xát trên sàn CBOT giảm 0,31% xuống mức 14,385 USD/cwt. Giá đậu tương hạ 0,29% xuống 1.308,75 cent/bushel.

Bãi bỏ yêu cầu bắt buộc công chứng 5 loại hợp đồng nhà đất

Tiếp tục bãi bỏ yêu cầu bắt buộc công chứng 5 loại hợp đồng nhà đất và chưa thực thi đối với 9 loại hợp đồng nhà đất khác…

Thủ tục liên quan đến nhà đất tiếp tục được đơn giản hóa.

Thủ tướng Chính phủ vừa chỉ đạo sẽ tiếp tục thực thi phương án bãi bỏ yêu cầu bắt buộc công chứng 5 loại hợp đồng nhà đất và chưa thực thi đối với 9 loại hợp đồng nhà đất khác.

Cụ thể là sẽ tiếp tục thực thi phương án bãi bỏ yêu cầu bắt buộc công chứng đối với 5 loại hợp đồng: cho thuê quyền sử dụng đất, quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất; chuyển đổi quyền sử dụng đất nông nghiệp; cho mượn, cho ở nhờ nhà ở; cho thuê nhà ở; ủy quyền quản lý nhà ở theo Nghị quyết số 52/NQ-CP ngày 10/12/2010.

Cũng theo chỉ đạo của Thủ tướng, chưa thực thi phương án bãi bỏ yêu cầu bắt buộc công chứng đối với các hợp đồng: thế chấp quyền sử dụng đất, quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất; góp vốn bằng quyền sử dụng đất, quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất; chuyển nhượng quyền sử dụng đất, quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất; tặng cho quyền sử dụng đất, quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất; mua bán nhà ở; đổi nhà ở; tặng cho nhà ở; thế chấp nhà ở; góp vốn bằng nhà ở theo Nghị quyết số 25/NQ-CP ngày 2/6/2010 và Nghị quyết số 52/NQ-CP ngày 10/12/2010.

Thủ tướng Chính phủ cũng giao Bộ Tư pháp, Bộ Tài nguyên và Môi trường nghiên cứu ban hành thông tư liên tịch hướng dẫn việc công chứng, chứng thực hợp đồng, văn bản thực hiện quyền của người sử dụng đất và sở hữu nhà ở theo hướng quy định rõ trách nhiệm của tổ chức hành nghề công chứng và trách nhiệm của cơ quan đăng ký quyền sở hữu nhà ở, quyền sử dụng đất, tạo điều kiện thuận lợi và giảm thiểu chi phí cho người dân, doanh nghiệp khi thực hiện các thủ tục liên quan đến công chứng, chứng thực và đăng ký quyền sở hữu nhà ở, quyền sử dụng đất.

Tin vắn chứng khoán ngày 29/2

Những thông tin đáng chú ý ngày 29/2012 về doanh nghiệp trên thị trường chứng khoán Việt Nam…

Diễn biến giá cổ phiếu BMC trong 3 tháng qua. Nguồn: HSX.

Những thông tin đáng chú ý ngày 29/2012 về doanh nghiệp trên thị trường chứng khoán Việt Nam.

* Ngày 18/2/2012, Công ty Cổ phần Dịch vụ Phát triển Hạ tầng PBC, tổ chức có liên quan đến cổ đông nội bộ của Công ty Cổ phần Khoáng sản Bình Định (mã BMC-HSX) đã bán 20.000 cổ phiếu, số cổ phiếu nắm giữ còn 230.000 cổ phiếu, nhằm bổ sung vốn lưu động.

* Từ ngày 2/3/2012 – 30/3/2012, Công ty Cổ phần Dịch vụ Phát triển Hạ tầng PBC, tổ chức có liên quan đến cổ đông nội bộ của Công ty Cổ phần Khoáng sản Bình Định (mã BMC-HSX) đăng ký bán 30.000 cổ phiếu, số cổ phiếu sẽ nắm giữ còn 200.000 cổ phiếu, nhằm bổ sung vốn lưu động.

* Từ ngày 2/3/2012 – 13/4/2012, ông Nguyễn Viết Xuân – Phó tổng giám đốc Công ty Cổ phần Lilama 10 (mã L10-HSX) đăng ký mua 9.000 cổ phiếu, chiếm 0,1% vốn điều lệ, nhằm tăng tỷ lệ sở hữu.

* Từ ngày 2/3/2012 – 27/4/2012, bà Đặng Thị Hoàng Anh – thành viên BKS Công ty Cổ phần Cơ điện và Xây dựng Việt Nam (mã MCG-HSX) đăng ký mua 20.000 cổ phiếu, nâng số cổ phiếu sẽ nắm giữ lên 28.850 cổ phiếu, nhằm đầu tư.

* Từ ngày 1/3/2012 – 6/3/2012, Tổng Công ty Trực thăng Việt Nam – Công ty TNHH, cổ đông lớn của Ngân hàng Thương mại Cổ phần Quân Đội (mã MBB-HSX) dự kiến bán 52.882.207 quyền mua, số cổ phiếu dự kiến nắm giữ là 52.882.207 cổ phiếu.

* Từ ngày 2/3/2012 – 2/4/2012, bà Hồ Thị Kim Hương, em ông Hồ Mạnh Hùng – thành viên BKS Tổng Công ty Cổ phần Đầu tư Phát triển Xây dựng (mã DIG-HSX) đăng ký mua 3.200 cổ phiếu, đăng ký bán 3.200 cổ phiếu, số cổ phiếu sẽ nắm giữ là 3.260 cổ phiếu, chiếm 0,0025% vốn điều lệ, nhằm đầu tư.

* Từ ngày 2/3/2012 – 2/5/2012, bà Phạm Thị Thủy, em ông Phạm Đức Tấn – Chủ tịch Hội đồng Quản trị Công ty cổ phần Phát triển hạ tầng & Bất động sản Thái Bình Dương (mã PPI-HSX) đăng ký mua 50.000 cổ phiếu, nâng số cổ phiếu sẽ nắm giữ lên 428.853 cổ phiếu, nhằm tăng tỷ lệ nắm giữ.

* Từ ngày 2/3/2012 – 9/3/2012, Công đoàn Công ty Cổ phần Vận tải Hà Tiên, tổ chức có liên quan đến cổ đông nội bộ của Công ty Cổ phần Xi măng Hà Tiên 1 (mã HT1-HSX) đăng ký bán 100.370 cổ phiếu, số cổ phiếu sẽ nắm giữ còn 271.945 cổ phiếu, nhằm cân đối tài chính.

* Ngày 24/2/2012, Quỹ tầm nhìn SSI, cổ đông lớn của Công ty Cổ phần Dịch vụ Tổng hợp Sài Gòn (mã SVC-HSX) đã mua 160.950 cổ phiếu, đã bán 465.890 cổ phiếu, số cổ phiếu nắm giữ là 2.854.050 cổ phiếu, chiếm 11,43% vốn điều lệ.

* Từ ngày 2/3/2012 – 2/5/2012, Quỹ tầm nhìn SSI, cổ đông lớn của Công ty Cổ phần Dịch vụ Tổng hợp Sài Gòn (mã SVC-HSX) đăng ký mua 1.000.000 cổ phiếu, đăng ký bán 1.000.000 cổ phiếu, số cổ phiếu sẽ nắm giữ còn 1.854.050 cổ phiếu, chiếm 11,43% vốn điều lệ, nhằm cơ cấu danh mục đầu tư.

* Từ ngày 2/3/2012 – 2/5/2012, Công ty TNHH Quản lý Quỹ SSI (SSIAM), cổ đông lớn của Công ty Cổ phần Dịch vụ Tổng hợp Sài Gòn (mã SVC-HSX) đăng ký mua 1.394.650 cổ phiếu, đăng ký bán 1.394.650 cổ phiếu, số cổ phiếu sẽ nắm giữ còn 1.394.650 cổ phiếu, chiếm 5,58% vốn điều lệ, nhằm cơ cấu danh mục đầu tư.

* Từ ngày 5/3/2012 – 5/5/2012, ông Hoàng Hải Bình – thành viên Hội đồng Quản trị Công ty Cổ phần Đệ Tam (mã DTA-HSX) đăng ký bán 26.000 cổ phiếu, số cổ phiếu sẽ nắm giữ còn 100.000 cổ phiếu, nhằm đáp ứng tài chính cá nhân.

* Ngày 28/3/2012, Công ty Cổ phần Cao su Thống Nhất (mã TNC-HSX) tổ chức Đại hội đồng cổ đông thường năm 2012 tại số 256 đường 27/4 – Phường Phước Hưng – Thị xã Bà rịa – Tỉnh Bà rịa – Vũng Tàu.

* Ngày 15/2/2012, ông Nguyễn Ân – Tổng giám đốc Công ty Cổ phần Sản xuất Thương mại May Sài Gòn (mã GMC-HSX) đã mua 43.966 cổ phiếu, số cổ phiếu hiện đang nắm giữ là 194.628 cổ phiếu, chiếm 2,19% vốn điều lệ, nhằm đầu tư.

* Từ ngày 9/1/2012 – 13/2/2012, bà Trần Thị Xuyến, mẹ ông Hoàng Hải Bình – thành viên Hội đồng Quản trị Công ty Cổ phần Đệ Tam (mã DTA-HSX) đã bán hết 51.000 cổ phiếu, nhằm phục vụ tài chính cá nhân.

* Ngày 17/2/2012, ông Nguyễn Tấn Ngoan – Phó phòng Quản lý chất lượng, người có liên quan ông Nguyễn Tuấn Anh – Phó tổng giám đốc Công ty Cổ phần Tập đoàn Thủy sản Minh Phú (mã MPC-HSX) đã bán 16.000 cổ phiếu, số cổ phiếu nắm giữ còn 1.390 cổ phiếu, chiếm 0,002% vốn điều lệ, vì lý do cá nhân.

* Công ty Cổ phần Vinafco (mã VFC-HSX) thông báo ông Andrew John Hulse thôi giữ chức Phó tổng giám đốc công ty từ ngày 14/2/2012.

* Công ty Cổ phần Điện tử Tân Bình (mã VTB-HSX) thông báo chính thức đổi tên công ty thành Công ty Cổ phần Viettronics Tân Bình (Viettronics Tan Binh Joint Stock Company), trụ sở chính đặt tại 248 Nơ Trang Long, phường 12, quận Bình Thạnh.

* Ngày 21/2/2012, ông Đinh Quang Chiến, cổ đông lớn của Công ty Cổ phần Thủy điện Cần Đơn (mã SJD-HSX) đã mua 1.800.018 cổ phiếu, chiếm 5% vốn điều lệ.

* Ngày 29/2/2012, 10.000.000 cổ phiếu niêm yết bổ sung của Công ty Cổ phần Khoáng sản Sài Gòn – Quy Nhơn (mã SQC-HNX) chính thức giao dịch trên HNX với giá trị cổ phiếu niêm yết bổ sung theo mệnh giá là 100 tỷ đồng.

* Từ ngày 8/2/2012 – 6/4/2012, ông Đỗ Đình Hùng – Chủ tịch Hội đồng Quản trị Công ty Cổ phần Vinaconex 6 (mã VC6-HNX) đăng ký mua 100.000 cổ phiếu, nhằm tăng tỷ lệ nắm giữ cổ phiếu.

* Từ ngày 27/2/2012 – 26/4/2012, ông Bùi Công Giang – Phó Chủ tịch Hội đồng Quản trị Công ty Cổ phần Cảng Rau quả (mã VGP-HNX) đăng ký mua 500.000 cổ phiếu, nhằm đầu tư.

* Từ ngày 27/2/2012 – 26/4/2012, Công ty Cổ phần A.N.P.H.A, tổ chức có liên quan đến Phó Chủ tịch Hội đồng Quản trị Công ty Cổ phần Cảng Rau quả (mã VGP-HNX) đăng ký bán 200.000 cổ phiếu, đăng ký mua 300.000 cổ phiếu, nhằm cơ cấu lại danh mục đầu tư.

* Từ ngày 5/3/2012 – 30/3/2012, Công ty Cổ phần Tư vấn Xây dựng Điện 4 (mã TV4-HNX) đăng ký mua lại 1.210 cổ phiếu, nhằm mua lại cổ phiếu thưởng của cán bộ công nhân viên nghỉ việc làm cổ phiếu quỹ. Nguồn vốn lợi nhuận để lại. Phương thức giao dịch là giao dịch thoả thuận. Nguyên tắc xác định giá là mua lại theo mệnh giá.

* Ngày 22/2/2012, Công ty TNHH một thành viên VPID Hà Nội (HNVPID), cổ đông lớn của Công ty Cổ phần Phát triển Nhà và Sản xuất Vật liệu xây dựng Chí Linh (mã MCL-HNX) đã mua 70.100 cổ phiếu, chiếm 7,02% vốn điều lệ.

* Từ ngày 22/12/2011 – 22/2/2012, bà Hồ Thị Hà, vợ ông Lương Xuân Dũng – Chủ tịch Hội đồng Quản trị Công ty Cổ phần Bia Thanh Hóa (mã THB-HNX) đăng ký mua 25.000 cổ phiếu, đã mua 10.000 cổ phiếu. Lý do không thực hiện giao dịch hết số cổ phiếu đăng ký các lệch đặt mua không khớp lệnh, số cổ phiếu hiện đang nắm giữ là 176.530 cổ phiếu, chiếm 1,55% vốn điều lệ.

* Dự kiến ngày 20/4/2012, Công ty Cổ phần Sông Đà 5 (mã SD5-HNX) tổ chức Đại hội đồng cổ đông thường niên năm 2012 tại Hội trường tầng 4, khối C, tòa nhà HH4, khu đô thị Sông Đà – Mỹ Đình, Từ Liêm, Hà Nội.

* Ngày 25/3/2012, Công ty Cổ phần Sách và Thiết bị Trường học Quảng Ninh (mã QST-HNX) tổ chức Đại hội đồng cổ đông thường niên năm 2012 tại Hội trường Trường Tiểu học, Trung học cơ sở và Trung học phổ thông Văn Lang. Địa chỉ: Đường Văn Lang, phường Hòn Gai, thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh.

* Từ ngày 16/12/2011 – 15/2/2012, Công ty Cổ phần Kinh doanh dịch vụ cao cấp Dầu khí Việt Nam (mã PVR-HNX) đăng ký mua 755.800 cổ phiếu, đã mua 450.000 cổ phiếu. Lý do không thực hiện giao dịch hết số cổ phiếu đăng ký là công ty đã đặt lệnh mua nhưng không khớp lệnh được như mong muốn, số cổ phiếu hiện đang nắm giữ là 1.194.200 cổ phiếu.

* Dự kiến ngày 27/3/2012, Công ty Cổ phần Vinaconex 6 (mã VC6-HNX) tổ chức Đại hội đồng cổ đông thường niên năm 2012 tại tầng 5, Tòa nhà 29T2, phố Hoàng Đạo Thúy, phường  Trung Hòa, Quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội.

* Công ty Cổ phần Xây dựng số 2 (mã VC2-HNX) thông báo ông Vũ Duy Long – Kế toán trưởng – Giám đốc Ban Tài chính là người được ủy quyền công bố thông tin, kể từ ngày 8/2/2012 thay cho ông Lò Hồng Hiệp.

* Ngày 27/3/2012, Công ty Cổ phần Sách và thiết bị Bình Định (mã BDB-HNX) tổ chức Đại hội đồng cổ đông thường niên năm 2012 tại Nhà khách Thanh Bình, số 06 Lý thường Kiệt, Tp. Quy Nhơn, Bình Định.

* Từ ngày 27/2/2012 – 26/4/2012, Công ty Cổ phần Chứng khoán Bảo Việt, cổ đông lớn của Công ty Cổ phần Xuất nhập khẩu Tổng hợp I Việt Nam (mã TH1-HNX) đăng ký bán 200.000 cổ phiếu, đăng ký mua 200.000 cổ phiếu, nhằm cơ cấu danh mục đầu tư.

* Từ ngày 27/2/2012 – 20/4/2012, ông Trần Đình Tú – Kế toán trưởng Công ty Cổ phần Sông Đà 10 (mã SDT-HNX) đăng ký bán 69.500 cổ phiếu, đăng ký mua 100.000 cổ phiếu, nhằm đầu tư.

* Dự kiến ngày 27/3/2012, Công ty Cổ phần Xây dựng số 1 (mã VC1-HNX) tổ chức Đại hội đồng cổ đông thường niên năm 2012 tại tại Hội trường tầng 7, tòa nhà D9 Khuất Duy Tiến, Thanh Xuân Bắc, Thanh Xuân, Hà Nội.

* Dự kiến ngày 3/4/2012, Công ty Cổ phần Kim khí miền Trung (mã KMT-HNX) tổ chức Đại hội đồng cổ đông thường niên năm tài chính 2011 tại Hội trường Công ty tầng 5 – 16 Thái Phiên – Quận Hải Châu – Tp Đà Nẵng.

* Công ty Cổ phần Đầu tư và Xây dựng số 18 (mã L18-HNX) thông báo về việc điều chỉnh ngày tạm ứng cổ tức năm 2011 sang ngày 20/4/2012 thay vì ngày 30/3/2012 như đã thông báo. Các nội dung khác không thay đổi.

* Từ ngày 19/12/2011 – 10/2/2012, bà Hoàng Thị Minh Hòa – Ủy viên Hội đồng Quản trị Công ty Cổ phần Thủy sản Số 1 (mã SJ1-HNX) đã bán 25.130 cổ phiếu, số cổ phiếu nắm giữ còn 2.510 cổ phiếu, chiếm 0,07% vốn điều lệ.

* Từ ngày 19/12/2011 – 10/2/2012, bà Hoàng Thị Ngọc Hân, em bà Hoàng Thị Minh Hòa – Ủy viên Hội đồng Quản trị Công ty Cổ phần Thủy sản Số 1 (mã SJ1-HNX) đã bán 118.020 cổ phiếu, số cổ phiếu nắm giữ còn 11.800 cổ phiếu, chiếm 0,34% vốn điều lệ.

* Ngày 6/4/2012, Công ty Cổ phần Sadico Cần Thơ (mã SDG-HNX) tổ chức Đại hội đồng cổ đông thường niên năm 2012 tại Hội trường nhà hàng Hoa Sứ, 243B Trần Văn Khéo, phường Cái Khế, quận Ninh Kiều, Tp. Cần Thơ.

* Ngày 14/4/2012, Công ty Cổ phần Dược phẩm dược liệu Pharmedic (mã PMC-HNX) tổ chức Đại hội đồng cổ đông thường niên năm 2012 tại Hội trường Nhà máy Công ty Cổ phần dược phẩm dược liệu Pharmedic, số 1/67 Nguyễn Văn Quá, phường Đông Hưng Thuận, quận 12, Tp.HCM.

Dow Jones chính thức vượt 13.000 điểm

Lần đầu tiên kể từ tháng 5/2008, chỉ số công nghiệp Dow Jones của thị trường chứng khoán Mỹ đóng cửa trên mức 13.000 điểm…

Cùng với Dow Jones, chỉ số S&P 500 cũng đã vượt qua ngưỡng cản kỹ thuật quan trọng, mở đường cho việc hướng tới các mục tiêu cao hơn.

Lần đầu tiên kể từ tháng 5/2008, chỉ số công nghiệp Dow Jones của thị trường chứng khoán Mỹ đóng cửa trên mức 13.000 điểm. Cùng với Dow Jones, chỉ số S&P 500 cũng đã vượt qua ngưỡng cản kỹ thuật quan trọng, mở đường cho việc hướng tới các mục tiêu cao hơn.

Chốt phiên giao dịch hôm 28/2, chỉ số công nghiệp Dow Jones tăng 23,61 điểm, tương ứng 0,18%, lên 13.005,12 điểm. Chỉ số S&P 500 tăng 4,59 điểm, tương ứng 0,34%, lên 1.372,18 điểm. Chỉ số Nasdaq Composite cộng 20,6 điểm, tương ứng 0,69%, lên mức 2.986,76 điểm.

Trong đó, chỉ số Dow Jones hiện ở mức cao nhất kể từ tháng 5/2008, Nasdaq ở mức cao nhất từ 12/2000. Riêng S&P 500 đã chính thức vượt qua ngưỡng cản 1.370 điểm, đưa mức tăng điểm của chỉ số này từ đầu năm tới nay lên khoảng 9%, cho thấy kinh tế Mỹ ngày càng mạnh.

Phiên hôm qua, các chỉ số tăng trưởng tích cực là nhờ báo cáo của tổ chức nghiên cứu Conference Board cho thấy niềm tin tiêu dùng của Mỹ trong tháng 2 đã vượt lên mức 70,8 điểm từ mức 61,5 điểm trong tháng 1, vượt xa mức dự báo 63,5 điểm do giới phân tích kinh tế đưa ra.

Một nguyên nhân khác cũng tác động tích cực lên thị trường là việc giá dầu sụt mạnh hơn 2%, đã làm dịu bớt những lo lắng của nhà đầu tư về lạm phát cũng như triển vọng tiêu dùng thời gian tới. Tuy nhiên, lượng đơn đặt hàng tiêu dùng bền giảm đã hạn chế đà tăng của thị trường.

Khối lượng giao dịch toàn thị trường thấp, với 6,4 tỷ cổ phiếu được chuyển nhượng trên sàn New York, American và Nasdaq, thấp hơn nhiều so với mức giao dịch bình quân 7,81 tỷ cổ phiếu trong năm ngoái. Tỷ lệ cổ phiếu tăng/ giảm suýt soát nhau trên cả sàn New York và Nasdaq.

Thị trường Chỉ số Phiên trước Đóng cửa Tăng/giảm (điểm) Tăng/giảm (%)
Mỹ Dow Jones 12.981,50 13.005,10 Up23,61 Up0,18
S&P 500 1.367,59 1.372,18 Up4,59 Up0,34
Nasdaq 2.966,16 2.986,76 Up20,60 Up0,69
Anh FTSE 100 5.915,55 5.927,91 Up12,36 Up0,21
Pháp CAC 40 3.441,45 3.453,99 Up12,54 Up0,36
Đức DAX 6.849,60 6.887,63 Up38,03 Up0,56
Nhật Bản Nikkei 225 9.633,93 9.722,52 Up88,59 Up0,92
Hồng Kông Hang Seng 21.217,90 21.568,70 Up350,87 Up1,65
Trung Quốc Shanghai Composite 2.447,06 2.451,86 Up4,80 Up0,20
Đài Loan Taiwan Weighted 7.959,34
Hàn Quốc KOSPI Composite 1.991,16 2.003,69 Up12,53 Up0,63
Singapore Straits Times 2.946,78 2.969,73 Up22,95 Up0,78
Nguồn: CNBC, Market Watch.