Giá gas giảm 9.000 – 10.000 đồng/bình 12kg

Các hãng gas vừa thông báo sẽ giảm giá bán lẻ gas đến tay người tiêu dùng từ 9.000 – 10.000 đồng/bình 12kg, từ 1/9…

Qua lần giảm này, giá bán lẻ khi tới tay người tiêu dùng dao động từ 356.000 – 360.000 đồng/bình.

Các hãng gas trong nước vừa có thông báo sẽ giảm giá bán lẻ gas đến tay người tiêu dùng từ 9.000 – 10.000 đồng/bình 12kg, từ 1/9.

Cụ thể, 7h30 ngày 1/9, Saigon Petro chính thức điều chỉnh giảm giá bán lẻ của khí đốt này là 9.000 đồng/bình 12kg (đã bao gồm VAT). Còn mức giảm giá của Gia Đình Gas là 10.000 đồng/bình 12 kg.

Theo đó, giá bán lẻ khi tới tay người tiêu dùng của các nhà cung cấp trên dao động từ 356.000 – 360.000 đồng/bình.

Ông Đỗ Trung Thành, Phó trưởng phòng Kinh doanh của Saigon Petro cho hay, việc giá gas trên thế giới giao trong tháng 9 giảm 32,5 USD/tấn so với tháng trước đó, xuống còn 827 USD/tấn, đã hỗ trợ các đơn vị kinh doanh gas trong nước giảm giá bán lẻ cho người tiêu dùng.

Tính từ đầu năm đến nay, sau 8 lần tăng, giá gas đã có được 5 lần điều chỉnh giảm. Gần đây nhất, vào cuối tháng 5 và đầu tháng 6/2011, Saigon Petro đã có hai lần giảm giá với tổng mức giảm là 15.000 đồng/bình 12 kg.

Sang tháng 7, nhà cung cấp này lại giảm giá thêm 10.000 đồng/bình, trong khi một số hãng gas khác chỉ áp dụng mức giảm là 5.000 đồng/bình. Nhưng tới tháng 8, giá bán của mặt hàng này đã đột ngột bị điều chỉnh tăng thêm 8.000 đồng/bình 12kg với lý do là giá gas trên thế giới tăng lên mức 860 USD/tấn, tức tăng thêm 25 USD/tấn so với giá của tháng 7.

Doanh nghiệp xi măng: Tiêu thụ giảm dần, nợ nần căng thẳng

Tiêu thụ giảm trong khi nguồn cung tăng khiến các doanh nghiệp xi măng phải đối mặt với khó khăn thực sự…

Nhà máy xi măng Hoàng Mai hiện đang phải “nhờ” Bộ Tài chính trả nợ giúp.

Báo cáo của Bộ Xây dựng về tình hình sản xuất, tiêu thụ và đầu tư xi măng bảy tháng đầu năm ghi nhận tình trạng khó khăn của ngành này khi nền kinh tế tăng trưởng kém.

Tiêu thụ giảm dần

Theo báo cáo của Bộ Xây dựng, bảy tháng đầu năm 2011, cả nước sản xuất được 28,75 triệu tấn xi măng, đồng thời tiêu thụ được 28,42 triệu tấn.

Dù mức sản xuất và tiêu thụ này tương đương với 7 tháng đầu năm 2010, tuy nhiên theo ghi nhận của Bộ Xây dựng, trong những tháng gần đây tiêu thụ đang có xu hướng giảm dần.

Bộ Xây dựng cho rằng việc một loạt dự án đầu tư xây dựng, đặc biệt là các dự án bất động sản bị đình trệ dẫn tới nhu cầu về vật liệu xây dựng giảm sút chính là nguyên nhân của tình trạng này.

Một dẫn chứng là trong tháng 7/2011, mức tiêu thụ xi măng chỉ còn bằng 67,4% so với mức tiêu thụ của tháng 3/2011.

Vấn đề đáng nói là hiện nay ngành xi măng không gặp vấn đề gì về mặt sản xuất. Đến cuối năm 2010, cả nước có 59 dây chuyền sản xuất xi măng lò quay với tổng công suất thiết kế là 62,56 triệu tấn.

Trong 7 tháng đầu năm 2011 đã có thêm 2 dây chuyền mới được hoàn thành và đang chạy thử với công suất 1,51 triệu tấn. Cộng với việc các xi măng lò đứng hiện cũng đang có tổng công suất là 3,48 triệu tấn, nguy cơ thiếu xi măng đã được loại trừ hoàn toàn.

Căng thẳng nợ nần

Đáng chú ý là với việc tiêu thụ cầm chừng, các doanh nghiệp xi măng đang gặp khó khăn lớn trong khâu trả nợ và khấu hao thiết bị, đặc biệt là đối với những doanh nghiệp mới đầu tư, mới bắt đầu khấu hao hoặc khấu hao chưa đáng kể, như trường hợp một số nhà máy thuộc Tổng công ty công nghiệp xi măng Việt Nam (Vicem), xi măng Thái Nguyên, xi măng Đồng Bành…

Hầu hết các doanh nghiệp này vay vốn bằng ngoại tệ và với áp lực trả nợ ngoại tệ trong điều kiện tỷ giá tăng mạnh, các doanh nghiệp này thực sự đang gặp khó khăn.

Tính đến thời điểm hiện tại, đã có 16 dự án xi măng được Chính phủ bảo lãnh vay vốn, trong đó có 15 dự án bảo lãnh qua Bộ Tài chính và 1 dự án bảo lãnh qua Ngân hàng Nhà nước.

Tổng giá trị vốn vay nước ngoài được Chính phủ bảo lãnh là 1,675 tỷ USD, tương đương 17,92% tổng giá trị vốn vay nước ngoài được Chính phủ bảo lãnh. Trong khi đó, tổng dư nợ của các dự án xi măng hiện vẫn còn tới 988,6 triệu USD.

Cũng trong số 16 dự án này, có 4 dự án đang gặp khó khăn về trả nợ và Bộ Tài chính đã phải trả nợ thay do đến kỳ hạn trả nợ, bao gồm xi măng Hoàng Mai, xi măng Tam Điệp, xi măng Thái Nguyên và xi măng Đồng Bành.

Theo kế hoạch, trong năm 2011 sẽ có 10 dự án xi măng đi vào hoạt động. Bộ Xây dựng cho biết, ngoài 2 dự án đã đi vào hoạt động là Tân Quang (Tuyên Quang) và Quán Triều (Thái Nguyên), 8 dự án khác với tổng công suất là 6,92 triệu tấn cũng sẽ đi vào hoạt động trong năm 2011, dẫn tới áp lực lớn về cung xi măng cho thị trường.

Bộ Xây dựng cho hay hiện nay một số dự án đã được đăng ký trong danh mục nhưng chưa khởi công và ký hợp đồng thiết bị đều đã được yêu cầu ngừng lại.

Vẫn tiếp tục kiểm toán việc hỗ trợ lãi suất

Chậm nhất là tháng 8/2012, kết quả về kiểm toán quỹ bình ổn giá xăng dầu sẽ được công bố…

Phó tổng Kiểm toán Nhà nước Lê Minh Khái.

Ngày 30/8, Kiểm toán Nhà nước đã công bố công khai Báo cáo kiểm toán năm 2010 về niên độ ngân sách 2009 và Báo cáo kết quả thực hiện kết luận, kiến nghị kiểm toán năm 2009 của Kiểm toán Nhà nước.

Phó tổng Kiểm toán Nhà nước Lê Minh Khái đã trao đổi với báo chí về nhiều nội dung đáng chú ý tại báo cáo này.

Thưa ông, hoạt động của  doanh nghiệp nhà nước được phản ánh trong kết quả kiểm toán như thế nào?

Kết quả kiểm toán tại 25/27 doanh nghiệp sản xuất kinh doanh cho thấy các đơn vị này đều có lãi, bảo toàn và phát triển vốn. Tổng lợi nhuận trước thuế là 48.461 tỷ đồng, tỷ suất lợi nhuận trước thuế trên tổng doanh thu, thu nhập bình quân đạt 15,98%, trên vốn đầu tư chủ sở hữu bình quân đạt 25,13%. Trong đó, kết quả sản xuất kinh doanh của nhiều tập đoàn, tổng công ty tiếp tục tăng trưởng so với năm 2008, giữ vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước, như: Tập đoàn Dầu khí, Dệt may, Tổng công ty Công nghiệp Sài Gòn…

Tuy nhiên, tại một số tập đoàn, tổng công ty, mặc dù tình hình tài chính tại công ty mẹ tốt song tại các đơn vị thành viên chưa đồng đều, thậm chí có đơn vị thua lỗ lớn như tại Tổng công ty Bưu chính thuộc Tập đoàn Bưu chính Viễn thông; Công ty cổ phần Đầu tư và Phát triển nhà Hà Nội số 68 thuộc Tổng công ty Đầu tư và Phát triển nhà Hà Nội…..

Bên cạnh đó, nhiều tập đoàn, tổng công ty quản lý chi phí, giá thành còn hạn chế, hệ số huy động vốn cao, còn tiềm ẩn các yếu tố rủi ro… nên chưa phát huy tốt vai trò chủ đạo, đầu tàu của nền kinh tế, chưa tương xứng với những lợi thế và sự đầu tư của nhà nước, “đe dọa” đến việc bảo toàn vốn.

Tình trạng đầu tư tài chính của các tập đoàn, tổng công ty có chuyển biến gì không, thưa ông?

Tổng các khoản đầu tư tài chính ngắn và dài hạn tại các tập đoàn, tổng công ty là 110.865 tỷ đồng, trong đó đầu tư dài hạn chủ yếu là đầu tư vào công ty con thành viên và các công ty liên kết có nguồn gốc từ cổ phần hóa doanh nghiệp.

Việc đầu tư ra ngoài ngành nghề kinh doanh chính tại phần lớn các tập đoàn, tổng công ty năm 2009 chiếm tỷ lệ nhỏ so với vốn điều lệ, một số đơn vị không thực hiện đầu tư, song tỷ lệ đầu tư tài chính trên vốn điều lệ, vốn chủ sở hữu tại một số đơn vị chưa phù hợp quy định của Nghị định 09/2009/NĐ-CP của Chính phủ. Bên cạnh đó, năm 2009 do thị trường chứng khoán suy thoái nên hoạt động đầu tư chứng khoán tại các doanh nghiệp đều thua lỗ.

Việc thực hiện chính sách cho vay hỗ trợ lãi suất được thực hiện như thế nào, qua “con mắt” của Kiểm toán Nhà nước, thưa ông?

Việc thực hiện chính sách cho vay hỗ trợ lấi suất cơ bản được triển khai đúng quy định, đã góp phần ngăn chặn suy giảm kinh tế, bảo đảm an sinh xã hội, tăng trưởng kinh tế năm 2009 và những năm tiếp theo. Tuy nhiên trong quá trình triển khai, một số văn bản hướng dẫn thiếu chi tiết, chưa rõ ràng, cụ thể, không nhất quán, gây khó khăn khi thực hiện.

Quy định hỗ trợ lãi suất chỉ thực hiện đối với các khoản vay để đầu tư mới phát triển sản xuất kinh doanh nhưng tiêu chí xác định dự án đầu tư mới có nhiều quan điểm khác nhau dẫn đến khó khăn, chậm trễ trong hỗ trợ lãi suất. Việc hỗ trợ lãi suất cho vay mua máy móc thiết bị, vật tư phục vụ sản xuất nông nghiệp và vật liệu xây dựng nhà ở khu vực nông thôn chưa thực sự đi vào đời sống của nhân dân do còn những vướng mắc, chưa đạt được mục tiêu đề ra, khách hàng chưa tiếp cận được vốn vay một số tổ chức tín dụng cho vay hỗ trợ lãi suất chưa đúng quy định 258,742 tỷ đồng.

Năm 2011, Kiểm toán Nhà nước vẫn tiếp tục kiểm toán việc hỗ trợ lãi suất trong năm 2010 khi thực hiện kiểm tại các tổ chức tài chính ngân hàng.

Cũng liên quan đế hoạt động ngân hàng, thông qua việc kiểm toán báo cáo tài chính năm 2009 của Ngân hàng Nhà nước và 5 tổ chức tài chính, ngân hàng, bảo hiểm cho thấy, ở một số ngân hàng, do tăng trưởng huy động vốn thấp hơn tăng trưởng tín dụng nên tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu chỉ đạt 4,69%-6,21%, thấp hơn mức quy định 8% của Ngân hàng Nhà nước.

Một số ngân hàng không đảm bảo khả năng chi trả, phải xin tái cấp vốn của Ngân hàng Nhà nước và vay các tổ chức tín dụng trên thị trường liên ngân hàng, phát hành trái phiếu để bù đắp thiếu hụt thanh khoản; hiệu quả kinh doanh thấp; chất lượng tín dụng sụt giảm so với năm 2008. Kiểm toán Nhà nước đã kiến nghị xử lý tài chính hơn 17.095 tỷ đồng.

Việc kiểm toán quỹ bình ổn giá xăng dầu đã được thực hiện và ghi nhận bước đầu của Kiểm toán Nhà nước như thế nào, thưa ông?

Kiểm toán Nhà nước đang tiến hành kiểm toán về quỹ bình ổn tại 10 doanh nghiệp kinh doanh dầu mối xăng dầu nhưng chưa có kết quả cuối cùng. Về việc công khai kết quả kiểm toán thì sau khi có kết quả kết luận của đơn vị kiểm toán, việc công bố kết quả sẽ được thực hiện ở các mức độ khác nhau tùy thuộc vào tính chất và mức độ quan trọng của thông tin đó.

Kết quả có thể chỉ được công bố tại đơn vị được kiểm toán, công bố trên website của Tổng Kiểm toán Nhà nước hoặc họp báo công khai rộng rãi. Trong trường hợp chưa công khai ngay thì trong báo cáo kiểm toán năm 2011 về niên độ báo cáo ngân sách 2010 và chậm nhất là tháng 8/2012, kết quả về kiểm toán quỹ bình ổn giá xăng dầu sẽ được công bố.

Giá vàng tăng hơn 1 triệu đồng mỗi lượng, USD tiếp tục giảm

Giá vàng trong nước vừa mở cửa đã tăng hơn 1 triệu đồng/lượng, trong khi giá USD tự do hạ về quanh ngưỡng 21.000 đồng…

Diễn biến giá vàng SJC trong 7 phiên gần nhất, tính đến 10h40 hôm nay, 31/8/2011 (đơn vị: nghìn đồng/lượng) – Ảnh: SJC.

Giá vàng trong nước sáng nay vừa mở cửa đã tăng hơn 1 triệu đồng/lượng nhờ nhận được sự hỗ trợ từ phiên tăng gần 50 USD/oz phiên đêm qua của giá vàng quốc tế. Trong khi đó, giá USD thị trường tự do tiếp tục đi xuống, còn quanh ngưỡng 21.000 đồng đổi 1 “đô”.

Lúc 10h10 sáng nay, Công ty Phú Quý tại Hà Nội niêm yết giá vàng SJC ở mức 47,05 triệu đồng/lượng (mua vào) và 47,45 triệu đồng/lượng (bán ra).

Tại thị trường Tp.HCM, Công ty Vàng bạc đá quý Sài Gòn (SJC) báo giá vàng SJC ở mức 46,97 triệu đồng/lượng và 47,27 triệu đồng/lượng.

Các mức giá này của vàng miếng đã giảm chừng 100.000 đồng/lượng so với đầu giờ. Tuy nhiên, so với cuối giờ chiều qua, giá vàng hiện đã tăng hơn 1 triệu đồng/lượng, sau khi giảm trên 1 triệu đồng/lượng vào ngày hôm qua.

Mấy ngày gần đây, giá vàng diễn biến khó lường. Cuối tuần, giá vàng tăng khoảng 1 triệu đồng/lượng, sau đó lại giảm tổng cộng chừng 1,6 triệu đồng/lượng trong các ngày thứ Hai và thứ Ba, rồi lại tăng vọt trong sáng nay.

Giá vàng trong nước vẫn chịu ảnh hưởng chính từ giá vàng quốc tế. Khi giá vàng thế giới biến động mạnh thì giá vàng trong nước cũng trồi sụt theo. Tuy nhiên, độ nóng của giá vàng trong nước đang có chiều hướng giảm dần, khi mà lực mua vàng trong dân giảm bớt, số vàng nhập khẩu theo đợt cấp hạn ngạch thứ hai của tháng 8 cũng đã về đến Việt Nam.

Nếu so với giá vàng quốc tế quy đổi theo tỷ giá USD/VND ngân hàng, giá vàng trong nước lúc 9h30 sáng nay cao hơn 1,3-1,5 triệu đồng/lượng, giảm đáng kể so với mức chênh 2 triệu đồng/lượng khi lực cầu thị trường còn cao trong tuần trước.

Tuy nhiên, theo khẳng định của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Nguyễn Văn Bình cách đây chưa lâu, thì giá vàng trong nước cao hơn thế giới 400.000 đồng/lượng trở lên là đã có dấu hiệu của việc đầu cơ, làm giá.

Nếu áp dụng giá USD tự do để quy đổi giá vàng quốc tế, thì mức chênh so với giá vàng trong nước vẫn là 800.000-1 triệu đồng/lượng.

Giá USD thị trường tự do tại Hà Nội sáng nay nối tiếp đà giảm của ngày hôm qua. Lúc 9h30, một số điểm thu đổi báo giá ngoại tệ này ở mức 20.960 đồng (mua vào) và 21.020 đồng (bán ra), giảm 60 đồng ở cả hai chiều mua và bán so với sáng qua.

Ngân hàng Vietcombank duy trì báo giá USD ở mức 20.830 đồng và 20.834 đồng. Tỷ giá bình quân liên ngân hàng giữ ở 20.628 đồng.

Trong phiên giao dịch sáng nay tại châu Á, giá vàng diễn biến theo hướng giảm nhẹ. Lúc 9h30 giờ Việt Nam, vàng giao ngay có giá 1.833,3 USD/oz, hạ hơn 3 USD/oz so với giá đóng cửa tại thị trường New York.

Giá vàng giao ngay tại New York đêm qua chốt phiên tăng 46,6 USD/oz, tương đương tăng 2,6% so với phiên trước, đạt 1.836,1 USD/oz.

Biên bản cuộc họp chính sách tháng 8 của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (FED) công bố hôm qua cho thấy, cơ quan này đang có cái nhìn u ám về triển vọng nền kinh tế lớn nhất thế giới. Thị trường vì thế càng gia tăng đồn đoán về khả năng FED tung ra một gói QE3, theo đó gây áp lực giảm giá cho đồng USD và hỗ trợ cho giá vàng.

Khả năng FED có tung ra QE3 hay không được kỳ vọng sẽ được thể hiện rõ hơn trong cuộc họp chính sách tiếp theo diễn ra vào ngày 20/9 này của FED.

Bên cạnh đó, những thống kê bất lợi về kinh tế Mỹ và châu Âu hôm qua tiếp tục là lý do để giới đầu tư gom vàng. Niềm tin người tiêu dùng Mỹ trong tháng 8 đã rớt xuống mức thấp nhất kể từ cuộc khủng hoảng và suy thoái 2008-2009. Tại châu Âu, niềm tin của giới doanh nghiệp trong tháng 8 cũng giảm mạnh hơn dự kiến.

Ngoài ra, giá vàng còn được nâng đỡ bởi lực mua ở vùng giá thấp của các hãng chế tác nữ trang sau khi giá vàng giảm mạnh hôm 29/8. Mùa cưới và lễ hội cuối năm đang bắt đầu ở nhiều quốc gia, nên nhu cầu tiêu thụ vàng thường tăng mạnh vào thời gian này mỗi năm.

Quỹ tín thác đầu tư vàng lớn nhất thế giới SPDR Gold Trust cho biết, hiện họ đang nắm giữ 1.232,3 tấn vàng, tăng 2,5 tấn so với cuối tuần trước.

Tỷ giá Euro/USD tại Tokyo sáng nay phổ biến ở mức hơn 1,44 USD/Euro.

Giá dầu thô ngọt nhẹ giao tháng 10 tại New York lúc 10h05 giờ Việt Nam hạ 0,43 USD/thùng so với đóng cửa hôm qua, còn 88,47 USD/thùng. Đêm qua, giá dầu tăng 1,63 USD/thùng, đóng cửa ở mức 88,9 USD/thùng, cao nhất trong 3 tuần.

Chưa có quyết định truy thu thuế Honda Việt Nam

Lãnh đạo Cục Hải quan Hà Nội nói chưa ký quyết định gì về việc truy thu thuế 160 triệu USD đối với công ty Honda Việt Nam…

Bên trong một mẫu xe Honda Civic. Trong công văn gửi lên Chính phủ, HVN cho rằng, quyết định truy thu thuế là do cách hiểu luật khác nhau và không đúng.

Chiều 30/8, trong cuộc trao đổi với VnEconomy, Cục trưởng Cục Hải quan Hà Nội Nguyễn Văn Trường khẳng định, Cục chưa ký quyết định gì về việc truy thu thuế 160 triệu USD (tương đương 3.340 tỷ đồng) đối với công ty Honda Việt Nam (HVN).

Cục trưởng Nguyễn Văn Trường cho biết, về tình hình thực hiện quy định thuế nhập khẩu đối với linh kiện nhập khẩu để sản xuất, lắp ráp ôtô trong thời gian qua thì từ tháng 5/2010 đến nay, Bộ Tài chính, mà cục thể là Tổng cục Hải quan đã phát hiện một số doanh nghiệp nhập khẩu bộ linh kiện ôtô đồng bộ hoặc không đồng bộ khai báo là nhập khẩu linh kiện để sản xuất, lắp ráp ôtô đảm bảo các điều kiện trên để được phân loại, tính thuế nhập khẩu theo linh kiện.

Tuy nhiên, qua kiểm tra sau thông quan, cơ quan hải quan phát hiện bộ linh kiện nhập khẩu của một số doanh nghiệp có một số linh kiện không bảo đảm mức độ rời rạc của Quyết định số 05/2005/QĐ- BKHCN (không đáp ứng điều kiện để được phân loại và tính thuế theo linh kiên) nên cơ quan hải quan đã quyết định truy thu thuế theo qui định hiện hành (theo mức thuế suất của ôtô nguyên chiếc).

Cụ thể, với trường hợp HVN, ông Trường cho biết, công ty này có hai bộ phận chi tiết có độ rời rạc không phù hợp với Quyết định 05. Thứ nhất là ghế, gồm ghế ở dưới và phần tựa lưng, nếu theo Quyết định 05, hai cái này phải rời rạc nhưng lại lót vào nhau; thứ hai là vành và bánh, đáng lẽ phải tháo ra để phù hợp như theo quy định, thì HVN lại lắp vào.

Sau đó, Cục Hải quan Hà Nội đã yêu cầu doanh nghiệp tự tính ra những linh kiện đó theo mức thuế suất của ôtô nguyên chiếc.

Theo đó, số tiền mà doanh nghiệp tính ra là 160 triệu USD, Hải quan Hà Nội có ghi nhận trong biên bản và yêu cầu HVN ký vào văn bản đó, chứ chưa thu hay cưỡng chế gì mà chỉ yêu cầu doanh nghiệp cam đoan với cơ quan hải quan, còn sau này cơ quan nhà nước quyết định như thế nào thì sẽ thực hiện như thế.

“Nhưng doanh nghiệp này cứ “nằng nặc” hoãn lại chưa ký kết luận làm việc. Trong kết luận làm việc, theo quy định của kiểm tra sau thông quan thì sau hai ngày kết thúc phải gửi dự thảo, hai ngày sau gửi giải trình và giải trình xong mới kết luận. Trong giải trình, doanh nghiệp đồng ý hay không đồng ý thì phản ánh, lúc đó cơ quan nhà nước thấy không phù hợp thì sẽ điều chỉnh, thế nhưng doanh nghiệp cứ xin hoãn, chưa ký”, ông Trường nói.

Theo Cục trưởng Cục Hải quan Hà Nội, đến thời điểm hiện tại, Hải quan Hà Nội và HVN chưa có “ký tá” gì về số tiền 160 triệu USD, cũng chưa có một chữ ký, văn bản nào xác định nào giữa Hải quan Hà Nội và HVN về khoản truy thu trên, nó chỉ là một dự thảo kết luận nhưng phía bên HVN chưa ký, và mới chỉ có biên bản ghi nhận có hai loại linh kiện trên dẫn đến số thuế phải như vậy.

Trước câu hỏi, trong công văn gửi lên Chính phủ, HVN cho rằng, quyết định truy thu thuế là do cách hiểu luật khác nhau và không đúng, ông Trường giải thích, đó là do HVN lại chỉ coi những cái rất nhỏ như đinh ốc vít là linh kiện, chứ không coi cái ghế là linh kiện, không coi vành bánh là linh kiện! Còn việc thực hiện của các cơ quan chức năng là hoàn toàn đúng với qui định hiện hành.

Lãnh đạo Hải quan Hà Nội cũng ghi nhận, trong quá trình thực thi công việc, cũng có thể có những quy định chưa phù hợp với thực tế thì Chính phủ sẽ điều chỉnh, sao cho phù hợp thực tế của Việt Nam trong hội nhập, với các hiệp định Việt Nam cam kết với thế giới.

Còn để rơi vào “trường hợp khó xử” đối với HVN như trên là do sơ suất của cả doanh nghiệp và cũng do cả một số những quy định chưa phù hợp, nhưng nếu doanh nghiệp quan tâm tới Quyết định 05, tháo các linh kiện trên ra vận chuyển thì sẽ không dẫn đến lỗi bị truy thu thuế theo sản phẩm nhập nguyên chiếc.

“Nhưng tôi tin Chính phủ sẽ có những điều chỉnh để giải quyết phù hợp, không có chuyện thu tới 3.340 tỷ đồng, mặc dù con số sau thông quan đúng là như thế”, ông Trường nói.

Rủi ro nợ công có thể vượt lạm phát và tỷ giá?

“Nếu không cẩn thận, vấn đề nợ công của Việt Nam có thể sẽ thành rủi ro lớn hơn lạm phát hay tỷ giá trong 5-7 năm tới”…

Quan trọng là tổng tài sản sẽ tăng lên thế nào cùng với khối nợ.

“Nếu không cẩn thận, vấn đề nợ công của Việt Nam có thể sẽ thành rủi ro lớn hơn lạm phát hay tỷ giá trong 5-7 năm tới”, Phó chủ tịch Ủy ban Giám sát tài chính Quốc gia Lê Xuân Nghĩa nêu cảnh báo.

Liên tục những thông tin về quản lý tài chính lỏng lẻo của Mỹ, một số nước châu Âu và cường quốc châu Á, đi cùng với việc hạ bậc tín nhiệm hàng loạt gần đây, nhiều quốc gia đang phải xem lại vấn đề cân đối chi tiêu của mình.

Trong bối cảnh ấy, với Việt Nam nợ công đã là vấn đề? Hay cách hành xử với vay nợ là vấn đề? Hoặc đặc thù nợ Việt Nam là điều đáng quan tâm?

“Vấn đề nợ công tăng lên, theo lý thuyết, không là gì cả”, ông Lê Xuân Nghĩa nói với báo chí bên lề cuộc gặp của Phó thủ tướng Vũ Văn Ninh cùng Ủy ban Giám sát tài chính Quốc gia, sáng 29/8.

Với mức nợ cứ tiếp tục gia tăng so với GDP, hay việc đời ông vay để gánh nợ cho con, rồi tiếp đến cháu, chắt… thì nợ cứ tiến về vô cùng, ông Nghĩa cho là chuyện thường. Cái quan trọng, theo ông, là ở việc tổng tài sản sẽ tăng lên thế nào cùng với khối nợ ấy. Hay nói cách khác, cùng với quá trình tăng nợ là việc tích sản của nền kinh tế một cách hiệu quả.

Ông dẫn giải: “Cũng như tôi mua nhà phải đi vay, anh đòi gắt quá thì tôi bán bớt một cái đi trả nợ là thừa. Với một nền kinh tế đang giàu lên thì trái phiếu cũng là một loại tài sản có thể bán được”.

Cho nên, trong quan điểm của vị Phó chủ nhiệm này, với tổng giá trị nền kinh tế Việt Nam hiện gấp khoảng 3 lần GDP thì nợ công so với GDP ở mức hiện nay chưa phải là vấn đề ghê gớm.

Theo số liệu của Cục Quản lý nợ và Tài chính đối ngoại (Bộ Tài chính), tính đến ngày 31/12/2010, tổng số dư nợ công ở mức tương đương 56,7% GDP và dự kiến con số này sẽ ở mức khoảng 58,7% GDP vào cuối năm 2011.

Nhưng ở đặc thù Việt Nam hiện nay, vấn đề nợ công có cái khác với lý thuyết. Theo Phó chủ tịch Nghĩa, trong quá trình nguồn vốn vay đi vào nền kinh tế Việt Nam, có khoảng 30% đã không trở thành tài sản mà trôi đâu đó theo nhiều dạng thất thoát.

Ở điểm này, Thứ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư Cao Viết Sinh tại buổi làm việc với Phó Thủ tướng Vũ Văn Ninh tuần trước cũng chia sẻ một ví dụ, có con đường được đầu tư thì đến 90% giá trị “chôn” ở đền bù, giải phóng mặt bằng…, chỉ có 10% vào tài sản gộp.

“Cho nên, hiệu quả sử dụng vốn vay thế nào mới là vấn đề chính đối với Việt Nam”, Phó chủ tịch Nghĩa nhìn nhận. Nhưng, “cân đong” hiệu quả sử dụng vốn thế nào, ở trường hợp của Việt Nam không đơn giản.

Trong buổi làm việc với Bộ Kế hoạch và Đầu tư mới đây, Phó thủ tướng Vũ Văn Ninh khi đề cập đến vấn đề này có nhớ lại lúc còn ở cương vị Bộ trưởng Bộ Tài chính cũng đã trả lời trước Quốc hội, rằng đầu tư làm đường lên vùng cao, điện cho Tây Nguyên thì hệ số ICOR (đo lường số đơn vị đầu tư tính theo % GDP để tạo ra một đơn vị tăng trưởng GDP – PV) phải cao.

“Mình cũng nói cảm tính thế thôi chứ không có con số cụ thể”, ông nói trước các lãnh đạo cao cấp của Bộ Kế hoạch và Đầu tư. Nhưng “sốt ruột” với lượng vốn đầu tư cứ lớn dần là thực tế khi tại nhiệm Bộ trưởng ông đã phải đắn đo. “Tôi nhớ có năm chỉ 2 nghìn tỷ đồng, sau thì lên 7-10 nghìn tỷ đồng… Giờ phát hành trái phiếu 40-50 nghìn tỷ đồng là lớn lắm”, ông nói.

“Thì thôi, nó là cần thiết đi, nhưng sử dụng nó vừa qua như thế nào?”, Phó thủ tướng đặt vấn đề. “Trước kia, Chính phủ chỉ đầu tư một số lĩnh vực, như chúng ta nói là quả đấm thép, một số vùng trọng điểm…, danh mục đầu tư rất hẹp nhưng toàn dự án lớn. Nay thì…”, ông bỏ lửng câu nói.

Được cho là nguyên nhân sâu xa của nhập siêu, lạm phát, thậm chí ảnh hưởng đến chất lượng nợ của một số định chế tài chính…, cho nên, với tốc độ tăng nợ công Việt Nam trong khoảng 5-6 năm nay đã lên gấp đôi trước đó, ông Nghĩa lưu ý thêm: “Theo tôi, cần phải kiểm soát được tốc độ tăng nợ công và hiệu quả sử dụng nguồn vốn vay”.

Chuyện hiệu quả đầu tư công thấp do phải chi vào các dự án an sinh xã hội, cơ sở hạ tầng vùng sâu, vùng xa, Phó chủ tịch Nghĩa có quan điểm rằng, chỉ nên để xảy ra trong khoảng dăm năm, không nên kéo dài tình trạng đầu tư này mãi sẽ ảnh hưởng đến ổn định của nền kinh tế trong dài hạn.

Nhưng ở góc độ hành xử với nợ, hay cách thức ra quyết định đầu tư của địa phương cũng có những điểm đáng bàn. “Chưa biết là có tiền hay chưa có tiền, cứ biết là hôm nay ký cái đã”, Phó thủ tướng Vũ Văn Ninh nói về cách ra quyết định đầu tư “kỳ lạ” của một số địa phương. “Bây giờ, chúng ta đang bị trả giá cho vấn đề này”.

Sản xuất 8 tháng “tốt” đến mức nào?

Trong số liệu kinh tế 8 tháng qua, với góc nhìn này thì là chuyển biến tích cực, nhưng từ góc nhìn khác thì chưa hẳn…

Chỉ số sản xuất công nghiệp đã có 2 tháng đầu quý giảm so với tháng trước đó.

Tháng 8/2011, số liệu thống kê cho thấy công nghiệp giữ “phong độ” cao; xuất khẩu, nhập siêu đều tốt; giải ngân vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) tích cực hơn năm ngoái…. Những doanh nghiệp vẫn kêu khó khăn lâu nay hẳn phải nghĩ mình thuộc số ít.

Trong một “hỗn độn” số liệu kinh tế 8 tháng qua, với góc nhìn này thì là chuyển biến tích cực, nhưng soi từ hướng khác, nền kinh tế đang thấp thoáng những mất cân đối.

“Phong độ” và… “đón lõng”?

Tháng 7/2011, một báo cáo từ Bộ Công Thương có thêm dòng lưu ý một số ngành hàng công nghiệp chế biến “cần thận trọng hơn khi lập kế hoạch sản xuất”. Điều này dường như là “chuyện lạ” trong bối cảnh tăng trưởng công nghiệp cho thấy không quá bi quan, nếu xét trên số liệu thống kê.

Chẳng hạn như ở tháng này, Tổng cục Thống kê cho hay, chỉ số sản xuất công nghiệp tăng 4,3% so với tháng trước và tăng 5,8% so với cùng kỳ năm 2010.

Mặc dù các con số trên có tăng thấp hơn chỉ số sản xuất công nghiệp 8 tháng đầu năm nay (7,3%), nhưng nhìn vào cơ cấu, chỉ số sản xuất ngành công nghiệp khai thác mỏ giảm 0,7% vốn chẳng phải là điều gì to tát. Nhất là khi giá nhiều loại khoáng sản vẫn lên vù vù và nguồn tài nguyên quý không bán nay thì mai, khó gì.

Ngược lại, chỉ số sản xuất ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng tới 10,7%; sản xuất, phân phối điện, ga, nước tăng 9,8%. Nền sản xuất thực có lẽ không đến nỗi đáng thất vọng như nhiều lời ca thán từ doanh nghiệp.

Thêm triển vọng tăng trưởng sản xuất ở phía đầu ra, kim ngạch xuất khẩu thường chiếm khoảng 70% GDP tiếp tục duy trì “phong độ” cao.

Theo số liệu từ Tổng cục Thống kê, trong 8 tháng đầu năm, kim ngạch xuất khẩu hàng hóa ước đạt 60,8 tỷ USD, tăng tới 33,7% so với cùng kỳ năm 2010. Đáng chú ý là cả hai khu vực kinh tế trong nước và FDI đều có mức tăng trưởng vào loại “khủng” trên 32%.

Sản xuất dường như đang kéo dòng vốn FDI giải ngân vẫn tiếp tục đổ vào Việt Nam, bất chấp cuộc khủng hoảng tài chính thế giới lan rộng. Lĩnh vực thu hút được nhiều vốn FDI nhất cũng là công nghiệp chế biến, chế tạo.

Con số vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài thực hiện 8 tháng năm 2011 ước tính đạt 7,3 tỷ USD, tăng 0,7% so với cùng kỳ năm trước phải chăng là biểu hiện của quan điểm “đón lõng” giai đoạn bùng phát sắp tới? Hay chính cuộc khủng hoảng trên thế giới đang dồn dập thông tin xấu mỗi ngày đã “bẻ lái” dòng vốn ngoại?

Một góc nhìn khác

Nhưng có những chỉ báo khác cho thấy sản xuất thực tế không dễ dàng. Theo kết quả điều tra lao động tại 4.279 doanh nghiệp sản xuất công nghiệp của Tổng cục Thống kê, số lao động trong tháng 8/2011 đã giảm 3,8% so với cùng kỳ năm 2010.

Đáng chú ý là trong ba ngành công nghiệp cấp 1, lao động ngành công nghiệp chế biến, chế tạo giảm 4,6%; lao động ngành sản xuất, phân phối điện, ga và nước giảm 6,9%, điều tưởng chừng rất khó hiểu khi sản xuất tăng khá tốt.

Vậy sản xuất công nghiệp “tốt” đến mức nào, có lẽ cần phải được xem xét kỹ hơn?

Một lưu ý là chỉ số sản xuất công nghiệp được Tổng cục Thống kê công bố hàng tháng đều là ước tính. Đương nhiên, diễn biến trên thực tế không hoàn toàn như vậy.

Tính toán trên con số thực hiện so với kỳ gốc được công bố đến thời điểm này, chỉ số sản xuất công nghiệp đã có 2 tháng đầu quý giảm so với tháng trước đó. Cụ thể là tháng 6 giảm khoảng 0,7% và tháng 7 giảm 1,1%.

Trong khi đó, kim ngạch xuất khẩu tăng mạnh chủ yếu ghi nhận ở một số mặt hàng nông sản, kim loại và khoáng sản, công nghiệp nhẹ gia công như dệt may, da giày…

Với nông sản, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn nhìn nhận trong một báo cáo gần đây rằng, sản lượng xuất khẩu tăng không nhiều, kim ngạch xuất khẩu tăng chủ yếu do thay đổi giá.

Cùng lúc xuất khẩu dệt may đang tăng mạnh, gần đây đã xuất hiện những cảnh bảo của doanh nghiệp về khả năng khó khăn từ thị trường Mỹ. Dầu thô không dễ có đột biến tiếp khi Dung Quất trở lại hoạt động. Vàng đang chảy ngược vào trong nước, trái với xu hướng của vài tháng trước đây…

Ở góc độ tiêu thụ trong nước, tổng mức bán lẻ hàng hoá và doanh thu dịch vụ tiêu dùng 8 tháng ước tính tăng 22,2% so với cùng kỳ năm 2010, nhưng nếu loại trừ yếu tố giá thì chỉ còn tăng 3,9%, một mức rất thấp trong so sánh với giai đoạn trước.

Đi cùng những diễn biến này, chỉ số tồn kho ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tại thời điểm 1/7 đã tăng 17,8% so với cùng kỳ, cũng là tháng thứ 5 liên tiêpcs chỉ số này cao hơn so với cùng thời điểm của tháng trước.

Trong khi đó, đầu tư trong nước cũng xuống thấp. Theo Thứ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư Cao Viết Sinh, tổng đầu tư toàn xã hội năm nay có thể chỉ còn bằng khoảng 34-35% GDP. Ông nhìn nhận, đây là “con số quá khắc nghiệt với nền kinh tế”.

Con số khách quốc tế đến vì mục đích công việc đã giảm 2% so với cùng kỳ năm ngoái, dường như cũng cho thấy triển vọng giao thương trong ngắn hạn vẫn còn khó khăn.

Những rủi ro nào đang chờ đợi?

Mất cân đối liên quan đến nền sản xuất thực là lạm phát. Cung hụt hơn cầu thể hiện ở mức giá tăng lên, chuyển thành chỉ số giá tiêu dùng như một tham khảo, CPI đến tháng 8/2011 đã tăng 23,2% so với cùng kỳ năm trước.

Sau giai đoạn CPI tăng tốc rất lớn, gần đây xu hướng hạ nhiệt đã rõ ràng hơn, được cho là do tác động của chính sách tiền tệ chặt chẽ và tài khóa thắt chặt. Tuy thế, với biên độ lạm phát chưa thay đổi nhiều, việc kiềm chế lạm phát trong giai đoạn cuối năm ở mức chỉ tiêu điều chỉnh 15-17% cũng còn là thách thức.

Và từ mức lạm phát lên cao, những cuộc đua lãi suất đã thắt dần khả năng chịu đựng của doanh nghiệp. “Trên thế giới, không có doanh nghiệp nào có thể hoạt động được với lãi suất 20-25%”, những quan điểm như thế gần đây được cảnh báo ngày càng nhiều trong các cuộc hội thảo, hay tư vấn chính sách cho lãnh đạo Chính phủ.

Câu chuyện đằng sau những chỉ tiêu về lạm phát và lãi suất tăng cao là thất nghiệp gia tăng. Số liệu lao động giảm trong tháng 8 của Tổng cục Thống kê là dẫn chứng “nặng ký”. Thêm vào đó, tỷ lệ nợ xấu cũng lớn dần, theo dữ liệu từ Ngân hàng Nhà nước vào khoảng 3%.

Tổ chức định mức tín nhiệm Standard & Poor’s gần đây cũng đã hạ bậc xếp hạng tín nhiệm đối với các khoản vay dài hạn bằng tiền đồng của Việt Nam. Dù được lý giải chỉ là thay đổi mang tính kỹ thuật, nhưng BB- cũng phản ánh phần nào những rủi ro vĩ mô ở trong nước chưa được cải thiện. Từ thay đổi xếp hạng này, chi phí vay vốn thời gian tới thế nào, có lẽ cũng là điều phải cân nhắc.

Thêm vào những rủi ro kể trên, thị trường ngoại hối gần đây “dậy sóng” cùng với việc tái nhập vàng. Dư địa từ khoản quota ước tính tương đương 2 tấn chưa nhập về vẫn còn treo lại sức ép với cân đối cung cầu ngoại tệ.

“Bão giá”, Internet di động lên ngôi

Mạng di động MobiFone đã tiến hành giảm cước đồng loạt cho các dịch vụ Internet di động với mức giảm lên đến 50%…

Nắm bắt được tâm lý mong muốn chi tiêu tiết kiệm của khách hàng, mới đây, mạng di động MobiFone đã tiến hành giảm cước đồng loạt cho các dịch vụ Data với mức giảm lên đến 50%.

Thời gian gần đây, xu hướng tiêu dùng thông minh, tiết kiệm đã trở nên ngày càng phổ biến trên thị trường.

Nắm bắt được nhu cầu này, nhiều website cung cấp dịch vụ giá rẻ trên cơ sở số lượng người đăng ký mua lớn đã ra đời. Chỉ cần search từ khóa “mua chung” đã có tới 301.000 kết quả. Khách hàng có vô vàn nguồn lựa chọn dịch vụ từ các trang mua sắm giá rẻ như: cungmua.com, nhommua.com, muachung.vn…

Xu hướng tiêu dùng thông minh thời “bão giá” không chỉ dừng lại ở việc mua chung ở trên mạng mà khách hàng còn tìm kiếm những dịch vụ khuyến mại, giảm giá của nhiều loại hình dịch vụ khác, trong đó có Internet di động.

Chị Tú Anh, nhân viên kinh doanh một công ty phần mềm tại Hà Nội, chia sẻ: “Do đặc thù công việc mình phải sử dụng mobile Internet thường xuyên nên hàng tháng chi phí rất cao, có tháng lên tới hơn 1 triệu đồng. Mới đây mình gặp lại cậu bạn hồi đại học và được cậu ta mách nước cho một “chiêu” tiết kiệm không ngờ. Mình đã chuyển qua đăng ký gói cước M25 của MobiFone và giờ đây mình có thể thoải mái dùng Internet trên điện thoại di động mà chỉ phải trả có 25.000 đồng/tháng. Giá mình biết trước được tiện ích này thì tiết kiệm biết bao nhiêu”.

Cùng chung quan điểm trên, anh Trần Ngọc Thái, giám đốc một công ty máy tính tại Tp.HCM, cho biết: “Tôi hay đi công tác nên sử dụng Fast Connect 3G để liên hệ với đối tác, check mail và xử lý công việc. Tôi sử dụng gói FC0 dùng bao nhiêu trả bấy nhiêu nên chi phí rất đắt. Trong thời điểm bão giá hiện nay, các doanh nghiệp luôn phải tìm nhiều cách để tiết kiệm chi phí. Tình cờ tôi đọc được tin giảm cước data của MobiFone trên một tờ báo và tôi quyết định đăng ký gói Fast Connect Unlimited mới được cung cấp ra thị trường. Giờ đây tôi rất yên tâm vì tôi có thể thoải mái sử dụng Internet di động mà không phải giật mình với chi phí phụ trội quá lớn vào cuối tháng”.

Nắm bắt được tâm lý mong muốn chi tiêu tiết kiệm của khách hàng, mới đây, mạng di động MobiFone đã tiến hành giảm cước đồng loạt cho các dịch vụ Data (dịch vụ Mobile Internet, Fast Connect) với mức giảm lên đến 50%. Đồng thời với đợt giảm cước lớn này, MobiFone cung cấp thêm các gói cước data mới, phù hợp với nhu cầu của từng nhóm khách hàng, gồm các gói: M70 (70.000 đồng/600Mb), M100 (100.000 đồng/1G) với dịch vụ Mobile Internet. Đối với dịch vụ Fast Connect, MobiFone cung cấp thêm gói FC40 (40.000 đồng/0,7Gb) và gói FC Unlimited (không giới hạn dung lượng) chỉ với 120.000 đồng/tháng.

Theo thống kê của MobiFone, hiện nay gói cước Mobile Internet được khách hàng lựa chọn sử dụng nhiều nhất là gói cước M25 với 25.000 đồng/tháng có dung lượng miễn phí là 120 Mb. Cùng với việc giảm mạnh cước data lần này, MobiFone chính thức cung cấp thêm gói cước Fast Connect không giới hạn (FC Unlimited) chỉ với 120.000 đồng/tháng và không giới hạn dung lượng sử dụng. Đây là gói cước data dự kiến sẽ tạo nên bước đột phá với xu thế kết nối Internet qua 3G, nhờ tính linh hoạt, thuận tiện và có mặt ở mọi nơi của sóng 3G MobiFone.

Mức giảm cước lớn nhất với 50% được áp dụng cho cước data ngoài gói ( là dung lượng vượt trội ngoài dung lượng miễn phí của gói cước đã đăng ký), chỉ còn 5 đồng/10Kb so với 10 đồng/Kb trước đây. Đồng loạt các gói cước khác của dịch vụ Mobile Internet và Fast Connect đều được giảm mạnh nhờ tăng dung lượng miễn phí trong gói.

Ông Đinh Việt Hưng, Trưởng phòng Giá cước Tiếp thị MobiFone, cho biết: “Cùng với việc không ngừng nâng cao chất lượng các dịch vụ, MobiFone luôn coi trọng các hoạt động chăm sóc khách hàng. Hiện nay, chúng tôi nhận thấy nhu cầu sử dụng dịch vụ mobile Internet của khách hàng rất lớn nhưng phần đông khách hàng chưa biết cách sử dụng tiết kiệm. Đó là lí do họ phải trả một khoản tiền rất lớn cho nhu cầu sử dụng Internet di động của mình hàng tháng. Chương trình giảm cước data của MobiFone lần này mong muốn tư vấn cho khách hàng nắm bắt nhu cầu và lựa chọn gói cước phù hợp nhất với mình để tiết kiệm chi phí trong thời điểm bão giá hiện nay”.

Khi chợ Đồng Xuân chuyên phân phối hàng Trung Quốc

Từ năm 1986 đến nay, hàng hoá của Trung Quốc đã chiếm thị phần chủ yếu tại chợ Đồng Xuân (Hà Nội)…

Mỗi ngày lượng hàng hoá luân chuyển từ chợ Đồng Xuân đến các vùng miền trong cả nước khoảng 15 – 20 tấn.

Hàng Việt vẫn chưa được ưu tiên kinh doanh ở chợ truyền thống hay chợ truyền thống khó có điều kiện để tiếp cận với hàng Việt là những vấn đề đã được “mổ xẻ” bởi các cơ quan chức năng và các tiểu thương tại chợ Đồng Xuân, vào sáng 30/8.

Tại toạ đàm “Vì sao hàng Việt chưa được kinh doanh ở chợ truyền thống”, ông Đỗ Xuân Thuỷ, Tổng giám đốc Công ty Cổ phần Đồng Xuân, cho biết được xây dựng từ năm 1889, trong nhiều thập kỷ qua chợ Đồng Xuân vẫn luôn giữ vị trí là chợ đầu mối bán buôn lớn của cả nước. Mỗi ngày lượng hàng hoá luân chuyển từ chợ đến các vùng miền trong cả nước là khoảng 15 – 20 tấn. Doanh thu hàng năm đạt trên 4.000 tỷ đồng.

Tuy nhiên từ năm 1986 đến nay, hàng hoá của Trung Quốc đã chiếm thị phần chủ yếu tại chợ Đồng Xuân. Những mặt hàng như đồ lưu niệm, đồ chơi, điện thoại, va ly, cặp sách… hàng Trung Quốc chiếm tới 90%, còn đối với hàng tạp phẩm, vải, quần áo may sẵn con số này là 70%. Mặc dù, theo đánh giá của chính các tiểu thương thì hàng hoá có nguồn gốc từ Trung Quốc đều có chất lượng không cao.

Nhưng điều đáng nói là, theo ông Thuỷ điều này không chỉ diễn ra ở riêng chợ Đồng Xuân mà ở nhiều chợ truyền thống khác, hàng Việt chưa có chỗ đứng xứng đáng.

Nguyên nhân được chỉ ra là do sức cạnh tranh của hàng Việt còn yếu. Đa phần thu nhập của người dân Việt Nam còn thấp nên người tiêu dùng khá quan tâm đến giá, chỉ cần chênh lệch từ 500 – 1.000 đồng/sản phẩm là họ sẵn sàng chuyển sang mua hàng của hãng khác. Trong khi đó, hàng hoá của Trung Quốc rất phong phú về chủng loại, mẫu mã, kiểu dáng luôn thay đổi, giá cả lại hấp dẫn.

Về phía doanh nghiệp trong nước cũng chưa quan tâm đến việc phân phối hàng hoá tại chợ truyền thống mà mới chỉ tập trung đầu tư cho việc xuất khẩu.

Do đó, hiện nay đang tồn tại một điều tưởng chừng như nghịch lý, đó là ở chợ Đồng Xuân các tiểu thương đang tự nguyện trưng bày sản phẩm bán chạy của Trung Quốc ở vị trí thuận lợi mà các nhà sản xuất này không phải tốn một đồng nào cho phí. “Nếu chúng ta thiết lập được mối liên kết chặt chẽ giữa doanh nghiệp, các hộ kinh doanh và có chính sách ưu đãi phù hợp thì hàng Việt Nam hoàn toàn có thể được ưu tiên trưng bày ở những vị trí thuận lợi nhất”, ông Thuỷ nhận định.

Một lý do khác khiến doanh  nghiệp Việt Nam để mất cơ hội đưa hàng hoá đến tay người tiêu dùng trong nước là vì hàng Trung Quốc len lỏi vào chợ Đồng Xuân thông qua đường tiểu ngạch, không phải đóng thuế nhập khẩu nên giá thành rẻ. Tiểu thương được đưa hàng đến tận nơi mà không phải lo kiếm tìm nguồn. Hình thức thanh toán thì khá linh hoạt, sản phẩm sai hỏng cũng dễ dàng được đổi lại…

“Thực tế không phải ở chợ Đồng Xuân ít kinh doanh hàng Việt mà chủ yếu là kinh doanh sản phẩm của các doanh nghiệp, cơ sở sản xuất nhỏ lẻ, không có bản quyền, thương hiệu. Nhưng làm việc với các đơn vị này tiểu thương không cần phải có tư cách pháp nhân để ký các hợp đồng. Hàng hoá cũng linh hoạt hơn trong thanh toán và đổi khi hỏng hóc”, ông Nguyễn Khắc Ngọc, một tiểu thương chuyên kinh doanh giày dép cho hay.

Tại buổi tọa đàm, tâm tư chung của các hộ kinh doanh tại chợ đầu mối này đều muốn kinh doanh hàng Việt. Phần vì, kinh doanh hàng hoá nhập khẩu không có nguồn gốc xuất xứ, các tiểu thương luôn phải đối mặt với việc có thể bị mất trắng hàng khi bị lực lượng quản lý thị trường kiểm tra và còn phải nộp phạt.

Nhưng để ký kết được hợp đồng với các doanh nghiệp hàng hoá đã có thương hiệu trên thị trường thì quả là việc khó đối với các tiểu thương nơi đây. “Chúng tôi đa phần là các hộ kinh doanh cá thể, làm ăn dựa trên uy tín, nên không có tư cách pháp nhân để tham gia ký kết các hợp đồng với các doanh nghiệp. Điều này khiến doanh nghiệp không dám hợp tác vì có thể bị mất hàng, khó thu tiền”, ông Nguyễn Khắc Dũng, một tiểu thương đưa ra kiến giải.

Phần khác, theo chị Nguyễn Thị Hương – chuyên kinh doanh hàng quần áo trẻ em là vì, hàng Việt có chất lượng giá bán khá cao. Trong khi, người tiêu dùng lại chỉ có thể chi trả ở mức thấp. “Doanh nghiệp biết điều này, sao họ không tính đến phương án sản xuất ra các sản phẩm có mức giá mà thị trường dễ chấp nhận nhất”.

Doanh nghiệp sẽ tự giới thiệu hàng tại chợ?

Giai đoạn hiện nay đang được đánh giá là cơ hội khá tốt để chiếm lại “sân nhà” vì khá nhiều người tiêu dùng không hề yên tâm với việc sử dụng hàng hoá Trung Quốc.

Cộng với tiềm năng lưu chuyển hàng hoá rất lớn tại chợ đầu mối Đồng Xuân, nhiều doanh nghiệp như Công ty cổ phần Sản xuất Dịch vụ và Thương mại Sản phẩm Da Ladoda – chuyên sản xuất đồ da trung và cao cấp đã tính đến việc sẽ mở một showroom giới thiệu sản phẩm tại đây. Đó cũng là mong muốn của Công ty HomeCook, đơn vị chuyên sản xuất thiết bị và đồ dùng gia đình.

Tuy nhiên, theo bà Hà Ngọc, một tiểu thương chuyên kinh doanh tại chợ thì việc làm đó sẽ không mang lại hiệu quả cao. Doanh nghiệp sẽ mất thêm một khoản chi phí trong khi việc phân phối sản phẩm chưa chắc đã được rộng khắp.

“Để đưa được hàng đến với người dân ở mỗi tỉnh, doanh nghiệp phải có ít nhất 50 điểm bán hàng tại địa phương đó. Trong khi ở chợ Đồng Xuân chỉ cần 5 quầy hàng kinh doanh một sản phẩm nào đó, sản phẩm đó sẽ được phân phối rộng khắp cả nước”, bà Ngọc chia sẻ.

Thêm nữa, “Nếu doanh nghiệp sản xuất hàng Việt tự lo việc phân phối thì chúng tôi cũng chỉ còn cách là kinh doanh hàng nước ngoài. Trong khi chỉ cần người bán hàng “tác động” vài câu, người mua hàng có thể dễ dàng chuyển từ dùng hàng ngoại sang hàng nội”, bà Ngọc cho biết thêm.

Còn theo nhìn nhận của ông Phan Thế Ruệ, Chủ tịch Hiệp hội Các nhà bán lẻ Việt Nam để hàng Việt thực sự không “lép vế” thì bản thân các nhà sản xuất cần phải đánh giá lại khả năng sản xuất cũng như cách tiếp thị sản phẩm.

Bên cạnh đó, doanh nghiệp cũng cần phải hướng đến nội địa hoá nguyên liệu vì nếu phải nhập khẩu tới 80% nguyên liệu thì hàng Việt sẽ rất khó cạnh tranh ngay cả với hàng nhập khẩu chính ngạch.

Về phía cơ quan quản lý nhà nước, ông Ruệ đề nghị phải nâng cao hiệu quả trong công tác phòng chống buôn lậu để hạn chế hàng từ nước ngoài trốn thuế ồ ạt tuồn vào nước ta.

Cổ đông lớn, cổ đông nội bộ lại bán “chui”, báo cáo muộn

Cổ đông lớn, cổ đông nội bộ và cổ đông có liên quan đến SMA, PXS, NKG, DIG, COM, UDC, SAV… vi phạm công bố thông tin…

Cổ đông lớn, cổ đông nội bộ và cổ đông có liên quan đến SMA, PXS, NKG, DIG, COM, UDC, SAV… vi phạm công bố thông tin.

* Bà Trần Thanh Loan, em ông Trần Đức Phú – thành viên Hội đồng quản trị Công ty Cổ phần thiết bị phụ tùng Sài Gòn (mã SMA-HSX) đã mua 3.800 cổ phiếu SMA từ ngày 10/8/2011 đến ngày 11/8/2011 nhưng không công bố thông tin trước khi giao dịch.

* Ông Nguyễn Văn Hương – Phó Chủ tịch Hội đồng Quản trị Công ty Cổ phần Kết cấu Kim loại và Lắp máy Dầu khí (mã PXS-HSX) đã mua 450 cổ phiếu PXS vào ngày 16/6/2011 nhưng không công bố thông tin trước khi giao dịch. Ngoài ra, Ông Nguyễn Văn Hương đã báo cáo kết quả giao dịch cổ phiếu PXS chậm trễ so với quy định sau khi đăng ký giao dịch ngày 16/5/2011.

* Bà Huỳnh Thị Kim Hoa – thành viên Ban kiểm soát Công ty Cổ phần thép Nam Kim (mã NKG-HSX) đã mua 8.000 cổ phiếu NKG và bán 8.000 cổ phiếu NKG từ ngày 10/6/2011 đến ngày 18/8/2011 nhưng không công bố thông tin.

* Bà Hồ Thị Kim Hương, em ông Hồ Mạnh Hùng – thành viên Ban kiểm soát Tổng Công ty Cổ phần Đầu tư Phát triển Xây dựng (mã DIG-HSX) đã bán 500 cổ phiếu DIG vào ngày 16/08/2011 nhưng không công bố thông tin.

* Tổng Công ty Cơ khí Giao thông Vận tải Sài Gòn – TNHH Một thành viên, cổ đông lớn của Công ty Cổ phần Vật tư Xăng dầu (mã COM-HSX) đã bán 392.320 cổ phiếu COM vào ngày 26/5/2011 làm giảm số lượng cổ phiếu nắm giữ từ 722.580 (chiếm tỷ lệ 5.25%) xuống còn 330.260 (chiếm tỷ lệ 2.40%) nhưng chậm báo cáo về thay đổi sở hữu cổ đông lớn.

* Ông Nguyễn Văn Thân – Trưởng Ban kiểm soát Công ty Cổ phần Kết cấu Kim loại và Lắp máy Dầu khí (mã PXS-HSX) đã không báo cáo kết quả giao dịch cổ phiếu PXS sau khi đăng ký giao dịch ngày 8/4/2011.

* Công ty Cổ phần xây dựng và phát triển đô thị tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu (mã UDC-HSX) đã mua cổ phiếu quỹ vào ngày 4/8/2011 với khối lượng đặt mua không đúng quy định về giao dịch cổ phiếu quỹ.

* Công ty Cổ phần Hợp tác Kinh tế và Xuất nhập khẩu Savimex (mã SAV-HSX) đã mua cổ phiếu quỹ từ ngày 12/8/2011 đến ngày 22/8/2011 với khối lượng và mức giá đặt mua trong nhiều phiên không đúng quy định về giao dịch cổ phiếu quỹ.