Vina Capital nhảy sang bất động sản công nghiệp

Vina Capital vừa khởi công dự án khu công nghiệp Bá Thiện 2 tại Vĩnh Phúc, mở ra một hướng đầu tư mới…

Lễ động thổ khu công nghiệp Bá Thiện 2.

Tập đoàn Vina Capital – đơn vị quản lý quỹ đầu tư hạ tầng Vietnam Infrastructure Limited (VNI) và Công ty Liên doanh Vina CPK – đã tiến hành động thổ khu công nghiệp Bá Thiện 2 tại huyện Bình Xuyên, tỉnh Vĩnh Phúc.

Dự án này được cấp giấy phép đầu tư vào tháng 2/2009 với diện tích trên 308 ha, cách Hà Nội khoảng 50 km, rất gần sân bay Nội Bài, các cảng biển tại Hải Phòng và Cái Lân.

Dự án sẽ được phát triển theo từng giai đoạn, trong đó, giai đoạn 1 sẽ phát triển 65 ha đầu tiên do tỉnh Vĩnh Phúc giao cho Vina CPK vào tháng 1/2011. Việc đền bù giải tỏa 50 ha tiếp theo đang được thực hiện và dự định hoàn tất vào cuối tháng 6/2011.

Vina CPK cũng vừa ký kết hợp đồng cho thuê 20 ha đất với khách hàng đầu tiên và đang khẩn trương tiến hành việc đàm phán với các khách hàng tiềm năng khác.

Ông Tony Hsun, Giám đốc điều hành VinaCapital, hy vọng dự án sẽ trở thành một hình mẫu cho việc phát triển các khu công nghiệp tại phía Bắc Việt Nam.

“Dự án có vị trí thuận lợi mang tính chiến lược và sẽ là điểm đến tiềm năng của các công ty đa quốc gia, nhất là các công ty chuyển địa điểm đầu tư từ Trung Quốc sang do lợi thế chi phí thấp của Việt Nam”, ông nói.

VNI hiện nắm cổ phần chi phối tại dự án khu công nghiệp và cảng biển Long An ở khu vực phía Nam. Quỹ đầu tư hạ tầng này cũng đang tích cực tham gia đầu tư vào lĩnh vực viễn thông, giao thông vận tải, năng lượng, dịch vụ cung ứng và cơ sở hạ tầng liên quan đến ngành nông nghiệp.

Chứng khoán: “Loạn” thông tin và kỹ năng chắt lọc

Chỉ 3 hôm nay mà hàng loạt thông tin được tung ra trái ngược nhau khiến nhà đầu tư rối bời không biết đằng nào mà lần…

Chắt lọc thông tin từ mớ hỗn độn là kỹ năng cần có của nhà đầu tư chứng khoán.

Chỉ 3 hôm nay mà hàng loạt thông tin được tung ra trái ngược nhau khiến nhà đầu tư rối bời không biết đằng nào mà lần.

Đây không phải lần đầu tiên những thông tin được công khai “đá” nhau ngược 180 độ. Hồi cuối tháng 3, tháng 4, những thông tin dự báo CPI đã cung cấp cho nhà đầu tư cả mớ số liệu, đến mức có người bông đùa “hãy chọn số đúng”.

Không đâu xa, ngay trong tháng 5, đã có dự báo mức tăng chỉ số giá tiêu dùng tháng 6 tới khoảng 0,7%-0,8%. Vài ngày sau lại có một dự báo khác cũng của cơ quan nhà nước nói sẽ tăng khoảng 1%-1,2%.

Đó là chưa kể đến vô số các dự báo của tổ chức, chuyên gia khiến báo chí cũng phải “loạn chưởng” chứ đừng nói đến các đối tượng tiếp nhận thông tin.

Gần đây nhất là thông tin về giãn thời hạn giảm tín dụng phi sản xuất đối với hệ thống ngân hàng. Một tờ báo dẫn thông tin từ nguồn riêng cho biết Ngân hàng Nhà nước sẽ có buổi làm việc với các ngân hàng thương mại phía Nam về việc giảm dư nợ tín dụng phi sản xuất, nếu quá căng thẳng, có thể sẽ xem xét gia hạn thời gian áp dụng.

Đây là thông tin được giới đầu tư quan tâm vì thời hạn 30/6 đang rất gần, trong khi nhiều ngân hàng phải tăng tốc thu hồi nợ, giảm tỉ lệ cho vay phi sản xuất, trong đó có chứng khoán. Áp lực giải chấp đang là mối lo của thị trường vì rất có thể các hợp đồng cầm cố, vay mượn sẽ phải bị thu hồi một cách quyết liệt.

Tuy nhiên, đúng một ngày sau, lại có thông tin Ngân hàng Nhà nước không đề cập đến việc nới lỏng thời hạn thu nợ nói trên. Theo nguồn tin này thì đúng là cơ quan quản lý có gặp gỡ các ngân hàng thương mại bàn về các giải pháp đưa dư nợ phi sản xuất về mức 22% vào thời điểm 30/6 và mức 16% vào thời điểm 31/12. Nhưng Ngân hàng Nhà nước lại không đề cập phương án nới thời hạn thu nợ phi sản xuất.

Liên quan đến dự thảo thông tư về quy chế tổ chức và hoạt động của công ty chứng khoán, có tờ báo gây sốc khi khẳng định: “Sẽ cấm công ty chứng khoán cho khách hàng vay tiền mua chứng khoán”.

Nhà đầu tư lại có một phen “loạn chưởng” vì lâu nay cả thị trường đều biết Ủy ban Chứng khoán đang nỗ lực đưa giao dịch ký quỹ (margin) vào khuôn khổ bằng cách ban hành các khung pháp lý cho hoạt động này. Việc thực hiện giám sát an toàn tài chính của các công ty chứng khoán cũng nhằm mục đích đảm bảo an toàn cho dịch vụ này. Từ tháng 2 đã có thông tin dự thảo cho phép giao dịch ký quỹ tỉ lệ 30:70.

Không thể chỉ đổ lỗi cho những thông tin trên khiến thị trường sụt giảm. Dù sao việc thông tin được đăng tải, sau đó trích dẫn “tùm lum” khắp nơi có thể khiến tâm lý nhà đầu tư thiếu ổn định. Rất nhiều bàn luận trên diễn đàn tỏ ra bực bội với cách thức thông tin mập mờ như vậy.

Tuy nhiên, theo nhận xét của một nhà đầu tư có thâm niên, việc thị trường phải tiếp nhận nhiều luồng thông tin xung đột nhau là bình thường! Chắt lọc thông tin cũng là một kỹ năng mà nhà đầu tư chứng khoán phải rèn luyện.

Theo kinh nghiệm cá nhân của anh, việc đầu tiên khi tiếp nhận thông tin là xác định nguồn. Tin đó được đăng tải ở đâu, có đủ uy tín hay không. Hiện nay có rất nhiều trang web đăng tải thông tin về thị trường chứng khoán. Việc trích dẫn “tùm lum” lẫn nhau khiến thông tin có thể bị sai lệnh và không có nguồn gốc rõ ràng. Những trang web không chuyên về chứng khoán hoặc không có trách nhiệm pháp lý như một cơ quan truyền thông thì thông tin trên đó không thực sự đáng tin cậy.

Bước thứ hai là phải đọc lại thông tin đó từ nguồn đăng tải chính thức. Ví dụ thông tin đăng tải trên trang web A được lấy lại từ báo B thì tốt nhất nên đọc trực tiếp tin gốc của báo B. Tuyệt đối không nên đọc lại từ các nguồn thứ cấp. Thậm chí ngay cả khi báo B là cơ quan thông tin không chuyên về tài chính, kinh tế, chứng khoán thì cũng nên kiểm chứng thêm lần nữa vì có thể trình độ xử lý thông tin của người viết không đạt yêu cầu.

Khi xử lý thông tin, tốt nhất là không nên đọc tiêu đề. Theo quan điểm của nhà đầu tư này, tiêu đề đa số được xử lý để câu khách và nhiều khi lột tả sai bản chất của thông tin được đăng tải. Nếu bị ấn tượng bởi tiêu đề, nhà đầu tư có thể hiểu sai thông tin đó. Đặc biệt chú ý là các kênh thông tin lấy lại đa số có sửa chữa, đổi lại tiêu đề cho giật gân, gây chú ý trong khi rất có thể làm sai thông tin gốc.

Bước thứ ba là lọc ra từ thông tin những yếu tố cơ bản: số liệu; sự kiện; ý kiến. Ba yếu tố này thường đan xen vào nhau khiến nhà đầu tư có thể lầm lẫn. Chẳng hạn số liệu phỏng đoán của người viết, người được trích dẫn dễ bị nhầm với số liệu báo cáo của cơ quan có thẩm quyền. Số liệu xuất phát từ nguồn vô danh hoặc chưa đủ độ tin cậy thì rất có khả năng không chính xác.

Phân tích ý kiến thì quan trọng nhất là người đưa ra ý kiến. Một kết luận của nhà đầu tư nào đó được hỏi có thể không bảo đảm độ tin cậy bằng một chuyện gia có uy tín. Ngay cả với chuyên gia, kết luận phải được đưa ra từ những căn cứ hợp lý. Thuần túy một kết luận “khơi khơi” thì độ tin cậy cũng không cao. Đôi khi cả một bài báo dài cũng chỉ có vài câu có giá trị và tin cậy được.

Giới đầu tư có lẽ sẽ vẫn còn phải sống trong cảnh loạn thông tin, và tốt nhất nên tự trang bị kỹ năng cần thiết để tự thẩm định, hơn là kêu ca phàn nàn khi không có ai phải chịu trách nhiệm cho những thua lỗ của mình.

Giá gas tiếp tục giảm từ 1/6

Giá bán lẻ gas trên thị trường từ 1/6 sẽ tiếp tục giảm và đây là lần giảm thứ 3 từ đầu năm đến nay…

Từ đầu năm 2011 đến nay, đây là lần thứ 3 giá gas được điều chỉnh giảm.

Giá gas trên thế giới giao trong tháng 6/2011 giảm mạnh là nguyên nhân khiến giá bán lẻ gas trong nước tiếp tục giảm từ 1/6.

Saigon Petro vừa chính thức thông báo từ 7h30 ngày 1/6, hãng này sẽ điều chỉnh giảm giá bán lẻ gas thêm 9.000 đồng/bình 12kg. Khi đến tay người tiêu dùng tại khu vực Tp.HCM giá bán lẻ của đơn vị này còn 367.000 đồng/bình 12kg.

Mới đây nhất vào ngày 20/5, công ty này cũng đã giảm giá 6.000 đồng/bình 12kg. Như vậy, trong khoảng 10 ngày, Saigon Petro đã giảm giá 15.000 đồng/bình.

Ông Đỗ Trung Thành, Phó trưởng phòng Kinh doanh của Saigon Petro cho hay, giá gas trên thế giới trong tháng 6 đã giảm về mức 890 USD/tấn, tức giảm tới 80 USD/tấn so với giá của tháng trước đó. Điều này đã hỗ trợ tích cực cho các hãng gas giảm giá bán lẻ trên thị trường.

Từ đầu năm 2011 đến nay, giá gas đã có 3 lần giảm sau 7 lần liên tục được điều chỉnh tăng và mức tăng giá của mỗi lần là không hề nhỏ.

Một số lãnh đạo bộ, ngành nghỉ hưu từ 1/6

Một số lãnh đạo Bộ Văn hóa – Thể thao và Du lịch và Tổng công ty Hàng không Việt Nam nghỉ hưu…

Ông Nguyễn Sỹ Hưng, Chủ tịch Hội đồng Thành viên Vietnam Airlines, nghỉ hưu theo chế độ từ ngày 1/6/2011.

Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã ký quyết định nghỉ hưu từ 1/6 đối với một số lãnh đạo thuộc Bộ Văn hóa – Thể thao và Du lịch và Tổng công ty Hàng không Việt Nam (Vietnam Airlines).

Theo quyết định, ông Lê Tiến Thọ, Thứ trưởng Bộ Văn hóa – Thể thao và Du lịch nghỉ hưu theo chế độ từ ngày 1/6/2011.

Ông Nguyễn Sỹ Hưng, Chủ tịch Hội đồng Thành viên Vietnam Airlines, nghỉ hưu theo chế độ từ ngày 1/6/2011.

Thủ tướng Chính phủ cũng ký quyết định về việc ông Vũ Văn Hiền, nguyên Ủy viên Trung ương Đảng, thôi giữ chức Tổng giám đốc Đài Tiếng nói Việt Nam từ 1/6, để nhận nhiệm vụ khác do Bộ Chính trị phân công.

Hoàng Diên (Chinhphu.vn)

Khánh thành nhà máy ép dầu đầu tiên tại Việt Nam

Hôm 28/5, tập đoàn Quang Minh (QMC) đã khánh thành nhà máy chiết xuất dầu và khô đậu tương, với tổng mức đầu tư 1.000 tỷ đồng…

Nhà máy nằm trên diện tích 12,5 ha tại khu công nghiệp Lương Bằng (Hưng Yên), với công suất 360.000 tấn dầu ăn/năm.

Hôm 28/5, tập đoàn Quang Minh (QMC) đã khánh thành nhà máy chiết xuất dầu và khô đậu tương, với tổng mức đầu tư 1.000 tỷ đồng.

Nhà máy nằm trên diện tích 12,5 ha tại khu công nghiệp Lương Bằng (Hưng Yên), với công suất 360.000 tấn dầu ăn/năm, bao gồm các hạng mục chính: tổng kho và các dây chuyền ép dầu thô, chiết xuất dầu tinh luyện, đóng gói tự động, hệ thống silo chứa nguyên liệu và hàng thành phẩm.

Đây là nhà máy chiết xuất dầu và khô đậu tương đầu tiên tại Việt Nam.

Ông Trần Thanh Quang, Tổng giám đốc QMC, cho biết nhà máy có khả năng cung cấp khoảng 10% nhu cầu nội địa về sản phẩm dầu thô cho công nghiệp chế biến, dầu tinh luyện cho công nghiệp thực phẩm trong nước, đồng thời tiến tới xuất khẩu sang một số thị trường khu vực như Singapore, Ấn Độ, Thái Lan, Lào…

Ông Quang cũng kỳ vọng, nhà máy sẽ tạo ra lực cầu khuyến khích chuyển đổi vùng nguyên liệu đậu nành cho hàng vạn hộ nông dân ở khu vực đồng bằng Bắc Bộ.

QMC ước tính, doanh thu của nhà máy có thể lên tới 4.000 tỷ đồng/năm.

Ngành du lịch và chuyện nhỡ dự án 150 triệu USD vì thủ tục

Việt Nam đã “nhỡ” một dự án làm phim trị giá 150 triệu USD của hãng Universal Studios do thủ tục cấp phép quá phức tạp…

Một cảnh trong series phim Bourne.

Việt Nam đã “nhỡ” một dự án làm phim trị giá 150 triệu USD của hãng Universal Studios do thủ tục cấp phép quá phức tạp.

Đây là thông tin được ông Baron Ah Moo, giám đốc điều hành bộ phận khách sạn và khu nghỉ dưỡng của Indochina Land, công bố tại một diễn đàn mới đây.

Theo ông Baron Ah Moo, hãng phim đến từ Mỹ đã tiến hành khảo sát về việc sản xuất và quay tập thứ 4 của Bourne – một series phim nổi tiếng trên toàn cầu, với diễn xuất của tài tử Matt Damon.

Tuy nhiên việc đàm phán kéo dài với một số bộ, ngành đã khiến Universal cảm thấy quá khó khăn trong việc xin giấy phép. Đồng thời, những trở ngại về hậu cần đã khiến hãng quyết định chuyển địa điểm làm phim sang một nước Đông Nam Á khác.

Hiệu ứng tác động đến công nghiệp du lịch từ phim ảnh là không nhỏ, đặc biệt là với những tác phẩm điện ảnh nổi tiếng. Vẫn theo ông Baron Ah Moo, đây là một sự việc “đáng tiếc”, và sẽ tốt hơn nếu có một cơ chế ra quyết định nhanh hơn trong những trường hợp đặc biệt như vậy.

Ngành du lịch, lữ hành Việt Nam đã nhanh chóng lấy lại đà tăng trưởng với số lượt khách du lịch nước ngoài tăng 34% trong năm 2010 so với năm trước. Xu hướng này vẫn tiếp diễn trong năm 2011, với số lượt khách quốc tế đạt gần 2 triệu người tính đến tháng 4, tức tăng 10,5% so với cùng kỳ năm trước.

Theo Tổng cục Thống kê, năm 2010, kinh doanh khách sạn, du lịch, nhà hàng đạt doanh thu hơn 187 ngàn tỷ đồng (tương đương 9,4 tỷ USD), chiếm khoảng 9,5% tổng sản phẩm quốc dân của cả năm. Ngoài ra, theo như đánh giá của Hội đồng Du lịch và Lữ hành Thế giới (WTTC), ngành này còn tạo ra khoảng 1,4 triệu việc làm trong năm 2011 trực tiếp và 3,8 triệu việc làm gián tiếp khác.

Nhưng theo các doanh nghiệp trong ngành, kết quả chưa thể hiện hết tiềm năng sẵn có của Việt Nam.

Nhóm công tác du lịch thuộc Diễn đàn Doanh nghiệp Việt Nam mới đây cũng đã đưa ra một số đề xuất nhằm thúc đẩy sự phát triển của ngành này.

Thứ nhất, nhóm đề xuất thành lập hội đồng tư vấn du lịch với chức năng làm cầu nối trao đổi thông tin một cách đồng bộ giữa các cơ quan nhà nước và khu vực tư nhân. Nhiệm vụ trọng tâm của hội đồng là nâng cao lợi thế cạnh tranh của Việt Nam là điểm đến du lịch và MICE (hội thảo, sự kiện, hội nghị, triển lãm) nhờ tạo điều kiện để các lãnh đạo chính phủ và lãnh đạo ngành huy động nguồn tài lực, nhân lực, kỹ thuật vì lợi ích của ngành du lịch, lữ hành nói chung.

Thứ hai, nhóm đề xuất việc áp dụng đường lối phù hợp, nhất quán và có bài bản trong việc nâng cao hình ảnh điểm đến du lịch của Việt Nam. Tháng 1/2011, nhóm này đã thực hiện một khảo sát tiếp thị điểm đến, nhằm mục đích thu thập thông tin từ các thành phần liên quan trong ngành về việc xác định chiến lược của ngành du lịch Việt Nam.

Thứ ba, nhóm cho rằng Việt Nam cần giảm thiểu những hạn chế trong cấp thị thực đối với du khách quốc tế. Một cuộc điều tra đã cho kết quả là có tới 98% số người trả lời cho biết quy định về thị thực hiện nay đang là một cản trở đối với du khách.

Dẫn trường hợp Thái Lan, ông Baron Ah Moo nói Việt Nam còn có quá nhiều việc để làm nếu muốn phát triển ngành du lịch. Từ giữa đến cuối thập niên 1980, Thái Lan đã thu hút được 5-6 triệu lượt khách nước ngoài mỗi năm. Sau 30 năm, số lượt khách quốc tế đến Thái Lan hiện nay đã lên tới gần 15 triệu lượt người mỗi năm, bất chấp tình hình chính trị bất ổn tại nước này.

“Thành công của Thái Lan trong việc thu hút khách quốc tế, trong đó có nhiều du khách quay trở lại ngay từ châu Á và các thị trường ở xa khác, là kết quả của chính sách nhập cảnh cởi mở. Việt Nam cũng có thể đạt được thành công tương tự nếu áp dụng một cơ chế “cấp visa tại cảng đến” thực sự. Chúng tôi cho rằng những quy định về cấp thị thực hiện hành của Việt Nam đang cản trở khả năng thu hút du khách nước ngoài, nhất là thu hút du khách quay trở lại”, ông Baron Ah Moo nói.

Đề xuất tăng thuế xuất khẩu thép, xi măng và gỗ

Mặt hàng thép xây dựng được đề xuất tăng thuế xuất khẩu lên 1,3- 2%, phôi thép 3%…

Hiện có tình trạng Trung Quốc thu gom mạnh một số loại như gỗ cao su, chàm từ Việt Nam.

Vụ Chính sách thuế (Bộ Tài chính) vừa có văn bản đề xuất tăng thuế xuất khẩu đối với mặt hàng thép và xi măng nhằm điều tiết lợi nhuận các doanh nghiệp thu được nhờ lợi thế giá thấp của một số yếu tố đầu vào.

Mặt khác, các mặt hàng này chưa thuộc diện nộp thuế xuất khẩu. Đối với mặt hàng thép xây dựng, Bộ Tài chính đề xuất tăng thuế xuất khẩu lên 1,3- 2%, áp dụng mức 3% đối với phôi thép. Với xi măng, mức tăng được đề nghị là 5,3%, riêng clinker áp dụng thuế xuất khẩu 5%.

Đồng thời, Bộ Tài chính cũng xin ý kiến Thủ tướng tăng thuế xuất khẩu gỗ và các sản phẩm từ gỗ lên tối đa 20% vì hiện có tình trạng Trung Quốc thu gom mạnh một số loại như gỗ cao su, chàm từ Việt Nam.

Cụ thể, thuế xuất khẩu tà vẹt đường sắt hoặc đường xe điện bằng gỗ được đề xuất tăng từ 5% lên 20%, do lượng xuất khẩu tăng đột biến 300% trong năm 2010.

Ủy ban Thường vụ Quốc hội họp về kết quả bầu cử

Phiên họp thứ 40 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội sẽ được khai mạc sáng 1/6 và dự kiến diễn ra trong 1 ngày…

Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội và hội đồng nhân dân các cấp được đánh giá thành công tốt đẹp.

Phiên họp thứ 40 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội sẽ được khai mạc sáng 1/6 và dự kiến chỉ diễn ra trong 1 ngày.

Buổi sáng, Ủy ban Thường vụ Quốc hội sẽ nghe Hội đồng bầu cử báo cáo kết quả cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa 13 và bầu cử đại biểu hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2011-2016, sau đó sẽ thảo luận nội dung này.

Tại phiên họp thứ 5 của Hội đồng bầu cử chiều 30/5, Báo cáo sơ bộ kết quả bầu cử cho biết cuộc bầu cử đã diễn ra trong không khí dân chủ, bình đẳng, đúng pháp luật, an toàn, tiết kiệm và thành công tốt đẹp.

Tỷ lệ cử tri tham gia cuộc bầu cử đạt rất cao ở hầu hết các tỉnh, thành phố trong cả nước, trong đó có 4 tỉnh cao nhất, đạt 99,99% là Lai Châu, Hà Giang, Hòa Bình, Lạng Sơn.

Chiều cùng ngày, Ủy ban Thường vụ Quốc hội sẽ cho ý kiến về việc chuẩn bị kỳ họp thứ nhất, Quốc hội khóa 13.

Theo dự kiến tại phiên họp thứ 39 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, kỳ họp này sẽ diễn ra trong khoảng 22 ngày, khai mạc ngày 21/7 và bế mạc ngày 16/8/2011.

Tại kỳ họp này, Quốc hội sẽ dành khoảng hai tuần để xem xét, quyết định về tổ chức, nhân sự. Gồm, bầu Chủ tịch, các phó chủ tịch và các ủy viên Ủy ban Thường vụ Quốc hội, thành viên Hội đồng Dân tộc, các ủy ban của Quốc hội và đoàn thư ký kỳ họp Quốc hội.

Quốc hội cũng sẽ bầu Chủ tịch, Phó chủ tịch nước, Thủ tướng Chính phủ, Chánh án Tòa án Nhân dân Tối cao, Viện trưởng Viện Kiểm sát Nhân dân Tối cao. Quyết định cơ cấu tổ chức của Chính phủ; phê chuẩn việc bổ nhiệm các phó thủ tướng, bộ trưởng và các thành viên khác của Chính phủ. Đồng thời, phê chuẩn danh sách các thành viên Hội đồng Quốc phòng và An ninh.

Cả nước đang có hơn 4,6 triệu hộ nghèo và cận nghèo

Số hộ nghèo cả nước đã giảm đáng kể, từ 22% năm 2005 xuống còn 9,45% năm 2010…

Điện Biên là tỉnh có số hộ nghèo cao nhất nước, chiếm trên 50%.

Sáng 30/5, Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội đã tổ chức công bố kết quả tổng điều tra hộ nghèo, hộ cận nghèo trên toàn quốc năm 2010 theo chuẩn nghèo mới.

Theo đó, tổng số hộ nghèo cả nước là 3.055.566 hộ, hộ cận nghèo là 1.612.381 hộ (theo mức chuẩn nghèo mới, thu nhập của hộ gia đình nghèo là 400.000 đồng trở xuống ở nông thôn và 500.000 đồng trở xuống ở thành thị).

Theo kết quả điều tra, Đông Bắc là khu vực có số hộ nghèo lớn nhất cả nước, gồm 581.560 hộ, chiếm 19,3%; tiếp theo là khu vực Khu 4 cũ có 578.007 hộ, chiếm 18,92%.  Đông Nam Bộ là khu vực có hộ nghèo ít nhất, chỉ 77.802 hộ, chiếm 2,55%.

Trong tổng số 63 tỉnh, thành phố, Điện Biên là tỉnh có số hộ nghèo cao nhất nước, chiếm trên 50%; 3 tỉnh tỷ lệ hộ nghèo từ trên 40% đến dưới 50% là Lai Châu, Lào Cai và Hà Giang.

5 tỉnh, thành phố tỷ lệ hộ nghèo dưới 5% là Tp. HCM (0,01%),  Bình Dương (0,05%),  Đồng Nai (1,45%),  Bà Rịa- Vũng Tàu (4,35%) và Hà Nội (4,97%). Đây là những địa phương đã ban hành chuẩn nghèo riêng, cao hơn chuẩn nghèo quốc gia.

Kết quả điều tra cũng cho thấy, hiện cả nước vẫn còn 81 huyện nghèo thuộc 25 tỉnh có tỷ lệ hộ nghèo trên 50%.

Thứ trưởng Bộ Lao động – Thương binh và xã hội, Nguyễn Trọng Đàm cho biết, kết quả tổng điều tra hộ nghèo, hộ cận nghèo trên toàn quốc là cơ sở thực hiện các chính sách giảm nghèo và an sinh xã hội trong giai đoạn 2011-2015.

Hàng năm, trên cơ sở kết quả điều tra mức sống hộ gia đình, Tổng cục Thống kê sẽ công bố tỷ lệ hộ nghèo của cả nước và từng địa phương, làm cơ sở hoạch định các chính sách phát triển kinh tế, xã hội và phân bổ nguồn lực từ ngân sách Trung ương cho các địa phương.

“Đặc biệt, thành tựu giảm nghèo của Việt nam thời gian qua được cộng đồng quốc tế ghi nhận và đánh giá cao. Tỷ lệ hộ nghèo cả nước đã giảm từ 22% năm 2005 xuống còn 9,45% năm 2010”, ông Đàm nhấn mạnh.

Vẫn chưa nới lỏng tiền tệ: Đợi lạm phát thuyên giảm?

Ngân hàng Nhà nước vẫn chưa có dấu hiệu nới lỏng tiền tệ sau gần 5 tháng thực thi thắt chặt…

Trụ sở Ngân hàng Nhà nước.

Gửi đi thông điệp: không tăng dự trữ bắt buộc, không phát hành tín phiếu, siết chặt mức tăng tín dụng, kiên quyết giữ trần huy động 14% và không lập trần lãi vay, điều này cho thấy, Ngân hàng Nhà nước vẫn chưa có dấu hiệu nới lỏng tiền tệ sau gần 5 tháng thực thi thắt chặt.

Dĩ nhiên, khi thắt chặt tiền tệ thì hệ thống tổ chức tín dụng (tổ chức tín dụng) sẽ bị “khô  máu”. Ngân hàng Nhà nước thừa biết sự nguy hiểm này và lựa chọn nhiều cách xử lý khác nhau.

Giữ thanh khoản như giữ đê

Theo Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Nguyễn Văn giàu, trước áp lực giữ ổn định thanh khoản hệ thống, nhất là đối với một số đơn vị đang khó khăn cân đối nguồn, nhà điều hành vừa kết hợp biện pháp tái cấp vốn vừa mua ngoại tệ của họ.

Trong các ngày 5, 6, 9, 10, 12, 13/5, khi lãi suất thị trường liên ngân hàng bị đẩy cao, Ngân hàng Nhà nước bơm tiền khá mạnh qua nhiều kênh, trong đó có kênh mua ngoại tệ, có những ngày, Ngân hàng Nhà nước mua tới 200 triệu USD.

Để dành tiền hỗ trợ thanh khoản đúng địa chỉ, Ngân hàng Nhà nước duy trì quy mô giao dịch nghiệp vụ thị trường mở (OMO) một cách dè dặt. Nhà điều hành cho rằng, những đơn vị sở hữu nhiều giấy tờ có giá thường quản trị rủi ro khá tốt, thanh khoản vững.

Nếu để lượng tiền trên OMO rơi nhiều vào nhóm này thì không khác gì “mang thêm củi về rừng” và tạo điều kiện để họ “cày xới trên lưng kẻ khác”, nhất là trong thời buổi thắt chặt tiền tệ.

Vì  vậy, có những thời điểm, Ngân hàng Nhà nước xác định tỷ lệ “đấu” trên OMO là “3 ăn 1”, thậm chí “4 hoặc 5 ăn 1”; có nghĩa: tổ chức tín dụng (tổ chức tín dụng) mang số lượng giấy tờ có giá trị giá 3 – 4  hoặc 5 nghìn tỷ đồng nhưng chỉ có thể đấu giá được 1 nghìn tỷ đồng.

Cùng đó, Ngân hàng Nhà nước thực hiện chiến thuật “cò cưa” với dòng tiền ngoài xã hội để cố nắn dòng tiền này vào hệ thống ngân hàng như dẫn cá vào lưới. Một nguyên lý là khi thắt chặt tiền tệ thì lãi suất phải cao. Điều này đúng cả với lãi suất chủ chốt của Ngân hàng Nhà nước và lãi suất thương mại. Nhưng ở đây, Ngân hàng Nhà nước lại làm ngược.

Đầu tiên, Ngân hàng Nhà nước đặt trần khống chế lãi suất huy động tiền gửi 14%, mở thoáng lãi tiền vay. Tiếp đó là bóp nghẹt “van” tín dụng phi sản xuất đối với vàng, bất động sản, chứng khoán một cách dứt khoát và không nhượng bộ: đến 31/12/2011, tỷ trọng dư nợ phi sản xuất phải rút xuống 16% từ mức khoảng 20% hiện nay.

Là người nắm giữ đồng tiền, khi lạm phát cao, lãi tiền gửi thấp, hầu hết đều muốn đầu cơ vào vàng, chứng khoán, bất động sản và ngoại tệ để bảo toàn giá trị cũng như đảm bảo khả năng sinh lời của tài sản. Nhưng khi những thị trường nói trên bị “xì hơi” mà một trong những nguyên nhân chính là Ngân hàng Nhà nước chặn dòng chảy tín dụng vào đây, kết hợp với các biện pháp hành chính răn đe, đã khiến người nắm giữ tiền không còn lựa chọn nào khác ngoài gửi vào ngân hàng.

Thực ra, để dòng tiền của người dân thực sự chảy vào hệ thống ngân hàng thì Ngân hàng Nhà nước còn có thêm một động tác khác là… làm ngơ với xé rào lãi suất.

Chuyện ngân hàng thương mại huy động chui lãi suất vượt quá 14% đã nhiều tháng nay, Ngân hàng Nhà nước có biết nhưng chưa thấy ai bị…  xử lý và rùm beng truyền thông như vụ bắt giữ mua bán trái phép 390.500 USD ngày 9/3/2011. Có vẻ, Ngân hàng Nhà nước chấp nhận mang tiếng “phép nước bị nhờn” nhưng đổi lại là các tổ chức tín dụng có thêm vốn, Ngân hàng Nhà nước đỡ tốn “mồi”, còn dòng tiền ngoài dân cư lại chảy vào ngân hàng.

Và thực tế, số liệu Ngân hàng Nhà nước công bố ngày 25/5/2011 cho thấy: tiền gửi dân cư tăng tới 11,84%; trong đó, VND tăng 107.300 tỷ đồng, tương ứng 11,39% và tiền gửi ngoại tệ tăng 8,63%. Thậm chí, không ít người đã bán USD lấy tiền đồng gửi vào ngân hàng vì chênh lệch lãi suất tới trên 10%/năm.

Với cách làm như trên, kết quả là những ngày cuối tháng 5, thanh khoản hệ thống khá ổn  định. Đến mức, ngày 25/5, Ngân hàng Nhà nước “khoe” đã hút về 30 nghìn tỷ đồng và chào bán 25 nghìn tỷ nhưng dư mua chỉ 21 nghìn tỷ đồng.

Tất nhiên, thanh khoản giữ ổn định trở lại còn có một nguyên nhân khác cộng hưởng vào là thời điểm cuối tháng, các tổ chức tín dụng đã trích lập đủ các loại dự phòng và dự trữ bắt buộc nên nhu cầu vốn giảm nhiệt.

Mặc dù vẫn phải chờ đợi để kiểm chứng sự ổn định thanh khoản có trở thành xu hướng hay chưa nhưng đến thời điểm này, có thể thừa nhận một điều: yêu cầu quan trọng nhất của Ngân hàng Nhà nước khi thắt chặt tiền tệ là phải giữ được ổn định thanh khoản thì Ngân hàng Nhà nước đã đạt mục đích.

Lãi vay cao vẫn bỏ ngỏ!

Nếu như thời gian qua, Ngân hàng Nhà nước đã “ghi ba bàn thắng”: bình yên thị trường vàng, ngoại tệ và giữ được thanh khoản thì hiện tại, bài toán lãi suất tiền vay vẫn bỏ ngỏ.

Hiện tại, khá nhiều than phiền về lãi suất cao và xuất hiện không ít “tư vấn” từ giới phân tích rằng, Ngân hàng Nhà nước nên “nới trần lãi suất huy động”, “bỏ trần lãi suất tiền gửi, khống chế lãi suất tiền vay” hoặc nới lỏng tiền tệ…

Tuy vậy, đến nay, Ngân hàng Nhà nước vẫn bảo lưu quan điểm của mình: giữ nguyên trần lãi suất huy động 14%, không khống chế lãi suất tiền vay và không nới lỏng tiền tệ dưới bất kỳ hình thức nào, ngoài việc bơm tiền chỉ để hỗ trợ thanh khoản đúng đích ngắm.

Tất nhiên, thực tế này đồng nghĩa với việc Ngân hàng Nhà nước vẫn chưa giải quyết được bài toán lãi suất tiền vay và phải chấp nhận phản ứng từ cộng đồng ngân hàng, giới đầu tư, đầu cơ và dư luận xã hội.

Đơn cử, dạo một vòng trên những diễn đàn đầu tư, đủ thấy giới đầu cơ bất động sản và chứng khoán quan tâm đến các động thái điều hành chính sách tiền tệ như thế nào.

Họ  sưu tầm tất cả những thông tin như tăng lãi suất chủ chốt, giới hạn tăng trưởng tín dụng và tỷ trọng tín dụng phi sản xuất… Với họ, điều quan tâm duy nhất lúc này là: bao giờ Ngân hàng Nhà nước sẽ nới lỏng tiền tệ.

Và tình trạng này thái quá đến mức, nếu ai đó “lỡ lời” tư vấn cho Ngân hàng Nhà nước nên nên “phát hành tín phiếu” hay “tăng dự trữ bắt buộc” lập tức bị cộng đồng mạng tẩy chay và kèm theo nhiều lời lẽ thiếu văn hóa.

Vậy, vì sao Ngân hàng Nhà nước lại có thể kiên trì đến mức  đáng sợ như vậy? Dựa vào những công bố mới đây của Ngân hàng Nhà nước, có thể thấy rằng, lý do đầu tiên để nhà điều hành chưa thực hiện nới lỏng tiền tệ chính là lạm phát.

Theo Tổng Cục Thống kê, CPI tháng 5/2011 tăng 2,21% so với tháng 4/2011, tăng 12,07% so với 31/12/2010 và tăng 19,78% so với cùng kỳ năm trước. Chỉ số giá tiêu dùng bình quân 5 tháng đầu năm 2011 tăng 15,09% so với bình quân cùng kỳ năm 2010.

Trong khi đó, cũng theo Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Nguyễn Văn Giàu thì  tính đến hết 2010, tổng lượng tín dụng toàn bộ  nền kinh tế ở mức gấp 1,2 lần so với GDP 2010 (104 tỷ USD), tương đương 2,5 triệu tỷ đồng.

Trong bối cảnh đà tăng CPI tháng 5 tuy giảm so với tháng 4/2011 nhưng vẫn tăng và tương quan tổng dư nợ tín dụng và GDP đang ở ngưỡng lớn nhất nhì  thế giới trong một số năm gần đây, đã khiến cho Ngân hàng Nhà nước phải đắn đo trước áp lực nới lỏng tiền tệ do e ngại đổ thêm dầu vào ngọn lửa lạm phát.

Vả lại, phân tích tốc độ tăng CPI của tháng 5 đang có dấu hiệu chững lại và điều này nhóm lên tia hy vọng là tốc độ tăng lạm phát sẽ giảm nên Ngân hàng Nhà nước chưa vội nới lỏng tiền tệ.

Chưa kể rằng, khi sức sản xuất hàng hóa chưa được phục hồi thì việc mở rộng tín dụng sẽ tăng thêm nợ xấu cho hệ thống ngân hàng.

Thứ hai, Ngân hàng Nhà nước thừa hiểu rằng, để lạm phát giảm thì bên cạnh giải pháp cực chẳng đã thắt chặt tiền tệ thì chính sách tài khóa phải nhập cuộc thực sự.

Như vậy, phải chăng lời giải bài toán lãi suất đang phải chờ đợi sự hiện thực hóa quá trình “cắt giảm chi tiêu thường xuyên, đầu tư Chính phủ, đầu tư của doanh nghiệp nhà nước” mà Chính phủ đã hứa?