Chính phủ: Chống lạm phát chưa cần giải pháp mới

Chính phủ thống nhất chưa cần phải đưa ra giải pháp mới để chống lạm phát, ngoài những nội dung của Nghị quyết 11…

Bộ trưởng Nguyễn Xuân Phúc và Vũ Văn Ninh chủ trì buổi họp báo chiều 29/4.

Dù lạm phát đang ở mức cao, song các thành viên Chính phủ đã thống nhất chưa cần phải đưa ra giải pháp mới, ngoài những nội dung của Nghị quyết 11.

Khẳng định trên của Thủ tướng được Bộ trưởng Bộ Tài chính Vũ Văn Ninh truyền đạt tại cuộc họp báo Chính phủ thường kỳ, chiều 29/4.

Chưa nới trần lãi suất huy động

Tại buổi họp báo trên, Bộ trưởng, Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc cũng truyền đại lại kết luận của Thủ tướng trong phiên họp Chính phủ trước đó.

Cụ thể, Thủ tướng cho rằng, trong tháng 4 các bộ ngành, địa phương đã tập trung thực hiện chỉ đạo của Chính phủ, nền kinh tế đã có chuyển biến tích cực, đã kiểm soát được tình hình, trong đó có thị trường tiền tệ, tài chính.

Các thành viên Chính phủ cũng nhìn nhận rằng, trên thị trường tiền tệ không còn tình trạng buông lỏng như trước đây, tỷ giá, ngoại tệ tự do… đang dần đi vào ổn định. Thống kê cho thấy thu ngân sách tăng, bội chi giảm, xuất khẩu tăng khá.
 
Với lĩnh vực tiền tệ, sau 4 tháng tăng trưởng tín dụng chỉ tăng trên 5% nên mục tiêu cả năm ở mức 20% là có thể kiềm chế được.

Tuy nhiên, Thủ tướng cũng khẳng định, nền kinh tế vẫn đang phải đổi mặt với nhiều thách thức lớn, đặc biệt là giá cả, lãi suất cho vay vẫn cao khiến chi phí lớn, sản xuất khó khăn; nhập siêu còn cao, trong đó có nhiều mặt hàng xa xỉ vẫn được nhập về; đời sống nhân dân, nhất là người ăn lương, công nhân gặp nhiều khó khăn.

Trong bối cảnh đó, người đứng đầu Chính phủ yêu cầu phải tiếp tục theo dõi tình hình kinh tế thế giới, tiếp tục ổn định vĩ mô, kiềm chế lạm phát, chưa cần phải có những giải pháp, những điều chỉnh mới. Đồng thời phải giữ được mức tăng trưởng cần thiết, có thể thấp hơn năm 2010 nhưng phải đảm bảo đời sống nhân dân.

Trong khi đó, theo Bộ trưởng Bộ Tài chính Vũ Văn Ninh, nguyên nhân của những tồn tại trên, trong đó nổi cộm là lạm phát tăng cao là do độ trễ của chính sách mà cụ thể là Nghị quyết 11 của Chính phủ.

Giá tiêu dùng của tháng 4 có một đặc thù lớn bởi có nhiều yếu tố tác động vào, trong đó nổi trội là nhóm hàng về giao thông vận tải, ăn uống dịch vụ và nhóm nhà ở – vật liệu xây dựng, chiếm xấp xỉ 80% tỷ trọng tăng giá.

Bên cạnh đó, do vừa qua nhà điều hành phải thực hiện một số quyết định, được cho là không thể không làm, là tăng giá điện, xăng dầu…, khiến cho giá cả tháng 4 có đặc thù lờn khi mà giá của nhóm hàng hóa vận tải, ăn uống, nhà ở – vật liệu xây dựng tăng cao, chiếm gần 80% tỷ trọng tăng giá. Cùng với đó là tác động tâm lý cũng giữ vai trò lớn khiến giá nhiều mặt hàng bị đẩy lên.

Bộ trưởng Ninh cũng khẳng định, hiện kinh tế thế giới đang có triển vọng phục hồi, nhưng hầu hết các quốc gia trên thế giới đều có lạm phát, giá cả hàng hóa, xăng dầu tăng mạnh đã khiến sản xuất kinh doanh trong nước vẫn tiếp tục còn khó khăn. Chính phủ sẽ tiếp tục theo dõi để có những giải pháp tháo gỡ.

Liên quan đến đề xuất sửa đổi, miễn giảm thuế thu nhập cá nhân trong bối cảnh lạm pháp tăng cao, lãnh đạo Bộ Tài chính cho hay, cần phải hiểu rõ ai là người phải nộp thuế và nộp ở mức nào.

Ông Ninh ví dụ: Nếu người độc thân thu nhập 5 triệu đồng/tháng, được trừ 4 triệu đồng thì khoản phải nộp chỉ là 5% của 1 triệu đồng còn lại, tức là chỉ phải nộp 50 nghìn đồng. Hoặc kể cả người có giảm trừ gia cảnh từ 1 – 2 người thì cũng chỉ nộp 50 nghìn đồng/tháng. “Không có chuyện người khó khăn phải nộp thuế”.

Do đó, quan điểm của Bộ là phải xem xét cụ thể để làm sao thuế phải đúng đối tượng, còn chuyện có miễn giảm hay không thì Bộ, Chính phủ không thể quyết được vì điều này thuộc thẩm quyền Quốc hội.

Liên quan đến hoạt động của thị trường tiền tệ̣, Phó thống đốc Ngân hàng Nhà nước Nguyễn Đồng Tiến cho hay, với chủ trương của Nghị quyết 11 thì ngân hàng đã sử dụng một số giải pháp cần thiết để kiểm soát tín dụng và tổng phương tiện thanh toán. Nhưng để tránh những biến động bất lợi cho thị trường thì Ngân hàng Nhà nước vẫn duy trì thường xuyên hoạt động nghiệp vụ thị trường mở̉, chủ yếu cho mục tiêu thanh khoản ngắn hạn.
 
Đặc biệt, đối với vấn đề trần lãi suất huy động, đại diện lãnh đạo Ngân hàng Nhà nước cho hay, hiện có một số ý kiến đề xuất nên xem xét điều chỉnh.

Tuy nhiên, theo ông Tiến, cho dù có thông tin phản ánh một số ngân hàng thương mại vi phạm quy định trần lãi suất huy động, song đến thời điểm này Ngân hàng Nhà nước chưa đặt vấn đề nới trần lãi suất huy động. Thay vào đó, cơ quan này sẽ tiếp tục xem xét, theo dõi diễn biến của thị trường để có những giải pháp thích hợp.

Không nên thắt chặt hơn tiền tệ

Trả lời báo giới về định hướng điều hành thị trường tài chính, giá cả trong thời gian tới, Bộ trưởng Vũ Văn Ninh cho rằng, Chính phủ, các cơ quan quản lý hiện đang điều hành nền kinh tế trong bối cảnh hết sức khó khăn do chịu tác động từ bên ngoài, trong khi trong nước thì không thể kìm hãm như trước.

Một lần nữa, “yếu tố bên ngoài” được đưa ra, nhấn mạnh để giải thích cho những khó khăn của nền kinh tế trong nước, đặc biệt là vấn đề lạm phát.

Và do đó, Chính phủ khẳng định phải kiên trì nền kinh tế thị trường, định hướng xã hội chủ nghĩa, trong đó có vấn đề về giá. Tuy nhiên, nếu điều hành không cẩn trọng sẽ dễ gây sốc, ảnh hưởng lớn tới kinh tế xã hội, đến đời sống của người dân. “Chúng ta không thả nổi hoàn toàn”, ông Ninh nói.

Liên quan đến các giải pháp điều hành thị trường tiền tệ, ngoại hối, vàng…, Phó thống đốc Nguyễn Đồng Tiền nhìn nhận, hiện tình hình đã có những diễn biến tích cực sau loạt giải pháp của Chính phủ.

Ông Tiến cũng thông tin khá chi tiết về chính sách ngừng huy động và cho vay vàng từ 1/5 tới, cũng như phân tích các tác động liên quan…

Đánh giá về mục tiêu tăng trưởng tín dụng cả năm 20%, vị lãnh đạo này cũng thừa nhận là giải pháp điều hành phải hết sức quan trọng. Bởi lẽ, dù là trong 4 tháng tín dụng tăng trưởng trên 5%, nhưng trong đó đã có tháng “nghỉ ngơi”.

Lãnh đạo Ngân hàng Nhà nước cho rằng, cho dù Chính phủ đã đặt mục tiêu ổn định vĩ mô, kiềm chế lạm phát, song đến thời điểm này lạm phát đã vượt xa mục tiêu kiềm chế đề ra. Do đó, đổi hỏi giải pháp tiếp theo tinh thần Nghị quyết 11 nhưng cần phải có sự đồng bộ của các giải pháp, không nên quá kỳ vọng vào một giải pháp nhất định.

“Riêng với chính sách tiền tệ, tôi cho rằng ở thời điểm hiện nay không nên thực hiện các biện pháp thắt chặt hơn chính sách tiền tệ̣. Thay vào đó là phải theo dõi, bám sát diễn biến trong 3 – 6 tháng tới để có thể có những giải pháp hợp lý hơn”, ông Tiến đưa ra quan điểm.

Trong khi đó, Bộ trưởng Nguyễn Xuân Phúc cho rằng, lạm phát tâm lý rất quan trọng, nhưng trước diễn biến tích cực của nền kinh tế, Chính phủ tin rằng từ tháng 5, tháng 6 trở đi lạm phát sẽ giảm dần.

“Chúng ta phải có niềm tin đó và báo chí có nhiệm vụ truyền tải những thông tin nhằm ổn định tâm lý́”, Bộ trưởng Phúc kết luận cuộc họp.

VIT lãi gần 1,09 tỷ đồng, tăng 3,69 tỷ đồng so với quý 1/2010

VIT công bố kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh quý 1 và kế hoạch sản xuất kinh doanh trong quý 2/2011…

Quý 2, VIT dự kiến doanh thu đạt 166 tỷ đồng; lợi nhuận trước thuế đạt 10,4 tỷ đồng.

Công ty Cổ phần Viglacera Tiên Sơn (mã VIT-HNX) công bố kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh quý 1 và kế hoạch sản xuất kinh doanh trong quý 2/2011.

Cụ thể, giá trị tổng sản lượng đạt 88,7 tỷ đồng; doanh thu đạt 115,1 tỷ đồng bằng 95% kế hoạch đề ra và đạt 17% kế hoạch năm; lợi nhuận trước thuế quý 1 đạt 1,085 tỷ đồng, tăng hơn 3,69 tỷ đồng so với quý 1/2010 (-2,605 tỷ đồng).

VIT cho biết, mặc dù với đặc thù của ngành có tính mùa vụ, sản phẩm thường tiêu thụ chậm trong những tháng đầu năm, tuy nhiên công ty đã đẩy mạnh công tác tiêu thụ sản phẩm. Nhờ đó doanh thu quý 1/2011 tăng 43%, riêng tháng 3/2011 doanh thu đạt 64,4 tỷ đồng tăng gần gấp 2 lần tháng 1 và tháng 2/2011 và tăng gấp 2 lần so với tháng cùng kỳ năm trước; lợi nhuận trước thuế tháng 3/2011 của công ty đạt 5,4 tỷ đồng, luỹ kế quý 1 tăng 3,69 tỷ đồng so với quý 1/2010.

Công ty đặt mục tiêu trong quý 2/2011 với giá trị tổng sản lượng đạt 142,5 tỷ đồng; doanh thu đạt 166 tỷ đồng; lợi nhuận trước thuế đạt 10,4 tỷ đồng;

Về công tác đầu tư, công ty sẽ hoàn thành các dự án đầu tư chiều sâu tại 2 Nhà máy là nhà máy Viglacera Tiên Sơn: Đầu tư bổ sung máy mài Nano, Máy mài vát cạnh, Xe cấp liệu cho máy ép số 1; Nhà máy Viglacera Thái Bình: Đầu tư bổ sung máy phát điện dự phòng; hoàn thiện dự án đầu tư dây chuyền mài bóng 36 đầu mài.

Quyết toán vốn đầu tư hoàn thành dự án đầu tư Nhà máy Viglacera Thái Bình công suất 1,5 triệu m2 sản phẩm/năm và thực hiện quyết toán sửa chữa lớn của hai Nhà máy.

Năm 2011, công ty đặt chỉ tiêu lợi nhuận trước thuế đạt 36 tỷ đồng; chỉ tiêu khấu hao tài sản cố định là 36,7 tỷ đồng; chỉ tiêu nợ phải thu của khách hàng đến 31/12/2011 là 36 tỷ đồng; Tỷ lệ chia cổ tức dự kiến không thấp hơn 20% trên vốn điều lệ 99 tỷ đồng.

HNX đưa cổ phiếu QCC vào diện cảnh báo

HNX chính thức đưa cổ phiếu của QCC vào diện cảnh báo kể từ ngày 29/4/2011…

Sau kiểm toán, QCC lỗ 1.459.244.925 đồng.

Sở Giao dịch Chứng khoán Hà Nội thông báo căn cứ Điểm 1.c Điều 12 Quy chế niêm yết chứng khoán ban hành kèm theo Quyết định số 324/QĐ-SGDHN ngày 04/6/2010 của Sở Giao dịch Chứng khoán Hà Nội.

Sở Giao dịch Chứng khoán Hà Nội chính thức đưa cổ phiếu của Công ty Cổ phần Xây lắp và Phát triển dịch vụ bưu điện Quảng Nam vào diện cảnh báo kể từ ngày 29/4/2011 do lợi nhuận sau thuế trên Báo cáo tài chính có kiểm toán năm 2010 của Công ty này đạt lợi nhuận âm (1.459.244.925 đồng).

Sở Giao dịch Chứng khoán Hà Nội sẽ có thông báo về việc đưa cổ phiếu QCC ra khỏi diện bị cảnh báo sau khi Công ty khắc phục được tình trạng nêu trên theo Quy chế niêm yết chứng khoán của Sở.

Được biết, ngày 20/4, Đại hội cổ đông công ty thông qua kế hoạch kinh doanh năm 2011 với doanh thu đạt 37 tỷ đồng; lợi nhuận trước thuế và sau thuế lần lượt đạt 3 tỷ và 2,28 tỷ đồng; cổ tức 12%.

Thấy gì từ báo cáo rà soát đầu tư 2011?

Cuối cùng, Thủ tướng Chính phủ cũng đã nhận được báo cáo rà soát kế hoạch đầu tư năm 2011…

Tổng số vốn đầu tư phát triển từ nguồn ngân sách nhà nước năm 2011 cắt giảm là 5.128,6, trên tổng số 116.461,1 tỷ đồng thuộc 1.709 trong số 15.763 dự án đã phân bổ cho năm nay.

Cuối cùng, Thủ tướng Chính phủ cũng đã nhận được báo cáo rà soát kế hoạch đầu tư năm 2011, tuy rằng, bản cập nhật mới vẫn chưa thể hiện đầy đủ tổng hợp báo cáo từ tất cả các bộ, ngành, địa phương, theo đúng tinh thần Nghị quyết 11.

Theo báo cáo tình hình thực hiện Nghị quyết 11 về đầu tư do Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư Võ Hồng Phúc ký ngày 27/4, vẫn còn tới 5 đơn vị ở trung ương, 23 địa phương chưa gửi báo cáo về Bộ.

Tuy vậy, sau công văn số 1818/BKHĐT-TH ngày 25/3 “nhắc nhở” việc “một số bộ, ngành và địa phương chưa thực hiện tốt việc rà soát, cắt giảm và điều chỉnh vốn kế hoạch năm 2011, báo cáo không đầy đủ các nội dung…”, tình hình có vẻ khả quan hơn.

Cắt giảm gần 97 nghìn tỷ đồng vốn kế hoạch

“Tổng số vốn đầu tư cắt giảm trong năm 2011 là 96.888,3 tỷ đồng, bằng khoảng 10% tổng vốn đầu tư toàn xã hội năm 2011”, báo cáo của Bộ Kế hoạch và Đầu tư cho biết. Con số này cũng cho thấy các bộ, ngành, địa phương đã “quyết liệt” hơn, nếu so với 3.400 tỷ đồng tại báo cáo cũng của Bộ Kế hoạch và Đầu tư cách đây 1 tháng.

Ở các con số chi tiết, Bộ Kế hoạch và Đầu tư cho biết tổng số vốn đầu tư phát triển từ nguồn ngân sách nhà nước năm 2011 cắt giảm là 5.128,6, trên tổng số 116.461,1 tỷ đồng thuộc 1.709 trong số 15.763 dự án đã phân bổ cho năm nay.

Trong con số này, các bộ ngành trung ương cắt giảm 225 dự án có tổng vốn 899,4 tỷ đồng; các địa phương cắt giảm 1.484 dự án tổng vốn 4.229,2 tỷ đồng. Riêng tỷ lệ cắt giảm vốn dự án khởi công mới của các bộ, ngành là  18,2% kế hoạch, với địa phương là 15,3%.

Đối với vốn trái phiếu Chính phủ, 5/5 bộ và 55/62 địa phương đã có báo cáo chuyển về Bộ Kế hoạch và Đầu tư với tổng vốn cắt giảm là 2.547,5 tỷ đồng.

Cập nhật số liệu mới, phía các đơn vị trung ương, Bộ Giao thông Vận tải xác định được 74 dự án, tiểu dự án cắt giảm, đình hoãn, giãn tiến độ với tổng số tiền điều chuyển sang các dự án ưu tiên triển khai trong năm nay là 1.786,5 tỷ đồng; Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn giảm vốn 2 dự án trị giá 14 tỷ đồng.

Trong khi đó, Bộ Y tế đã phân bổ 2 dự án khởi công mới không thuộc danh mục dự án sử dụng nguồn vốn trái phiếu Chính phủ năm 2011, tổng trị giá 15 tỷ đồng; Bộ Quốc phòng chưa có điều chỉnh, cắt giảm, đình hoãn, giãn tiến độ các dự án sử dụng nguồn vốn trái phiếu Chính phủ; Bộ Công An bố trí vốn 2 dự án chuyển tiếp và chưa có điều chuyển vốn, báo cáo cho biết.

Phía các địa phương, đáng chú ý là không có tỉnh thành nào đề nghị cắt giảm dự án khởi công mới, đối với các dự án chuyển tiếp mới xác định đình hoãn, điều chuyển 758 tỷ đồng của 81 dự án, những con số khá hạn chế.

Ngược lại, tổng hợp báo cáo của 22 tập đoàn kinh tế, tổng công ty nhà nước, các con số đều rất lớn. Bộ Kế hoạch và Đầu tư đã thống kê 907 dự án với số vốn 39.212,2 tỷ đồng thuộc diện đình hoãn, giãn tiến độ, bằng 10,7% kế hoạch vốn đầu tư phát triển năm 2011 của các doanh nghiệp nhà nước này.

Không rõ có phần nguyên nhân do kém thanh khoản, tiếp cận vốn vay khó khăn, hay xác định hiệu quả dự án hạn chế, nhiều tập đoàn kinh tế, tổng công ty có số vốn cắt giảm chiếm tỷ lệ rất cao như: Tổng công ty Cấp nước Sài Gòn giảm 50,57%; Tổng công ty Hàng hải 38,4%. Một số khác có số vốn cắt giảm rất lớn như Tập đoàn Điện lực 12.159,38 tỷ đồng; Tập đoàn Dầu khí 6.594,64 tỷ đồng; Tập đoàn Bưu chính Viễn thông 3.000 tỷ đồng…

“Phần lớn dự án đình hoãn là đầu tư vào trụ sở, văn phòng, mua sắm trang thiết bị đắt tiền, không trực tiếp phục vụ hoạt động sản xuất kinh doanh chính, khởi công trong năm 2011 nhưng chưa đủ điều kiện đầu tư…”, báo cáo cho hay.

Lúng túng, trông chờ

Dù đã cải thiện hơn báo cáo lần trước, Bộ Kế hoạch và Đầu tư dường như chưa hài lòng với những gì các bộ, ngành, địa phương “thể hiện” lần này. Bộ nhấn mạnh trong phần tồn tại hạn chế: “Một số địa phương triển khai chậm và đến nay vẫn chưa có báo cáo, hoặc báo cáo không đầy đủ về cắt giảm vốn đầu tư”.

Thêm nữa, nhiều bộ, ngành và địa phương chưa thực hiện quyết liệt việc cắt giảm, điều chuyển vốn các dự án khởi công mới sử dụng vốn ngân sách nhà nước. “Số vốn cắt giảm là khá thấp so với số kế hoạch được giao”, báo cáo nhìn nhận.

Các địa phương cũng mới tập trung triển khai rà soát, điều chuyển vốn các dự án sử dụng vốn ngân sách nhà nước, tron khi các nguồn vốn đầu tư khác như trái phiếu Chính phủ, tín dụng đầu tư nhà nước, xổ số kiến thiết, vốn vay… chưa được quan tâm đúng mức.

Đáng chú ý, bộ thực hiện báo cáo cho rằng các bộ, ngành, địa phương vẫn còn tư tưởng trông chờ Chính phủ có các điều chỉnh trong việc đình hoãn, giãn tiến độ thực hiện các dự án khởi công mới; lúng túng trong rà soát cắt giảm vốn dự án khởi công mới đối với một số lĩnh vực… Đây cũng là nguyên nhân dẫn đến tình trạng báo cáo chậm, thiếu đầy đủ mà Bộ đã dẫn ra trước đó.

Phần đề xuất kiến nghị, Bộ Kế hoạch và Đầu tư cho rằng, Chính phủ cần quy định chế tài, đến 31/5/2011 các bộ, ngành, địa phương phải hoàn thành việc rà soát cắt giảm vốn đầu tư theo Nghị quyết 11. Sau thời điểm này, nếu không cắt giảm, điều chuyển hết số vốn bố trí cho các dự án khởi công mới thì kiến nghị thu hồi về ngân sách trung ương phần vốn thuộc ngân sách trung ương.

Ngoài ra, Bộ cũng đề nghị thu hồi toàn bộ số vốn bố trí sai mục tiêu, vốn đã phân bổ cho các dự án chưa đủ thủ tục đầu tư; các dự án đầu tư kém hiệu quả; các dự án được bố trí kế hoạch vốn nhiều năm nhưng triển khai chậm; các dự án không có khả năng thực hiện trong năm 2011, do khó khăn giải phóng mặt bằng hoặc các vướng mắc khác trong triển khai thực hiện.

Giá vàng trong nước lình xình, USD nhích nhẹ

Giá vàng miếng trong nước sáng 29/4 lình xình quanh 37,6 triệu đồng/lượng, bất chấp giá thế giới vọt lên trên 1.530 USD/ounce…

Thị trường vàng tiếp tục được lực nâng đỡ – Ảnh: Getty.

Giá vàng miếng các thương hiệu trong nước sáng nay (29/4) lình xình quanh mốc 37,6 triệu đồng/lượng, bất chấp giá thế giới vọt cao lên trên 1.530 USD/ounce. Trong khi trên thị trường tiền tệ, tỷ giá USD liên ngân hàng sau vài phiên giảm liên tiếp, sáng nay đã nhích nhẹ.

Tính tới 10h20, vàng Rồng Thăng Long của Công ty Bảo Tín Minh Châu được mua vào ở mức 37,5 triệu đồng/lượng, bán ra ở mức 37,65 triệu đồng/lượng. Cùng thời điểm, vàng SJC của Công ty Phú Quý đứng ở mức 37,49 triệu đồng/lượng (mua vào) và 37,63 triệu đồng/lượng (bán ra).

Trong khi, theo bảng giá cập nhật lúc 7h40 của Công ty Vàng bạc đá quý Sài Gòn Thương tín, vàng SBJ được mua vào ở mức 37,56 triệu đồng/lượng, bán ra ở mức giá 37,69 triệu đồng/lượng. Vàng SJC được niêm yết ở các mức 37,55 triệu đồng/lượng (mua vào) và 37,7 triệu đồng/lượng (bán ra).

Trong khi đó, giá vàng thế giới đêm qua bật tăng mạnh lên trên vùng 1.530 USD/ounce. Phiên giao dịch châu Á sáng nay, giá vàng giao ngay tiếp tục bật cao trên ngưỡng này, có lúc gần chạm mốc 1.540 USD/ounce. Tính tới 10h26, vàng giao ngay đang đứng ở 1.534,8 USD/ounce.

Phiên giao dịch ngày 28/4, giá vàng hợp đồng quốc tế trên thị trường New York lại xác lập kỷ lục mới, do đồng USD suy yếu mạnh hơn, sau khi tin tức cho biết tỷ lệ thất nghiệp hàng tuần tăng cao và tăng trưởng kinh tế Mỹ chậm lại trong quý 1.

Chốt phiên, vàng hợp đồng tháng 6 tăng mạnh 14,1 USD, tương ứng 0,9%, lên 1.531,2 USD/ounce trên sàn Comex ở New York. Trong phiên, có lúc giá vàng kỳ hạn này lên  tới 1.538,8 USD/ounce, mức cao nhất mọi thời đại.

Trước đó, trong phiên giao dịch liền trước (ngày 27/4), đồng bạc xanh đã bị tác động mạnh mẽ bởi tuyên bố của Chủ tịch Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (FED) Ben Bernanke về việc giữ nguyên lập trường kích thích kinh tế.

Các báo cáo kinh tế vĩ mô được công bố trong ngày 28/4 một lần nữa đã củng cố quan điểm rằng chính sách nới lỏng tiền tệ vẫn rất cần thiết để nâng đỡ cho kinh tế Mỹ. Cụ thể, tăng trưởng kinh tế Mỹ trrong quý 1 đạt 1,8%, chậm hơn so với bước tăng 3,1% trong quý 4/2010.

Trong khi đó, theo báo cáo của Bộ Lao động Mỹ, số người nộp đơn xin trợ cấp thất nghiệp lần đầu trong tuần trước bất ngờ tăng lên mức cao nhất trong 3 tháng qua.

Phiên 28/4, chỉ số đồng USD, thước đo giá trị đồng bạc xanh so với rổ 6 loại tiền tệ chủ chốt khác, giảm xuống 73,114 điểm, từ mức 73,284 điểm trong phiên giao dịch liền trước. Và khi đồng USD suy yếu, nhà đầu tư tiếp tục coi vàng là kênh trú ẩn an toàn.

Diễn biến cùng chiều với thị trường vàng, giá bạc hợp đồng tháng 5 cũng tăng mạnh 1,56 USD, tương ứng 3,4%, lên 47,52 USD/ounce. Mức giá cao nhất trong ngày của bạc kỳ hạn này là 49,52 USD/ounce, cách mốc cao nhất mọi thời đại xác lập hồi tháng 1/1980 chưa tới 1 USD.

Các kim loại khác cũng tăng giá khá mạnh trong phiên 28/4. Bạch kim giao tháng 7 tăng 20,7 USD, tương ứng 1,1%, lên 1.839,9 USD/ounce. Palladium giao tháng 6 tăng 17,2 USD, lên 775,3 USD/ounce. Giá đồng giao tháng 7 nhích 1 xu Mỹ lên 4,26 USD/lb.

Tương tự, giá “vàng đen” hợp đồng cũng vọt lên mức cao nhất kể từ tháng 9/2008. Cụ thể, dầu thô ngọt, nhẹ giao tháng 6 tăng 10 xu Mỹ, tương ứng 0,1%, lên 112,86 USD/thùng trên sàn New York. Mức cao nhất trong ngày của dầu kỳ hạn này là 113,97 USD/thùng.

Trên thị trường tiền tệ, tỷ giá USD liên ngân hàng do Ngân hàng Nhà nước công bố sáng 29/4 tăng 5 đồng, lên 20.698 đồng/USD. Đây là lần đầu tiên, tỷ giá USD bình quân liên ngân hàng tăng kể từ đầu tuần tới nay. Tỷ giá trần tại các ngân hàng thương mại là 20.905 đồng/USD.

MB lên kế hoạch tăng vốn “quá nóng”?

Mức tăng vốn điều lệ dự kiến 37% của Ngân hàng Thương mại Cổ phần Quân đội (MB) được cổ đông cho là “quá nóng”…

Đại hội cổ đông thường niên năm 2011 của MB đã thông qua việc bầu Trung tướng Lê Hữu Đức, Ủy viên Trung ương Đảng, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng làm Chủ tịch Hội đồng Quản trị.

Mức tăng vốn điều lệ dự kiến 37% của Ngân hàng Thương mại Cổ phần Quân đội (MB) được cổ đông cho là “quá nóng”. Tuy nhiên, quan điểm của lãnh đạo ngân hàng này lại xem là một bước đi hợp lý.

Ngày 28/4, MB tổ chức đại hội cổ đông thường niên năm 2011. Về cơ bản, đại hội nhất trí cao các nội dung đưa ra, đặc biệt là về các chỉ tiêu kinh doanh trong năm nay. Tuy nhiên, điểm mà nhiều cổ đông quan tâm là phương án tăng vốn điều lệ.

Cụ thể, ngân hàng này sẽ tăng vốn điều lệ từ mức 7.300 tỷ đồng lên 10.000 tỷ đồng (tăng 37%) qua hai đợt. Đợt 1, chào bán 170 triệu cổ phiếu cho cổ đông hiện hữu và cán bộ nhân viên với giá 10.000 đồng/cổ phiếu; đợt 2, chào bán 100 triệu cổ phiếu cho đối tác chiến lược, đối tác tiềm năng theo giá thỏa thuận và do Hội đồng Quản trị quyết định.

Về phương án trên, tại đại hội cổ đông, một số ý kiến chất vấn cho rằng bước tăng vốn như vậy là “quá nóng” và đề nghị Hội đồng Quản trị cân nhắc. Lý do là việc tăng vốn một bước mạnh như vậy cần tính toán đến khả năng đáp ứng của các cổ đông. Đề xuất ý kiến trên đưa ra là chỉ nên tăng ở 15%, bằng với mức cổ tức mà MB dự kiến trả bằng tiền mặt; hoặc một ý kiến khác đề nghị xem xét một phương án tăng vốn mà cổ đông không phải nộp thêm tiền trực tiếp.

Thực tế, trao đổi với phóng viên trước thềm đại hội này, lãnh đạo MB cũng đã đề cập đến vấn đề này. “Việc tăng vốn điều lệ trong bối cảnh hiện nay được chúng tôi tính toán thận trọng. Bởi lẽ các cổ đông, đặc biệt các tổ chức, cũng đang có những khó khăn trong kế hoạch tài chính hoặc đang phải đáp ứng yêu cầu tài chính của họ”, đại diện MB cho biết.

Tuy nhiên, kế hoạch tăng vốn nói trên được giải thích là cần thực hiện nhằm đảm bảo năng lực tài chính, mở rộng quy mô trong bối cảnh cạnh tranh trong lĩnh vực ngân hàng ngày một lớn. Mức vốn mới cũng là yêu cầu để bổ sung cho hoạt động đầu tư, góp vốn mua cổ phần và cấp bổ sung cho công ty con, đặc biệt là khi các rào cản pháp lý ngày một nâng cao. Và tăng vốn cũng nhằm tăng cường năng lực tài chính để đảm bảo các yêu cầu an toàn trong hoạt động theo các tiêu chuẩn mới; để tăng cường đầu tư công nghệ, phát triển sản phẩm mới…

Lãnh đạo MB cũng nhận định rằng, mức vốn mới sẽ tạo áp lực trong việc giữ ổn định, thậm chí nâng cao chất lượng các chỉ số tài chính trong hoạt động, cụ thể hơn là khả năng sử dụng vốn hiệu quả và thể hiện ở tỷ suất lợi nhuận. Theo đó, năm 2011, các chỉ tiêu hoạt động mà ngân hàng này đề ra khá cao.

Năm 2011, MB đặt mục tiêu tăng trưởng các chỉ tiêu kinh tế từ 14% – 37% so với năm 2010. Trong đó, tổng tài sản riêng ngân hàng đạt 147.000 tỷ đồng (tăng 36%), lợi nhuận trước thuế đạt 2.915 tỷ đồng (tăng 24%). Các chỉ số tài chính cơ bản như ROE, ROA tiếp tục ở nhóm dẫn đầu trong hệ thống các ngân hàng.

Bên cạnh mức tăng vốn, tại đại hội trên, vấn đề giá cổ phiếu phát hành cho đối tác chiến lược, đối tác tiềm năng cũng được các cổ đông quan tâm, liên quan đến lợi ích của họ. Thậm chí có đề xuất mức giá phát hành tối thiểu là 15.000 đồng/cổ phiếu.

Về vấn đề này, Phó chủ tịch thường trực Lê Văn Bé cho biết, năm 2009, MB đã bán cho cổ đông chiến lược giá 12.000 đồng/cổ phiếu, thấp hơn giá trị trường lúc đó (13.500 đồng); riêng cổ đông chiến luợc Viettel được mua giá 10.000 đồng.

Còn về mức giá dự kiến chào bán cho cổ đông chiến lược sắp tới, ông Trương Quang Khánh, Chủ tịch Hội đồng Quản trị MB, cho biết sẽ được cân nhắc, thực hiện sau khi niêm yết cổ phiếu trên sàn. Từ mức giá giao dịch trên sàn, ban lãnh đạo sẽ cân nhắc tỷ lệ thích hợp chiết khấu để có giá bán cho cổ đông chiến lược, đảm bảo lợi ích của ngân hàng và các cổ đông.

Như vậy có thể xác định, MB sẽ thực hiện niêm yết cổ phiếu (tại Sở Giao dịch Chứng khoán Tp.HCM – HSX) trước khi tiến hành chào bán cho cổ đông chiến lược và đối tác tiềm năng trong kế hoạch tăng vốn đợt 2.

Cùng với những nội dung trên, đại hội cổ đông thường niên năm 2011 của MB cũng đã thông qua việc bầu Trung tướng Lê Hữu Đức, Ủy viên Trung ương Đảng, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng làm Chủ tịch Hội đồng Quản trị.

“Gốc của lạm phát tại Việt Nam là chính sách tài khóa”

Góc nhìn của TS. Nguyễn Đình Cung về nguyên nhân lạm phát và hiệu lực chính sách…

Ông Nguyễn Đình Cung – Ảnh: Anh Quân.

“Quan điểm của tôi lâu nay, lạm phát có nhiều nguyên nhân nhưng gốc của lạm phát ở Việt Nam vẫn là chính sách tài khóa, do mình mở rộng chi tiêu như thế, mở rộng đầu tư như vậy và đầu tư kém hiệu quả”, Phó viện trưởng Viện Nghiên cứu và Quản lý kinh tế Trung ương Nguyễn Đình Cung nói với VnEconomy.

Việc chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 4/2011 được công bố với mức tăng 3,32%, cao nhất trong gần 3 năm qua, đã tạo nên những nghi vấn về hiệu lực chính sách kiểm soát lạm phát đang thực thi hiện nay. TS. Nguyễn Đình Cung đã có những lý giải khá mới mẻ.

Ông cho rằng:

– Doanh nghiệp nhà nước gần như hoạt động đầu tư đều dựa vào tín dụng mà chính sách tiền tệ của ta thật ra không hoàn toàn độc lập như ở các nước, vẫn là phục vụ cho tăng trưởng, phục vụ tài khóa nhiều. Cho nên, nếu thắt được tài khóa thì mới thắt được tín dụng.

Quan điểm của tôi lâu này là thâm hụt ngân sách, đầu tư của doanh nghiệp nhà nước mới là cái gốc, cái quan trọng nhất, nếu như chưa thắt chặt được cái đó thì cung cầu tín dụng căng thẳng do nhu cầu vốn vẫn lớn, nhiều khi tín dụng vẫn mở, tiền vẫn tung ra và lãi suất vẫn tăng, đương nhiên là lạm phát cao.

Nếu thắt chặt tài khóa thì cung tín dụng mới có thể giảm xuống. Nhưng mấy năm vừa rồi, tài khóa mở rộng và tiền tệ cũng mở rộng. Mà tại sao mở rộng? Là bởi vì mô hình tăng trưởng của ta quá nhấn mạnh vào số lượng đầu tư, coi đó như là một động lực của tăng trưởng.

Tiền tệ mở rộng, tổng phương tiện thanh toán M2 hiện đã khoảng 130% GDP. Tiền nhiều hơn hàng thì gây nên lạm phát.

Chính sách tiền tệ không được độc lập

Nhưng quan điểm chống lạm phát hiện nay là phải song hành cả tài khóa và tiền tệ, thưa ông?

Nói đến tài khóa và tiền tệ, theo tôi tiền tệ tác động đến toàn bộ nền kinh tế, tài khóa về căn bản chỉ tác động đến khu vực nhà nước. Nói đến khu vực nhà nước là chủ đạo, là rất quan trọng thì trong mọi trường hợp anh phải đi đầu, đặc biệt là trong chống lạm phát, phải cắt giảm chi tiêu.

Vì tôi cho rằng cái căn bản của lạm phát Việt Nam vẫn là tài khóa, giả sử cắt được tài khóa nhiều thì cung tiền có thể mở rộng thêm để chuyển tín dụng sang khu vực khác. Còn nếu chưa cắt được khu vực nhà nước thì bằng cách này hay cách khác, tín dụng nó vẫn tìm về với khu vực nhà nước.

Nếu như vậy, chỉ tiêu tín dụng vẫn tăng 5% trong quý 1/2011, song hành cùng đầu tư từ ngân sách vẫn cao cũng củng cố thêm quan điểm của ông về chính sách tiền tệ chưa độc lập?

Lâu nay, chính sách tiền tệ đã không được độc lập rồi. Chính sách tiền tệ của mình vẫn là phục vụ cho tăng trưởng, cho mục tiêu của Chính phủ chứ không hoàn toàn là chính sách tiền tệ độc lập như nước khác.

Chính sách tiền tệ độc lập phải là chính sách có một mục tiêu duy nhất là ổn định giá trị đồng tiền. Chống lạm phát chỉ là ở thời điểm lạm phát thì nó ưu tiên, còn dài hạn thì là mục tiêu duy nhất như tôi đã nói. Ta thì hơi nhiều mục tiêu.

Nói đến chính sách tiền tệ phục vụ tài khóa, ông bình luận thế nào về con số bội chi ngân sách 2,6% trong quý 1/2011, được Bộ Tài chính công bố?

So với cùng kỳ năm trước thì so sánh cũng không phải tỷ lệ thấp nhiều (quý 1/2010 bằng khoảng 3% GDP – PV). Nhưng quan trọng hơn là bội chi ngân sách năm nay vẫn dự kiến khoảng 5%, không giảm nhiều so với nhiều năm trước.

Khó hy vọng cắt giảm đầu tư

Những thông tin công bố chính thức thì với tài khóa thắt chặt, vốn trái phiếu Chính phủ không cho kéo dài giải ngân, không cho điều chuyển vốn từ 2012 sang sẽ cắt giảm được trên 50 nghìn tỷ đồng đầu tư năm nay. Ông bình luận gì?

Tôi cũng nghe nhiều về con số này nhưng chưa hiểu đằng sau nó là cái gì. Bây giờ thế này, cứ giả sử vốn năm ngoái kế hoạch là 100 tỷ đồng, giải ngân mới được 70 tỷ đồng thì còn 30 tỷ đồng chuyển sang năm nay. Nếu không cho kéo dài thì địa phương sẽ phải lấy nguồn vốn khác để giải ngân cho năm nay.

Thế thì, việc đầu tư đó vẫn thực hiện, tôi không thấy sự cắt ở đâu cả. Chỉ có khác là vốn ấy lấy từ nguồn khác. Vậy nguồn khác lấy từ đâu?

Còn vốn ứng của năm sau, ví dụ năm 2012 mới có mà năm nay đã chi tiêu rồi. Tôi cũng không hiểu, vì sao lại có thể có một kế hoạch ngân sách lấy của năm sau chi cho năm nay. Nếu như sang năm 2012 chi không đủ thì lại lấy 2013 chi tiếp, tức là lấy kế hoạch đầu tư của tương lai, của thế hệ sau chi cho hôm nay?

Cuối cùng, bản chất vẫn là đi vay để phục vụ cho đầu tư của năm nay, và bội chi ngân sách còn cao hơn nữa. Như thế thì nhu cầu vốn cao hơn và không có cách nào khác tiền tệ phải phục vụ cho chi tiêu ngân sách.

Về các khoản thay thế cho vốn không được kéo dài giải ngân, ở địa phương có một số khoản thu không phải chuyển về trung ương như thu từ xổ số, thu tiền sử dụng đất, phí môi trường… Nếu địa phương tăng nguồn thu này lên thì thế nào?

Bây giờ giả sử họ lấy nguồn khác mà không phải vốn nhà nước cấp cho năm nay, ví dụ bán đất đai, huy động nguồn thu từ xổ số…, thì tổng đầu tư sẽ không giảm. Mình cắt đi để hy vọng giảm tổng đầu tư, nhưng như thế này thì có thể không giảm được.

Đúng như ông nói, trong hai báo cáo cắt giảm đầu tư của Bộ Kế hoạch và Đầu tư thực hiện sau Nghị quyết 11, các địa phương có vẻ như rất khó cắt. Vấn đề đằng sau nó là gì?

Cái đó thì hiểu được. Bởi vì, nếu nói là cắt giảm các dự án không cần thiết, không hiệu quả thì chẳng ai, trên thực tế, thừa nhận dự án này không hiểu quả, dự án kia không cần thiết.

Bởi vì, một dự án được thông qua thì phải qua một quy trình đề xuất dự án, xây dựng dự án, thẩm định dự án và rất nhiều người tham gia vào đó. Không thể nói lại là không hiệu quả, không cần thiết. Vì như thế thì chẳng hóa ra từ xưa đến giờ vẫn có những nơi, nhưng chỗ đầu tư vào dự án không hiệu quả?

Trên thực tế, người ta vẫn nhìn thấy dự án không hiệu quả. Nhưng nếu xét về mặt quy trình như thế khó có thể bác được người ta.

Và cũng không thể tự mình lại soi xét vào những việc lâu nay mình vẫn làm như kiểu ủy ban nhân dân tỉnh nhìn lại những việc mình đã làm, đã đầu tư như thế… Đó là mới nói những việc rất khách quan, chưa nói lợi ích đan xen gì cả.

Cho nên, khó có thể đưa ra cắt giảm theo những tiêu chí chung chung và tự đơn vị rà soát cắt giảm thì khó có thể thực hiện được. Trong bối cảnh hiện nay thì phải có tiêu chí rõ ràng, loại nào cắt thì dứt khoát phải cắt và phải có cơ quan bên ngoài thực hiện.

Nếu nói theo quy trình thì dự án nào cũng quan trọng cả thì khi rà soát có xảy ra tình trạng xin cho không?

Nếu đúng là như thế thì “ông” nào vào danh sách cắt giảm bây giờ? Thì có thể là những dự án của những chủ đầu tư yếu thế hơn, khả năng vận động ít hơn so với chủ đầu tư khác chẳng hạn, thì khả năng bị cắt giảm nhiều hơn.

Theo tôi, với cách cắt giảm tự rà soát, tự đánh giá với những tiêu chí như thế, không đơn giản. Cho đến nay, kết quả chúng ta nhìn thấy vẫn chưa đạt được như mong muốn.

Cần tín hiệu chính sách rõ ràng hơn

Với những kết quả thắt chặt của chính sách tài khóa như vừa được công bố, theo ông còn có độ trễ nào nữa không để cắt giảm đầu tư tác động đến lạm phát?

Chính sách tài khóa tác động đến lạm phát thì không ai biết là độ trễ bao nhiêu nhưng với chính sách tiền tệ, theo dõi quá trình thì độ trễ khoảng 4-5 tháng. Tài khóa thì không biết là bởi vì chưa thấy cắt giảm bao giờ…

Thế trường hợp năm 2008, lạm phát 3 tháng cuối năm âm…

Âm vào thời điểm đó có nhiều yếu tố, một mặt mình thắt chặt chính sách từ đầu năm, một mặt còn do khủng hoảng từ bên ngoài tác động đến.

Năm nào bội chi cũng vẫn lớn và với tài khóa, chi thường xuyên vẫn đều đều như thế, chi đầu tư đầu năm nhỏ, cuối năm mở ra thì vẫn chi như vậy và thậm chí mở rộng hơn. Năm nay bội chi vẫn 5% thì chưa khác nhiều với trước.

Phải có một cái gì thật là đột biến thì lúc đó mới biết được chính sách tài khóa tác động sau bao nhiêu tháng. Chứ nếu như điều chỉnh tỷ giá, điều chỉnh giá điện, xăng dầu thì gần như tác động ngay tức thời và tác động nhiều vòng.

Nhân đây cũng có ý kiến cho rằng, các chính sách kiểm soát lạm phát được ban hành vừa qua dường như mới nhìn vào phía kiểm soát tổng cầu, chưa có giải pháp giảm chi phí đẩy, thưa ông?

4 tháng đầu năm nay, cầu kéo và chi phí đẩy đều có tác động. Cầu kéo thì liên quan đến chính sách tiền tệ phải 4-5 tháng sau mới có tác động rõ ràng, nhưng chi phí đẩy thì tác động ngay lập tức, cho nên nó đưa lạm phát lên, mà lại thực hiện điều chỉnh dồn dập nhiều thứ một lúc. Cho nên, 4 tháng đầu năm nay, phần lớn tác động là chi phí đẩy.

Để tăng kỳ vọng lạm phát đến quý 3 năm nay sẽ giảm, theo tôi tín hiệu chính sách kiềm chế lạm phát phải rõ ràng hơn. Hiện nay mà nói, tôi cho rằng về mặt tín hiệu chính sách thì tiền tệ nhìn rõ ràng hơn là tài khóa.

Sữa tăng giá: “Thủ phạm” nằm ở khâu phân phối?

Nhiều hãng sữa khẳng định chưa có kế hoạch tăng giá bán, tuy nhiên, tại các đại lý giá sữa lại cao hơn trước…

Việc kiểm soát hành chính như đăng ký giá, kê khai giá với hàng trăm, hàng ngàn sản phẩm sữa là rất khó khăn.

Bộ Tài chính cho biết từ đầu tháng 4 đến nay, chưa nhận được hồ sơ xin đăng ký tăng giá bán của doanh nghiệp sữa nào thuộc diện phải đăng ký giá theo quy định. Nhiều hãng sữa cũng khẳng định chưa có kế hoạch tăng giá bán các sản phẩm trong giai đoạn hiện nay. Tuy nhiên, tại các đại lý, người tiêu dùng vẫn phải mua sữa với mức giá cao hơn trước.

Qua khảo sát tại một số đại lý bán sữa tại Hà Nội, giá bán rất nhiều sản phẩm sữa của các hãng Abbott, Enfagrow và X.O, Nestle tăng khoảng 5-7%, tùy địa điểm. Trước đó, từ đầu tháng 4, các đại lý đã từng có đợt tăng giá nhiều sản phẩm sữa.

Trong khi đó, đại diện các hãng sữa cho biết gần đây, không hề có đợt tăng giá bán sản phẩm sữa bột dành cho trẻ em dưới 6 tuổi. Ông Vũ Gia Khuyến, Giám đốc đối ngoại của Công ty 3A, đơn vị nhập khẩu và phân phối các sản phẩm sữa của hãng Abott cho biết công ty chưa hề đăng ký tăng giá bán sữa.

Ông Vũ Quốc Tuấn, Giám đốc đối ngoại của Công ty Nestle Việt Nam cho biết công ty chỉ tăng giá sản phẩm sữa Lactogen một lần duy nhất trong tháng 3 và sản phẩm sữa Nan cũng chỉ tăng một lần.

Từ đầu tháng 4, một số đại lý cũng đã tăng giá bán một số sản phẩm của Vinamilk với mức tăng khoảng 5%, tuy nhiên, ông Đỗ Thanh Tuấn, Giám đốc đối ngoại của Vinamilk khẳng định công ty hoàn toàn không có đợt tăng giá đó.

Ông Nguyễn Anh Tuấn, Phó Cục trưởng, Cục Quản lý giá, Bộ Tài chính cho biết từ sau đợt tăng giá sữa tháng 3 đầu năm, cơ quan này vẫn chưa nhận đựơc đăng ký tăng giá bán mới của bất kỳ doanh nghiệp nào. Trong khi đó, việc quản lý giá bán sữa của các đại lý thuộc thẩm quyền của Sở Tài chính địa phương.

Khi giá bán của các hãng sữa không tăng, giá bán tại các đại lý lại lên bậc mới, nhiều ý kiến cho rằng “thủ phạm” chính là do khâu phân phối các sản phẩm. Bên cạnh đó, việc “mua đứt bán đoạn” giữa hãng sữa với các đại lý dẫn đến tình trạng các hãng sữa không kiểm soát đựơc giá bán sữa tại các đại lý.

Theo phân tích của ông Vũ Vinh Phú, Chủ tịch Hiệp hội siêu thị Hà Nội, tại Việt Nam hiện nay, rất nhiều nhà nhập khẩu sữa là tư nhân, chiếm 20-30% thị phần. Do đó, việc kiểm soát hành chính như đăng ký giá, kê khai giá với hàng trăm, hàng ngàn sản phẩm sữa là rất khó khăn. Mặt khác, các cơ quan chức năng vẫn chưa nắm được giá gốc của các sản phẩm sữa nhập khẩu.

Vị Chủ tịch Hiệp hội siêu thị Hà Nội cho rằng: “Để quản lý giá cả, nếu chỉ dùng biện pháp hành chính là thất bại, nếu có, chỉ nên dùng tối đa 10% thôi, còn chủ yếu là dùng biện pháp kinh tế”.

Giải pháp được đưa ra dựa trên nguyên tắc “lấy hàng hóa áp đảo hàng hóa, lấy giá cả áp đảo giá cả”. Hiệp hội kiến nghị phải yêu cầu các tổng công ty thương mại nhà nước nhập khẩu sữa. “Với mạng lưới hàng ngàn đại lý thì sẽ đảm bảo giá sữa không bị các nhà nhập khẩu tư nhân làm mưa làm gió trên thị trường. Với giá bán thấp hơn của các nhà nhập khẩu tư nhân 5-10% thì chắc chắn giá sữa lập tức sẽ xuống ngay”, ông Phú nói.

Một điểm đáng chú ý khác trong chuỗi phân phối hiện nay là cơ quan chức năng dường như đang thiếu thông tin về giá. Các mặt hàng thiết yếu thuộc danh mục kiểm soát giá như sắt thép, dầu ăn, sữa bột, đường hầu như đều thực hiện theo kiểu mua đứt bán đoạn.

Trong khi đó, Quyết định 27/2007 của Thủ tướng Chính phủ về tổ chức thị trường trong nước đề cập hướng chủ yếu để các doanh nghiệp thiết lập và phát triển mô hình tổ chức lưu thông các ngành hàng. Theo đó, cần củng cố hệ thống phân phối được hình thành trên cơ sở xác lập mối liên kết dọc, có quan hệ gắn kết chặt chẽ, ổn định và ràng buộc trách nhiệm trên từng công đoạn của quá trình lưu thông từ sản xuất, xuất nhập khẩu đến bán buôn và bán lẻ thông qua quan hệ trực tuyến hoặc quan hệ đại lý mua bán.

Doanh nghiệp đầu nguồn (sản xuất, nhập khẩu) phải kiểm soát và chịu trách nhiệm (hoặc liên đới chịu trách nhiệm) với toàn bộ hệ thống, từ chi phí, giá cả, nguồn gốc, số lượng, chất lượng và nhãn hiệu hàng hoá đến phương thức và chất lượng phục vụ.

Bộ Công Thương bác tin đồn tăng giá xăng

Thời điểm này, cơ quan chức năng vẫn chưa có chủ trương về điều chỉnh giá bán lẻ xăng dầu…

Thông tin sắp tăng giá xăng dầu đã khiến không ít người dân lo lắng.

Trước nhiều tin đồn giá xăng sắp được điều chỉnh tăng lên 24.000 đồng/lít, Bộ Công thương đã chính thức có văn bản bác bỏ.

Văn bản số 3741/BCT-TTTN vừa được Bộ Công Thương gửi các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, các thương nhân đầu mối kinh doanh xăng dầu nêu rõ, thời gian gần đây liên tục xuất hiện các tin đồn thất thiệt về điều chỉnh giá bán lẻ xăng dầu gây ảnh hưởng xấu tới tâm lý xã hội, tới hoạt động sản xuất kinh doanh và tiêu dùng. Lợi dụng tin đồn thất thiệt này, một số cửa hàng bán lẻ đã đóng cửa, giảm thời gian bán hàng nhằm đầu cơ trục lợi.

Bộ Công Thương khẳng định, cho đến thời điểm này, chưa có chủ trương về điều chỉnh giá bán lẻ xăng dầu.

Theo đó, Bộ Công Thương yêu cầu các thương nhân đầu mối xăng dầu thực hiện nghiêm chỉnh hoạt động kinh doanh xăng dầu theo đúng quy định tại Nghị định 84/2009/NĐ-CP; chấn chỉnh hoạt động kinh doanh xăng dầu thuộc hệ thống phân phối của mình (bao gồm cả hệ thống tổng đại lý, đại lý); bảo đảm cửa hàng bán lẻ xăng dầu thuộc hệ thống phân phối của mình bán hàng đủ thời gian, đáp ứng đủ nhu cầu sử dụng cả về số lượng và chủng loại.

Đồng thời phải bảo đảm cung cấp đủ, kịp thời số lượng, chủng loại xăng dầu cho thị trường, ổn định mức dự trữ lưu thông xăng dầu tối thiểu cả về lượng và cơ cấu chủng loại, theo kế hoạch tiêu thụ đã được xác định hàng năm của thương nhân. Các thương nhân cũng được yêu cầu tổng hợp số liệu từng chủng loại xăng dầu xuất bán cho địa bàn từng tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương; định kỳ hàng tháng báo cáo số liệu này về Bộ Công Thương và sở công thương tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương để điều hành hoạt động kinh doanh xăng dầu.

Đối với sở công thương các tỉnh, thành phố cần chỉ đạo các tổng đại lý, đại lý bán lẻ xăng dầu trên địa bàn phải mở cửa bán hàng đủ thời gian, đáp ứng đủ nhu cầu sản xuất, tiêu dùng tại địa phương. Chỉ đạo chi cục quản lý thị trường chủ trì, phối hợp với các ngành chức năng liên quan tại địa phương kiểm tra, kiểm soát thị trường nhằm phát hiện các hành vi vi phạm về giá, đo lường, chất lượng, đầu cơ, găm hàng, buôn lậu và các hành vi gian lận thương mại khác; trường hợp phát hiện vi phạm, yêu cầu xử lý nghiêm, theo quy định của pháp luật hiện hành.

Trước đó, ông Nguyễn Tiến Thỏa, Cục trưởng Cục Quản lý Giá (Bộ Tài chính) cũng khẳng định tuy giá xăng dầu thế giới biến động là có thật nhưng cơ quan quản lý chưa có bất cứ phương án điều chỉnh giá nào.

Từ 4/5: HNX áp dụng giá tham chiếu, biên độ mới với cổ phiếu chào sàn

HNX sửa đổi quy định về biên độ dao động giá và giá tham chiếu đối với cổ phiếu niêm yết mới và cổ phiếu được giao dịch trở lại…

Sở Giao dịch Chứng khoán Hà Nội

Ngày 25/4/2011, Tổng Giám đốc Sở Giao dịch Chứng khoán Hà Nội đã ký Quyết định số 177/QĐ-SGDHN về việc sửa đổi Quy chế Giao dịch chứng khoán tại HNX. Quyết định này có hiệu lực từ ngày 4/5/2011.

Theo đó, HNX sửa đổi quy định về biên độ dao động giá và giá tham chiếu đối với cổ phiếu niêm yết mới và cổ phiếu giao dịch trở lại sau khi bị tạm ngừng giao dịch trên 25 phiên, cụ thể:

– Sửa đổi điều 14 về biên độ dao động giá: Biên độ dao động giá trong ngày giao dịch đầu tiên của cổ phiếu niêm yết mới và ngày giao dịch trở lại của cổ phiếu bị tạm ngừng giao dịch trên 25 phiên là ±30% so với giá tham chiếu.

– Sửa đổi điều 15 về giá tham chiếu: Giá tham chiếu trong ngày giao dịch đầu tiên của cổ phiếu niêm yết mới sẽ do tổ chức niêm yết và tổ chức tư vấn niêm yết (nếu có) đề xuất và được HNX chấp thuận. Nếu trong 3 ngày giao dịch liên tục kể từ ngày giao dịch đầu tiên chưa xác định được mức giá bình quân gia quyền để sử dụng làm giá tham chiếu cho ngày giao dịch kế tiếp, tổ chức niêm yết và tổ chức tư vấn niêm yết (nếu có) sẽ phải xác định lại giá tham chiếu.

– Trường hợp chứng khoán bị tạm ngừng giao dịch trên 25 phiên, khi được giao dịch trở lại, giá tham chiếu do HNX quyết định sau khi được Ủy ban Chứng khoán Nhà nước chấp thuận.

Ngoài ra, Quy chế giao dịch trên còn bổ sung quy định một số trường hợp ngoại trừ, HNX không thực hiện điều chỉnh giá tham chiếu trong ngày giao dịch không hưởng quyền đối với các trường hợp: Doanh nghiệp phát hành trái phiếu chuyển đổi; và Doanh nghiệp phát hành thêm cổ phiếu với giá phát hành cao hơn giá bình quân của ngày giao dịch liền trước ngày không hưởng quyền.

Trước đó, HNX cũng đã áp dụng quy định mới về giá tham chiếu và biên độ giao động giá đối với cổ phiếu đăng ký giao dịch mới trên thị trường UPCoM.

Trong đó, biên độ dao động giá trong ngày giao dịch đầu tiên của cổ phiếu mới đăng ký giao dịch là ±40% so với giá tham chiếu. Giá tham chiếu trong ngày giao dịch đầu tiên của cổ phiếu mới đăng ký giao dịch do tổ chức đăng ký giao dịch đề xuất và được HNX phê duyệt. Trường hợp cổ phiếu đăng ký giao dịch không có giao dịch trên 25 phiên liên tiếp, trong ngày giao dịch trở lại, giá tham chiếu là giá của ngày có giao dịch gần nhất.