“Lạm phát năm nay chỉ vào khoảng 9%”

Phó chủ tịch Ủy ban Giám sát tài chính Quốc gia đánh giá mức độ tác động của các yếu tố tiền tệ và giá cả đến lạm phát…

Ông Lê Xuân Nghĩa.

“Lạm phát năm nay chỉ vào khoảng 9%”, Phó chủ tịch Ủy bán giám sát Tài chính quốc gia Lê Xuân Nghĩa đưa ra dự báo này tại một hội thảo về tình hình kinh tế vĩ mô và chính sách tiền tệ, tổ chức tại Hà Nội ngày 25/2.

Theo những tính toán của ông Nghĩa, việc điều chỉnh tỷ giá VND/USD vừa qua có thể khiến chỉ số giá tiêu dùng (CPI) năm nay tăng lên khoảng 1,1%; điều chỉnh giá xăng dầu (xăng A92 tăng 2.900 đồng/lít) có thể làm cho CPI tăng khoảng 0,54%; tăng giá điện đẩy CPI tăng thêm 0,71%. Công lại, là 2,5% cho cả năm.

Ông cũng lưu ý đến yếu tố lương thực thực phẩm, nhóm có quyền số cao trong rổ hàng hóa tính CPI. Theo ông, giá lương thực thực phẩm đã tăng 6 tháng liên tục ở mức rất cao, đặc biệt là tăng có tính mùa vụ cộng hưởng với ảnh hưởng của thiên tại. Tuy nhiên, hiện nay giá nhiều mặt hàng lương thực, thực phẩm đang có chiều hướng giảm.

“Chúng tôi dự báo rằng, tới tháng 3 thì giá lương thực thực phẩm sẽ giảm”, ông Nghĩa nói.

Theo tính toán của ông Nghĩa, trong năm 2011 giá lương thực thực phẩm có khả năng giảm hoặc tăng với biên độ hẹp, có thể giúp cho CPI giảm từ 2,5-3%. “Như vậy, nó bù được vào tăng giá của giá điện và xăng dầu”, ông dự báo.

Liên quan đến các chính sách vĩ mô, ông Nghĩa cho rằng lạm phát năm nay sẽ phụ thuộc rất lớn vào cung tiền.

Tại Nghị quyết 11 vừa ban hành, Chính phủ đã thể hiện quyết tâm rất lớn với nhiều chỉ tiêu chính của chính sách tiền tệ, tài khóa đã được điều chỉnh. Đáng lưu ý là tốc độ tăng trưởng tín dụng từ mức khoảng 30% của năm ngoái đã được điều chỉnh xuống 20% trong năm nay; tổng phương tiện thanh toán về mức 15-16%; bội chi ngân sách hạ dưới 5%.

“Như vậy là giảm tổng cầu rất mạnh mẽ, cũng làm cho lạm phát giảm khá mạnh”, ông Nghĩa nhìn nhận. Cộng cả 3 yếu tố là tăng giá đầu vào, giảm giá lương thực thực phẩm, giảm cung tiền, ông Nghĩa dự báo: “Lạm phát năm nay chỉ vào khoảng 9%”.

“Dự kiến quý 1/2011, CPI có thể ở mức 4,4-4,5%, thông thường quý này thường chiếm một nửa cả năm, thì lạm phát năm nay sẽ dưới 10% chứ không trên được”, Phó chủ tịch Ủy ban Giám sát tài chính Quốc gia khẳng định.

Tuy nhiên, ông Nghĩa cũng lưu ý rằng lạm phát chịu tác động của yếu tố tâm lý, nếu điều hành theo hình thức thặt chặt rồi lại nới lỏng thì tình hình có thể sẽ khác. “Đè bẹp tâm lý thì chính sách phải kiên trì. Cho nên năm nay Chính phủ cũng phải kiên trì chính sách thắt chặt”, ông khuyến nghị.

Cũng theo vị chuyên gia này, nếu tình hình lạm phát từ quý 3/2011 trở đi giảm đáng kể thì mới có cơ hội giảm lãi suất. Nhưng ông cũng cho rằng, một thuận lợi khác cho việc giảm lãi suất là năm nay Chính phủ chủ trương giảm mạnh đầu tư công.

Năm ngoái, lượng trái phiếu Chính phủ lên tới 100 nghìn tỷ nhưng năm nay có thể giảm còn một nửa. Như vậy, vốn điều tiết từ khu vực công được điều tiết rất là mạnh.

Trong khi đó, cũng trong năm ngoái cung tiền rất mạnh và dồn vào khu vực công nhiều, ngoài ra cũng có vấn đề đảo nợ từ gói kích thích kinh tế khá lớn… nhưng năm nay các khoản này cũng giảm nên có cơ hội để giảm lãi suất cuối năm, ông phân tích.

Liên quan đến thị trường ngoại hối, ông Nghĩa cho biết tổng thu về ngoại tệ trừ đi tổng chi ngoại tệ thì năm nào Việt Nam cũng tăng dương, tức là ngoại tệ vào nhiều hơn ngoại tệ đi ra. Giải thích về tình hình khan hiếm ngoại tệ vừa qua, ông Nghĩa cho rằng nguyên nhân là do nhập khẩu vàng lớn, găm giữ ngoại tệ “khủng khiếp”…

“Chúng ta không thiếu ngoại tệ nhưng dân chúng không đủ lòng tin để bán ngoại tệ ra ngoài thị trường, cộng với tình trạng Đô la hoá ngày càng nặng nề và lòng tin của người dân càng ngày càng giảm sút gây ra tình trạng như hiện nay. Hiện chúng tôi đang đề ra một đề án trình Chính phủ chống tình trạng Đô la hoá”, ông nói.

Giá vàng, USD tiếp tục hạ nhiệt

Giá vàng trong nước sáng nay ổn định quanh ngưỡng 37,7 triệu đồng/lượng, giá USD tự do giảm dưới 22.000 đồng…

Thị trường vàng đã trở nên trầm lắng cả về giá và giao dịch kể từ sau khi Chính phủ tuyên bố chủ trương sẽ cấm kinh doanh vàng miếng trên thị trường tự do.

Giá vàng trong nước sáng nay ổn định quanh ngưỡng 37,7 triệu đồng/lượng của cuối tuần trước, dù giá vàng thế giới diễn biến theo chiều hướng tăng. Giá USD thị trường tự do đi xuống và hiện không giữ được mốc 22.000 đồng.

Lúc hơn 9h sáng nay, vàng miếng SBJ được Công ty Sacombank-SBJ thu mua ở mức giá 37,61 triệu đồng/lượng bán ra ở mức 37,69 triệu đồng/lượng.

Vàng thuộc các thương hiệu khác cũng có mức giá phổ biến trên 37,1 triệu đồng/lượng (mua vào) và 37 triệu đồng/lượng (bán ra). Từ cuối tuần trước tới sáng nay, giá vàng đã giữ ở ngưỡng này. Khoảng cách chênh lệch giữa giá mua và bán vàng cũng được các doanh nghiệp co hẹp.

Công ty Vàng bạc đá quý Sài Gòn (SJC) khi mở cửa đã nâng giá vàng áp dụng cho thị trường Tp.HCM lên mức 37,72 triệu đồng/lượng và 37,8 triệu đồng/lượng (giá mua vào và bán ra). Tuy nhiên, đến hơn 9h, doanh nghiệp này đã giảm giá vàng về 37,62 triệu đồng/lượng và 37,7 triệu đồng/lượng.

Tại thị trường Hà Nội, từ hơn 9h, giá vàng SJC do Công ty Phú Quý niêm yết ổn định ở mức 37,62 triệu đồng/lượng (mua vào) và 37,75 triệu đồng/lượng (bán ra). Công ty Bảo Tín Minh Châu báo giá vàng Rồng Thăng Long thu mua ở mức 37,62 triệu đồng/lượng và bán ra ở mức 37,75 triệu đồng/lượng.

Giới kinh doanh vàng cho biết, thị trường vàng đã trở nên trầm lắng cả về giá và giao dịch kể từ sau khi Chính phủ tuyên bố chủ trương sẽ cấm kinh doanh vàng miếng trên thị trường tự do. Hiện giới doanh nghiệp và các nhà đầu tư vàng vẫn đang chờ đợi những quy định cụ thể hơn từ phía cơ quan chức năng về vấn đề này.

Sự chênh lệch giữa giá vàng trong nước và thế giới cũng đã giảm nhiều. Sáng nay, so với giá vàng thế giới quy đổi, giá vàng bán lẻ trong nước chỉ đứng cao hơn khoảng  250.000 mỗi lượng.

Giá USD trên thị trường tự do sáng nay giảm đáng kể so với cuối tuần và đã mất mốc 22.000 đồng. Lúc hơn 9h, ngoại tệ này được một số điểm thu đổi tại Hà Nội thu mua ở mức 21.900 đồng và bán ra ở mức 21.950 đồng, giảm khoảng 100 đồng mỗi USD so với sáng thứ 7 tuần trước.

Giá vàng thế giới sáng nay nối tiếp đà tăng của tuần trước. Lúc 10h giờ Việt Nam, giá vàng giao ngay tại châu Á tăng thêm 3,2 USD/oz so với giá đóng cửa tại New York, lên 1.413,8 USD/oz.

Tuần trước, giá vàng giao ngay tăng 1,5%, đánh dấu tuần tăng giá thứ tư liên tục. Giá vàng đang được đẩy lên bởi nhu cầu mua vàng phòng khủng hoảng và lạm phát khi bất ổn chính trị tại Trung Đông-Bắc Phi tiếp tục căng thẳng, khiến giá dầu thô leo thang mạnh.

Tuần này, tình hình khủng hoảng chính trị ở các nước trong khu vực, đặc biệt là Libya sẽ còn chi phối mạnh giá vàng, dầu. Theo thông tin mới nhất, lực lượng nổi dậy có vũ trang của Libya đã tiến sát thủ đô Tripoli của nước này. Trong khi đó, nhà lãnh đạo Mammuar Gaddafi vẫn thề kiên quyết tại vị tới cùng.

Giá dầu thô thế giới sáng nay tăng mạnh. Lúc hơn 10h giờ Việt Nam, giá dầu ngọt nhẹ tại New York tăng thêm hơn 1,6 USD/thùng so với giá đóng cửa tuần trước, đạt gần 99,5 USD/thùng. Tại thị trường London, giá dầu Brent tăng thêm gần 1 USD/thùng, lên xấp xỉ 114 USD/thùng.

Tỷ giá Euro/USD tại thị trường Tokyo đứng trên mức 1,37 USD/Euro. Đồng Euro đang được hỗ trợ trước thềm cuộc họp chính sách của Ngân hàng Trung ương châu Âu (ECB) diễn ra trong tuần này. Giới quan sát đồn đoán, trong cuộc họp, ECB có thể tăng lãi suất Euro, hoặc ít nhất sẽ tính tới việc sớm thực hiện điều này.

Petrosetco – SSG Group khởi động dự án 35 tầng

Tổng công ty Cổ phần Dịch vụ tổng hợp Dầu khí (Petrosetco) và Tập đoàn SSG (SSG Group) vừa khởi động dự án liên doanh PSSSG…

Dự án có chiều cao khoảng 35 tầng; tổng diện tích sàn thương phẩm trên 100.000 m2 và tổng mức đầu tư trên 3.000 tỷ đồng.

Tổng công ty Cổ phần Dịch vụ tổng hợp Dầu khí (Petrosetco) và Tập đoàn SSG (SSG Group) vừa khởi động dự án liên doanh PSSSG.

Đây là dự án khu phức hợp tọa lạc trên khu đất 19.592 m2 tại số 12 AB Thanh Đa, phường 27, quận Bình Thạnh, Tp.HCM. Pháp nhân liên doanh là Công ty TNHH Petrosetco SSG (PSSSG) chịu trách nhiệm triển khai thực hiện dự án này.

Dự án có chiều cao khoảng 35 tầng; tổng diện tích sàn thương phẩm trên 100.000 m2 và tổng mức đầu tư trên 3.000 tỷ đồng.

Là thành viên của Tập đoàn Dầu khí Việt Nam (Petro Vietnam), Petrosetco hiện hoạt động trong các lĩnh vực kinh doanh thương mại và phân phối, dịch vụ dầu khí. Doanh nghiệp là đối tác phân phối của các nhãn hàng viễn thông nổi tiếng như Nokia, Acer và Dell. Trong lĩnh vực kinh doanh truyền thống là dịch vụ catering, Petrosetco hiện là một trong những đơn vị đầu tiên tại Việt Nam thực hiện dịch vụ này và hiện chiếm hơn 90% thị phần ngành dầu khí.

Hoạt động khai thác và quản lý các tòa nhà đang dần trở thành hoạt động kinh doanh mũi nhọn của Petrosetco với các khách hàng chính là Petro Vietnam, các công ty, tổng công ty thành viên của tập đoàn và các nhà thầu dầu khí trong và ngoài nước.

Trong khi đó, SSG Group nổi tiếng với các dự án như khu phức hợp Saigon Pearl bên bờ sông Sài Gòn với tổng vốn đầu tư hơn 750 triệu USD, dự án căn hộ cao cấp Thảo Điền Pearl tại phường Thảo Điền, quận 2 (Tp.HCM) với tổng vốn đầu tư hơn 2.000 tỷ đồng. Năm ngoái, tập đoàn bất động sản này cũng đã khởi công hai dự án Airport Plaza tại quận Tân Bình, Tp.HCM và tổ hợp Khách sạn Dầu khí Việt Nam tại Hà Nội, trên tổng diện tích 21 ha.

SSG Group cho biết, trong quý 2/2011, tập đoàn này sẽ triển khai các công tác chuẩn bị ban đầu cho việc khởi công dự án SSG Tower trên khu đất chợ Văn Thánh cũ – một trong những “khu đất vàng” củaTp.HCM –  mà tập đoàn đã trúng thầu năm 2007.

Hãng bảo hiểm của Đức mua 25% cổ phần Bảo hiểm GIC

Tập đoàn Bảo hiểm ERGO (Đức) sẽ mua 10 triệu cổ phần và trở thành đối tác chiến lược của Công ty Bảo hiểm Toàn cầu (GIC)…

Ông Hồ Nam Thắng, Chủ tịch Hội đồng Quản trị GIC, nói rằng thỏa thuận hợp tác này sẽ giúp nâng cao vị trí của GIC trên thị trường bảo hiểm phi nhân thọ Việt Nam.

Ngày 28/2, Tập đoàn Bảo hiểm ERGO (Đức) ký thỏa thuận hợp tác chiến lược với Công ty Cổ phần Bảo hiểm Toàn cầu (GIC).

Theo thỏa thuận hợp tác, ERGO sẽ mua 10 triệu cổ phần của GIC và trở thành đối tác chiến lược. Khoản đầu tư này trị giá 380 tỷ đồng, tương ứng với tỷ lệ sở hữu 25%.

Ngoài ra, ERGO cũng cam kết sẽ hỗ trợ GIC về kỹ thuật với giá trị khoảng 46 tỷ đồng.

Công ty Tư vấn Horizon Capital là tổ chức tư vấn cho GIC trong thương vụ này.

Ông Hồ Nam Thắng, Chủ tịch Hội đồng Quản trị GIC, nói rằng thỏa thuận hợp tác này sẽ giúp nâng cao vị trí của GIC trên thị trường bảo hiểm phi nhân thọ Việt Nam, thông qua việc nhận chuyển giao các kỹ thuật và nghiệp vụ bảo hiểm (trong đó tập trung cho các sản phẩm bán lẻ như bảo hiểm xe cơ giới, cháy nổ và vận chuyển) từ đối tác chiến lược mới.

Trong khi đó, ông Jochen Messemer, Chủ tịch Tập đoàn ERGO, cho biết lý do đầu tư vào GIC là tiềm năng rộng lớn của thị trường bảo hiểm phi nhân thọ Việt Nam. Doanh thu bảo hiểm phi nhân thọ của thị trường này đã đạt 700 triệu USD trong năm ngoái và vẫn đang duy trì tốc độ tăng trưởng trung bình 20% mỗi năm là lý do để ERGO đến Việt Nam.

GIC thành lập năm 2006, hoạt động trong lĩnh vực bảo hiểm phi nhân thọ. Năm 2010, công ty này đã đạt doanh số trên 420 tỷ đồng và đã có mặt tại 50 tỉnh thành với 7.500 đại lý trên cả nước.

ERGO là tập đoàn bảo hiểm đã có mặt tại hơn 30 quốc gia, có hơn 40 triệu khách hàng và doanh thu trong năm 2010 đã đạt 19 tỷ Euro.

Xem xét báo cáo tổng kết nhiệm kỳ của Chính phủ và Thủ tướng

Kỳ họp thứ chín, Quốc hội khoá 12 sẽ khai mạc vào ngày 21/3 và dự kiến bế mạc vào ngày 29/3 tới…

Báo cáo tổng kết nhiệm kỳ 2007 – 2011 của Thủ tướng dự kiến sẽ được trình bày trước Quốc hội – Ảnh: TTO.

Ủy ban Thường vụ Quốc hội đã quyết định triệu tập kỳ họp thứ chín, Quốc hội khoá 12, khai mạc vào ngày 21/3 và dự kiến bế mạc vào ngày 29/3 tới.

Theo chương trình dự kiến, ngay trong ngày làm việc đầu tiên, các báo cáo tổng kết hoạt động nhiệm kỳ 2007 – 2011 của Quốc hội, các cơ quan của Quốc hội, Chủ tịch nước, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, của Chánh án Tòa án Nhân dân Tối cao và Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân Tối cao sẽ được trình bày trước Quốc hội.

Sau đó các nội dung này sẽ lần lươt được thảo luận tại tổ và tại hội trường. Thời gian dự kiến dành cho thảo luận báo cáo của Chủ tịch nước, Chính phủ và Thủ tướng Chính phủ là một buổi sáng.

Tại phiên khai mạc, Quốc hội sẽ nghe Chính phủ báo cáo đánh giá bổ sung kết quả thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội và ngân sách nhà nước năm 2010, tình hình những tháng đầu năm 2011 và nghe báo cáo thẩm tra về nội dung này.

Phần thảo luận về báo cáo bổ sung của Chính phủ trong thời gian một buổi sáng sẽ được kết hợp thảo luận về phương án sử dụng 3.500 tỷ đồng đầu tư trở lại cho Tập đoàn dầu khí quốc gia Việt Nam.

Thảo luận về các nội dung nói trên tại phiên họp thứ 38 vừa qua, nhiều ý kiến tại Ủy ban Thường vụ Quốc hội đã đặc biệt quan ngại về chất lượng thực sự của tăng trưởng, khi lạm phát quá cao. Đồng thời đề nghị Chính phủ phải có những giải pháp cụ thể hơn để kiềm chế lạm phát, ổn định thực chất đời sống của nhân dân.

Tại kỳ họp thứ chín, Quốc hội cũng sẽ xem xét, thông qua 4 dự án luật : Luật Kiểm toán độc lập, Luật Phòng, chống mua bán người, Luật Sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật tố tụng dân sự và Luật Thủ đô.

Quá trình tiếp thu, chỉnh lý, nhiều ý kiến còn băn khoăn về tính khả thi của nhiều quy định tại dự án Luật Thủ đô. Có vị ủy viên Ủy ban Thường vụ Quốc hội đã đề nghị nên dừng lại để nhiệm kỳ sau Quốc hội bàn bạc thấu đáo hơn.

Kỳ họp cuối cùng của Quốc hội khóa 12 sẽ không có nội dung chất vấn và trả lời chất vấn như các kỳ họp trước.

Siết tín dụng ngoại tệ: Sẽ có những yếu tố ngoại trừ

Sau khi tạo điều kiện để tín dụng ngoại tệ phát triển, nhà điều hành đang tính siết lại. Ở đây, có những yếu tố có thể ngoại trừ…

Không phải đến lúc này việc hạn chế tín dụng ngoại tệ tăng trưởng nóng mới đặt ra.

Sau khi tạo điều kiện để tín dụng ngoại tệ phát triển, nhà điều hành đang tính siết lại. Ở đây, có những yếu tố có thể ngoại trừ.

Đến lúc này, vẫn còn những quan điểm khác nhau về tốc độ tăng trưởng mạnh của tín dụng ngoại tệ trong năm 2010 và có hơi hướng nối tiếp đầu 2011: tích cực và tiêu cực.

Một lần nữa, vấn đề này được chú ý trong định hướng điều hành chính sách mà Ngân hàng Nhà nước vừa đưa ra, triển khai Nghị quyết số 11 ngày 24/2/2011 về kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô và đảm bảo an sinh xã hội.

Cú hích của chính sách

Theo báo cáo của Ngân hàng Nhà nước, năm 2010, tăng trưởng tín dụng toàn hệ thống đạt 29,81%; trong đó tín dụng VND tăng 25,3%, tín dụng ngoại tệ tăng tới 49,3%. Nếu trừ hư số do tỷ giá và giá vàng tăng thì tổng dư nợ tăng 27,6%; trong đó tín dụng VND tăng 25,3%, tín dụng ngoại tệ tăng 37,7%.

Tốc độ tăng trưởng tín dụng ngoại tệ mạnh trong năm 2010 có hơi hướng nối tiếp đầu năm 2011, khi tính đến ngày 21/1 so với tháng trước mức tăng đã là 2,37% (trong khi tăng trưởng tín dụng chung đến 21/1 chỉ 0,43% và bằng VND lại giảm 0,09%).

Có một nguyên nhân chính, xuất phát từ lợi ích của nhu cầu vay vốn: chênh lệch giữa lãi suất vay vốn bằng VND so với USD quá lớn đã kích thích sự tập trung lựa chọn, góp phần đẩy tăng trưởng tín dụng ngoại tệ tăng mạnh.

Nhưng, gốc rễ vẫn là cú hích từ chính sách.

Cuối năm 2009, Ngân hàng Nhà nước có thông tư mở rộng thêm hai đối tượng nhu cầu vốn được vay bằng ngoại tệ; trong đó đáng chú ý là các nhu cầu để thực hiện các dự án đầu tư, phương án sản xuất, kinh doanh hàng hóa và dịch vụ xuất khẩu.

Đầu năm 2010, Ngân hàng Nhà nước quyết định giảm khá mạnh tỷ lệ dự trữ bắt buộc bằng ngoại tệ; từ 7% xuống 4% đối với kỳ hạn dưới 12 tháng, từ 3% xuống 2% đối với kỳ hạn trên 12 tháng. Khoảng 500 triệu USD ước tính tại thời điểm đó được “trả lại” cho các ngân hàng theo sự điều chỉnh này.

Đó là hai điều chỉnh quan trọng của chính sách tác động đến xu hướng tăng trưởng của tín dụng ngoại tệ.

Và động thái ghìm cương

Không phải đến lúc này việc hạn chế tín dụng ngoại tệ tăng trưởng nóng mới đặt ra. Ngay từ giữa năm 2010, Ngân hàng Nhà nước đã có văn bản đưa ra 6 yêu cầu đối với các tổ chức tín dụng nhằm tăng cường kiểm soát dư nợ ngoại tệ.

Trong thông điệp đưa ra cuối tuần qua, động thái ghìm cương thể hiện rõ nét hơn, dù chưa cụ thể ở các văn bản điều hành. Có hai điểm đáng quan tâm trong thông điệp đó.

Thứ nhất, Ngân hàng Nhà nước cho biết sẽ sửa đổi cơ chế cho vay ngoại tệ để kiểm soát tốc độ cho vay ngoại tệ khoảng 20% trên nguyên tắc chỉ phục vụ cho các hoạt động sản xuất, kinh doanh thiết yếu của nền kinh tế và có nguồn thu ngoại tệ từ hoạt động sản xuất kinh doanh của mình.

Thứ hai, thực hiện quyết liệt các biện pháp về quản lý, sử dụng ngoại tệ, kiểm soát chặt chẽ cả việc cho vay và bán ngoại tệ để thanh toán cho nhập khẩu các mặt hàng thuộc danh mục các mặt hàng nhập khẩu không thiết yếu, không cấp bách.

Ngoài ra, nhà điều hành cũng đề cập đến việc tăng cường kiểm soát sự dịch chuyển tín dụng từ VND sang ngoại tệ.

Theo định hướng đó, tăng trưởng tín dụng ngoại tệ cao được hiểu là đáng lo ngại và tốc độ sẽ bị siết lại. Nhưng đó không hẳn là một mẫu số chung cho tất cả các nhu cầu vay.

Yếu tố ngoại trừ

Đến thời điểm này, liệu có thể nói việc mở rộng đối tượng nhu cầu được vay ngoại tệ nói trên của Ngân hàng Nhà nước là một giải pháp kỹ thuật, có dụng ý sâu xa?

Cụ thể, Thông tư số 25/2009/TT-NHNN về mở rộng đối tượng nhu cầu vay ngoại tệ có quy định: các nhu cầu để thực hiện các dự án đầu tư, phương án sản xuất, kinh doanh hàng hóa và dịch vụ xuất khẩu được vay ngoại tệ; nhưng, trường hợp cho vay bằng ngoại tệ để sử dụng trong nước, điều kiện đặt ra là khách hàng phải bán số ngoại tệ vay đó cho tổ chức tín dụng cho vay.

Ở trường hợp đó, nguồn vốn huy động để cho vay của các ngân hàng được chuyển hóa thành vốn thương mại, tạo cung ngoại tệ cho thị trường, góp phần xoa dịu tỷ giá. Thực tế, sau chính sách này, tỷ giá USD/VND đã có khoảng 7 tháng liên tiếp ổn định, thậm chí có những thời điểm giá USD trên thị trường tự do thấp hơn giá của các ngân hàng thương mại. Đây là một cách tạm ứng nguồn thu ngoại tệ trong tương lai của các doanh nghiệp xuất khẩu, tháo gỡ tình trạng găm giữ hoặc phân tán ngoài hệ thống ngân hàng.

Một thực tế tham khảo ở đây là, ngay cả khi áp trần lãi suất tiền gửi USD tối đa 1%/năm đối với các tổ chức kinh tế, tình trạng găm giữ ngoại tệ trong doanh nghiệp vẫn chưa thể gỡ bỏ. Tuần qua, một lần nữa Thủ tướng Chính phủ đã phải yêu cầu các tập đoàn, tổng công ty Nhà nước bán lại ngoại tệ cho ngân hàng…

Trong dòng chảy bình luận thời gian qua, một số ý kiến bày tỏ quan ngại tín dụng ngoại tệ tăng trưởng nóng sẽ tạo sức ép cầu ngoại tệ để trả nợ khi đáo hạn, tạo áp lực lên tỷ giá. Lo ngại này cũng không phải là mẫu số chung cho tất cả các nhu cầu vay; đặc biệt là sự gia tăng của tín dụng ngoại tệ từ năm 2010 có yếu tố mới là nhu cầu từ các doanh nghiệp xuất khẩu – đã được “bảo lãnh” bằng nguồn thu ngoại tệ đối ứng trong tương lai.

Lo ngại đó chỉ nên gói ở nhóm nhu cầu vay cho thanh toán nhập khẩu mà không có nguồn thu ngoại tệ đối ứng, hoặc vay nhưng không bán lại khoản ngoại tệ đó cho các ngân hàng. Đây cũng chính là nhóm mà Ngân hàng Nhà nước sẽ xem xét siết lại như định hướng chung vừa đưa ra.

Còn với nhóm xuất khẩu cùng điều kiện phải bán lại ngoại tệ khi vay nói trên, giá trị chuyển hóa và tính năng tạm ứng nguồn vốn cần tiếp tục duy trì. Thậm chí, cần khuyến khích dòng tín dụng ngoại tệ ở nhóm này. Và sự dịch chuyển tín dụng từ VND sang ngoại tệ ở đây cũng không hẳn là đáng lo ngại.

Giá gas tăng thêm 9.000 – 10.000 đồng/bình

Từ 1/3, giá bán lẻ gas tùy theo từng hãng sẽ tăng thêm từ 9.000 – 10.000 đồng/bình 12kg…

Giá bán lẻ gas từ 1/3 của các hãng dao động từ 329.000 – 345.000 đồng/bình 12kg.

Từ 1/3, giá bán lẻ gas tùy theo từng hãng sẽ tăng thêm từ 9.000 – 10.000 đồng/bình 12kg. Đây là lần tăng giá thứ 2 liên tiếp chỉ trong khoảng 3 tuần trở lại đây của mặt hàng này.

Nguồn tin từ các hãng gas cho biết, do giá gas trên thế giới giao trong tháng 3/2011 đã tăng thêm 25 USD/tấn so với giá bán tháng trước, lên mức 878 USD/tấn, cộng thêm việc tăng tỷ giá giữa USD với VND đã khiến giá bán lẻ gas trong tháng này tăng thêm 9.000 – 10.000 đồng/bình.

Khi đến tay người tiêu dùng, bình gas 12kg của các hãng như Thái Dương Gas, Saigon Petro… có giá dao động từ 329.000 – 345.000 đồng.

Gần đây nhất, vào ngày 12/2, ngay sau khi Ngân hàng Nhà nước có quyết định về việc điều chỉnh tỷ giá giữa USD và VND, giá bán lẻ gas đã đồng loạt tăng thêm từ 15.000 – 17.000 đồng/bình.

Như vậy, chỉ trong khoảng tuần 3 tuần qua giá bán lẻ của nhiên liệu này đã tăng thêm từ 24.000 – 27.0000 đồng/bình.

Chứng khoán “mệt” với siết tín dụng

Ngoài các công cụ như lãi suất, dự trữ bắt buộc, thị trường mở, vẫn còn công cụ khác để siết dòng vốn chảy vào chứng khoán…

Ngân hàng sẽ khó tiếp tục cấp tín dụng dễ dãi cho kênh chứng khoán

Định hướng thắt chặt tiền tệ, chặn dòng chảy vốn vào thị trường chứng khoán bắt đầu có biểu hiện cụ thể khi một số công ty chứng khoán tăng lãi suất ứng trước tiền bán, lãi suất hỗ trợ vốn. Tuy nhiên đến hôm nay công cụ lãi suất, dự trữ bắt buộc vẫn chưa được công bố.
Từ ngày 1/3, Công ty Chứng khoán APEC thông báo sẽ áp dụng mức lãi suất ứng trước tiền bán là 0,065%/ngày. Đây là lần điều chỉnh thứ hai trong vòng 2 tháng qua. Trước đó, từ đầu tháng 1/2011, APEC cũng đã nâng lãi suất ứng trước tiền bán từ 0,055%/ngày lên 0,06%/ngày. Lãi suất hỗ trợ vốn cũng được nâng lên mức 0,065%/ngày đối với các hợp đồng trong hạn và 0,07%/ngày với hợp đồng quá hạn.
Cuối tuần trước, Công ty Chứng khoán VNDirect cũng thông báo tăng mức phí hỗ trợ vốn và ứng trước tiền bán. Từ ngày 24/2, phí ứng trước tiền bán và phí hỗ trợ vốn cùng tăng lên mức 0,056%/ngày. Đây là lần điều chỉnh thứ 3 kể từ đầu năm nay. 
Việc các công ty chứng khoán tăng phí với các dịch vụ ứng trước tiền bán và đòn bẩy là không mấy bất ngờ.

Cho đến nay, động thái tăng phí vẫn còn khá lẻ tẻ, thậm chí nhiều công ty vẫn đang áp dụng mức phí cũ từ cuối năm 2010. Từ cuối tuần trước, thị trường đã đón nhận thông tin về những giải pháp của Ngân hàng Nhà nước nhằm kiềm chế lạm phát, ổn định vĩ mô. Trong những giải pháp này, ngoài việc hạ mức tín dụng tăng trưởng, Ngân hàng Nhà nước còn xác định rõ chủ trương giảm tối đa mức tín dụng cho lĩnh vực phi sản xuất, đặc biệt là lĩnh vực bất động sản và chứng khoán.

Như vậy, chứng khoán là đối tượng bị chỉ đích danh. Kênh đầu tư này đặc biệt nhạy với yếu tố tăng trưởng tín dụng cũng như chính sách tiền tệ nói chung. Ngoài những động thái có thể dự đoán được từ định hướng chính sách trên, như khả năng tăng dự trữ bắt buộc, tăng lãi suất, bơm hút qua thị trường mở, điều chỉnh các công cụ lãi suất… cơ quan quản lý vẫn còn một số biện pháp khác để tác động đến dòng vốn có “tiềm năng” chảy vào thị trường chứng khoán.
Một điểm đáng chú ý trong giải pháp được Ngân hàng Nhà nước đưa ra là sẵn sàng chỉ đạo các ngân hàng thương mại giảm đến mức tối đa tín dụng cho các lĩnh vực phi sản xuất. Ngân hàng Nhà nước cũng sẽ điều chỉnh linh hoạt các tỷ lệ trích lập dự phòng rủi ro và các tỷ lệ an toàn khác nhằm hướng các luồng vốn tín dụng phục vụ cho các hoạt động sản xuất kinh doanh quan trọng và thiết yếu của nền kinh tế.
Còn nhớ, Thông tư 13 và Thông tư 19 đã có thời điểm được xem là yếu tố ảnh hưởng chính đến sự sụt giảm của thị trường năm ngoái, khi ấn định tỷ lệ trích lập dự phòng rất cao với lĩnh vực chứng khoán, tới 250%. Đây có thể sẽ là công cụ rất linh hoạt và hiệu quả để ngân hàng trung ương thắt dòng tín dụng chảy vào chứng khoán.

Biểu hiện sẽ là dòng vốn từ ngân hàng chảy qua các công ty chứng khoán giảm đi về lượng hoặc tăng chi phí lên hoặc cả hai. Hiệu ứng của chính sách sẽ làm các tổ chức cho vay không muốn cho vay nhiều và người muốn vay cũng nản lòng.

Một trong những yếu tố khiến lâu nay các thống kê về dư nợ cho vay đối với chứng khoán được xem là thiếu chính xác, là hiện tượng biến tướng trong mục đích khoản vay. Tuy nhiên, “cửa” này cũng không còn dễ dàng trong thời gian tới vì chắc chắn lãi suất cho vay tiêu dùng sẽ rất cao, chưa kể đến việc ngân hàng phải dồn vốn cho các lĩnh vực khác trong điều kiện tín dụng không dồi dào.
Các biện pháp thắt chặt tiền tệ thực tế đã được Ngân hàng Nhà nước triển khai. Đầu tiên là lãi suất tái cấp vốn tăng từ 9% lên 11%. Lãi suất thị trường mở tăng từ ngày 22/2 với kỳ hạn 7 ngày.

Theo số liệu của Công ty Chứng khoán VCBS, từ đầu tháng 2 đến nay, lượng tiền bơm qua thị trường mở đã ở mức âm. Riêng tuần từ 21-24/2 lượng bơm ròng khoảng 4.764 tỷ đồng và tính chung cả tháng là hút ròng 67,2 ngàn tỷ đồng. 

Hôm nay thị trường ngóng trông thông tin về “động thái” của hai công cụ quan trọng khác là lãi suất cơ bản và tỷ lệ dự trữ bắt buộc. Từ tuần trước, khá nhiều phát ngôn của các chuyên gia cho rằng cần sử dụng công cụ dự trữ bắt buộc. Đây có thể là bước đệm tâm lý. Thực tế như năm 2008 khi lạm phát  rất cao Ngân hàng Nhà nước đã tăng mạnh tỷ lệ dự trữ bắt buộc và kéo dài trong gần 9 tháng. Không loại trừ khả năng công cụ này sẽ lại được sử dụng.
Quan điểm của thị trường chứng khoán khá ngược với “logic”, cho rằng “khi tin xấu nhất đã ra thì không còn tin xấu nữa”, hay “không còn có gì xấu hơn, tức là tốt”. Tuy nhiên, trong trường hợp này, tin xấu nhất đã ra, không có nghĩa là tình hình không thể xấu hơn. Việc điều chỉnh chính sách hiện chưa thể khẳng định là “đủ liều”, chưa kể đến việc cần có thời gian để “ngấm”. 
Định hướng rõ ràng nhất có thể xác định lúc này là chính sách đang chấp nhận hi sinh một số lĩnh vực để bình ổn vĩ mô. “Phác đồ điều trị” vẫn có thể thay đổi, gia tăng liều lượng một cách linh hoạt.

“Bệnh tình” phải có biểu hiện của chuyển biến tích cực thì mới xác định được phác đồ điều trị có hiệu quả hay không. Trong điều kiện đó dòng tiền vào chứng khoán khó đủ mạnh.

“Tổng”, “tập” nhà nước bán ngoại tệ: Cách nào tránh “đầu voi đuôi chuột”?

Thay vì chỉ có bảy đơn vị như Thông tư 26 thì nay, tất cả tập đoàn, tổng công ty nhà nước phải bán ngoại tệ cho ngân hàng…

Thực hiện Nghị quyết 11/NQ-CP của Chính phủ, ngày 24/2, Ngân hàng Nhà nước phát đi 7 giải pháp triển khai, trong đó yêu cầu tất cả tập đoàn, tổng công ty nhà nước bán ngoại tệ cho ngân hàng.

Thay vì chỉ có bảy đơn vị như Thông tư 26 thì nay, tất cả tập đoàn, tổng công ty nhà nước phải bán ngoại tệ cho ngân hàng. Đây là điều cần thiết, nhưng mặt khác là tại sao đến nay, việc nâng cao khả năng chuyển đổi VND vẫn chưa được đặt ra một cách quyết liệt?

Cần cơ chế rõ ràng

Thực hiện Nghị quyết 11/NQ-CP của Chính phủ, ngày 24/2, Ngân hàng Nhà nước phát đi 7 giải pháp triển khai, trong đó yêu cầu tất cả tập đoàn, tổng công ty nhà nước bán ngoại tệ cho ngân hàng.

Đánh giá về chủ trương trên, ông Nguyễn Mạnh, Giám đốc Ban Vốn và Kinh doanh vốn của Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV) nói: “Thị trường sẽ được bổ sung một nguồn cung ngoại tệ khá lớn trong khi việc quản lý không phức tạp do số lượng đối tượng thực hiện không nhiều”.

Tổng giám đốc một ngân hàng cổ phần ước đoán số lượng ngoại tệ mà nhóm đối tượng này bán cho ngân hàng có thể tới 5 – 6 tỷ USD mỗi năm. Đáng chú ý, theo ông này, đối với sự căng thẳng trên thị trường ngoại tệ mấy năm gần đây, hãy khoan nói đến những vấn đề to tát như thâm hụt thương mại, mất cân bằng cán cân thanh toán tổng thể, mà trước mắt, nên nhìn vào những bất cập trong hệ thống văn bản luật pháp, từ pháp lệnh đến các thông tư.

Thứ nhất, gần 6 năm trước, Quốc hội ban hành Pháp lệnh Ngoại hối, tại khoản 2, điều 41 pháp lệnh này đã ghi: “Khi xét thấy cần thiết, để bảo đảm an ninh tài chính, tiền tệ quốc gia, Chính phủ được áp dụng các quy định về nghĩa vụ bán ngoại tệ của người cư trú là tổ chức”. Thế nhưng, từ 2007 đến nay, dù trung bình mỗi năm thị trường ngoại tệ lên cơn sốt vài ba lần khiến Ngân hàng Nhà nước liên tục điều chỉnh tỷ giá, nhưng khả năng kết hối theo Pháp lệnh vẫn bỏ ngỏ.

Thứ hai, khoảng cuối 2009, lúc thị trường ngoại tệ căng thẳng, Chính phủ yêu cầu bảy tập đoàn, tổng công ty gồm: Dầu khí, Than – Khoáng sản, Công nghiệp Hóa chất, Tổng công ty Cảng hàng không Miền Nam, Tổng công ty Lương thực Miền Bắc, Tổng công ty Lắp máy bán ngoại tệ cho ngân hàng và theo chủ trương này, Ngân hàng Nhà nước ban hành Thông tư 26/2009/TT-NHNN.

Khá nhiều cán bộ kinh doanh ngoại tệ ở một ngân hàng lớn cho biết, thời gian đầu thực hiện Thông tư 26, bảy đơn vị nói trên bán ngoại tệ cho ngân hàng khá nghiêm túc và nhờ đó, dòng ngoại tệ kinh doanh của ngân hàng tương đối dồi dào. Nhưng về sau, số lượng ngoại tệ họ bán cho ngân hàng này cứ ít dần. Các doanh nghiệp này đưa ra nhiều lý do giải thích, chẳng hạn: “Chúng tôi có ngoại tệ đấy nhưng tập đoàn tôi sắp mở dự án bên Lào, Campuchia nên phải để lại!”, do đó, một lượng ngoại tệ lớn được họ găm lại trên tài khoản tiền gửi.

Từ thực tế này, những cán bộ kinh doanh ngoại tệ nói trên cho rằng, trước khi thực hiện “kết hối” theo Nghị quyết 11 của Chính phủ thì phải sơ kết lại Thông tư 26 để có một cơ chế rõ ràng, minh bạch và đảm bảo lợi ích công bằng. Trong đó, không thể không đề cập đến việc giám sát số lượng bán, mua; cơ chế bán, mua; giá… cũng như cơ chế kiểm tra kiểm tra tài khoản tiền gửi ngoại tệ của doanh nghiệp…, để tránh tình trạng “đầu voi đuôi chuột”.    

Nâng cao tính chuyển đổi

Mặc dù tại điều 3, Pháp lệnh Ngoại hối đã ghi rõ: “Thực hiện mục tiêu của chính sách tiền tệ quốc gia, nâng cao tính chuyển đổi của đồng Việt Nam; thực hiện mục tiêu trên lãnh thổ Việt Nam chỉ sử dụng đồng Việt Nam”, nhưng đến nay, tính chuyển đổi của đồng Việt Nam vẫn còn nhiều vấn đề tồn tại.

Liên quan đến khả năng chuyển đổi VND trong giao dịch thương mại quốc tế, ông Trương Văn Phước, Tổng giám đốc Ngân hàng Xuất nhập khẩu Việt Nam (Eximbank) nói: “Ở một mức độ nào đó, việc chuyển đổi đồng tiền bản địa trong thanh toán quốc tế ở thời điểm hiện nay có thể làm được”. Theo ông, năm 2010, kim ngạch nhập khẩu cả nước là 84 tỷ USD, nếu 10% trong số này (8,4 tỷ USD) được thanh toán cho đối tác bằng VND thì áp lực tỷ giá sẽ giảm đi rất nhiều.

Phân tích về giả thuyết đối tác tỏ ra ngại ngần nắm giữ VND khi mà mỗi năm, giá trị VND mất đi khoảng 10% so với USD, ông Phước lý giải, vấn đề ở đây là phải bảo hiểm rủi ro tỷ giá cho đối tác ở mức chấp nhận được; đồng thời, chứng minh cho họ thấy lợi ích từ sự chênh lệch lãi suất “đô – đồng”.

Chẳng hạn, hiện nay lãi suất VND là 18%/năm nhưng lãi suất USD ở Nhật là 0,1%/năm, ở Mỹ là 0,25%/năm; nếu giữ VND, họ được lợi 17,9%/năm hoặc 17,75%/năm. Còn lúc nào họ muốn chuyển đổi VND sang USD thì đáp ứng yêu cầu cho họ.

Điều ông Phước nói không phải không có cơ sở, bởi trong giao dịch thương mại quốc tế hiện nay, trao đổi thương mại hai chiều giữa Việt Nam và các nước là hết sức bình thường. Vấn đề ở đây là đàm phán. Muốn đàm phán thành công, thì phải đảm bảo lợi ích cả hai bên, mà trong trường hợp này là chênh lệch lãi suất và bảo hiểm rủi ro tỷ giá.

Có một thực tế ngậm ngùi lâu nay, là Việt Nam mua Camry thì phải trả bằng USD, còn Nhật mua gạo hay hàng hóa khác của Việt Nam lại không thể trả bằng VND.

Giả định khả năng nói trên thành hiện thực, thì mỗi năm, nếu kim ngạch nhập khẩu cả nước 84 tỷ USD, nền kinh tế sẽ được dự phòng tới 8,4 tỷ USD. Đó là lực lượng ngoại tệ góp phần rất lớn bình ổn thị trường, đồng thời giảm áp lực lên tỷ giá.

VNR lãi hơn 268 tỷ đồng trong năm 2010

Tổng công ty Cổ phần Tái bảo hiểm Quốc gia Việt Nam (mã VNR-HNX) công bố kết quả kinh doanh năm 2010…

Tổng lợi tức trước thuế của công ty đạt 268,5 tỷ đồng, tăng 15,4% so với năm trước.

Tổng công ty Cổ phần Tái bảo hiểm Quốc gia Việt Nam (mã VNR-HNX) công bố kết quả kinh doanh năm 2010.

Theo đó, năm 2010 Tổng công ty cổ phần Tái bảo hiểm quốc gia Việt Nam có doanh thu phí nhận tái bảo hiểm đạt 1.215 tỷ đồng, tăng 8,5% so với kế hoạch và tăng 9,1% so với năm 2009.

Phí giữ lại của Tổng công ty đạt 414 tỷ đồng, tăng 22,5% so với năm trước. Với chủ trương kiểm soát chặt chẽ chất lượng dịch vụ nhận tái bảo hiểm, lợi nhuận kinh doanh nghiệp vụ của Vinare đã tăng lên 22,9 tỷ đồng so với 14 tỷ đồng năm 2009.

Thu nhập từ hoạt động đầu tư năm 2010 đạt 245,6 tỷ đồng, tăng 9,6% so với năm trước và tổng lợi tức trước thuế đạt 268,5 tỷ đồng, tăng 15,4% so với năm trước.

Kế hoạch 2011, Vinare đặt mục tiêu với doanh thu phí nhận tái bảo hiểm đạt 1.320 tỷ đồng và lợi nhuận trước thuế đạt 295 tỷ đồng.