Lạm phát 2010: “Có chuyện lòng tin vào đồng tiền có vấn đề”

Việc lạm phát cả năm vượt một con số là chỉ tiêu vĩ mô đầu tiên không đạt được công bố trong năm nay…

Ông Nguyễn Tiến Thỏa.

Việc lạm phát cả năm vượt một con số là chỉ tiêu vĩ mô đầu tiên không đạt được công bố trong năm nay.

Trong 4 tháng cuối năm, lạm phát tăng nhanh song hành cùng một số điều chỉnh trong chính sách. Đánh giá sự tác động của điều hành đến lạm phát năm 2010, từ góc nhìn của mình, Cục trưởng Cục Quản lý Giá (Bộ Tài chính) Nguyễn Tiến Thỏa nói:

– Về chỉ số thì rõ ràng không đạt mục tiêu, nhưng mình phải nhìn vào tổng thể nền kinh tế, điều hành ấy thì đạt được những gì.

Tăng trưởng vẫn khá so với chỉ tiêu đề ra, khoảng 6,7%, các vấn đề kinh tế vĩ mô vẫn được bảo đảm, trong đó có những chỉ tiêu vĩ mô lớn. Giá cả có tăng nhưng không đột biến làm đảo lộn cân đối vĩ mô. Nhập siêu mục tiêu là 20% kim ngạch xuất khẩu nhưng đạt ở mức khoảng 17%…

Điều hành có nhiều thành công. Còn những cái không đạt được do nhiều nguyên nhân, kể cả nguyên nhân tác động từ kinh tế thế giới.

Cũng không nên chỉ nhìn ở nước mình mà cần nhìn rộng ra thế giới, Trung Quốc rồi nhiều nước xung quanh đều bị lạm phát vượt mục tiêu đề ra hết, Trung Quốc đặt mục tiêu 3% nhưng tháng 11 đã hơn 5%, Thái Lan cũng vậy…

Có nguyên nhân phối hợp chính sách tài khóa và tiền tệ không ăn khớp ảnh hưởng đến khả năng kiềm chế giá cả trong năm qua, thưa ông?

Với chính sách tài khóa, năm nay bội chi mục tiêu 6,2% GDP thì thực hiện khoảng 5,8% GDP. Trong khi đó, mục tiêu tín dụng và tổng phương tiện thanh toán lại vượt kế hoạch.

Tổng phương tiện thanh toán đến tháng 12 tăng 23%, tín dụng là 27,65%. Trong khi 7 tháng đầu tiên vẫn ổn, nhưng 4 tháng sau cộng dồn vào bằng 7 tháng đầu.

Ngoài ra, nó cũng còn độ trễ từ năm trước sang nữa. Năm ngoái tăng tín dụng trên 37%, vì 2009 là năm kích cầu, chính sách tiền tệ nới lỏng…

Nhưng việc chính sách tiền tệ luôn đi sau “chữa cháy” lạm phát, người ta cho là hơi bị động. Quan điểm của ông?

Thật ra, bảo bị động cũng không hẳn đúng. Trong 7 tháng đầu năm, các giải pháp đã thực hiện như là giảm thuế, hay riêng với xăng dầu xử lý bằng cách dùng quỹ bình ổn, thì thấy là hãm được các tác động dây chuyền của nó mà tâm lý ổn định hơn.

Nhưng đã có lúc, cân bằng cán cân thương mại, cán cân thanh toán có vấn đề nên nó suy ra như thế. Dấu hiệu ấy lại để quá lâu mới xử lý. Lúc đặt vấn đề điều chỉnh tỷ giá, thấy tín hiệu 7 tháng đầu vẫn có thể đạt được mục tiêu, nhưng không thấy được sau đó tình hình chuyển biến như thế này.

Hơn nữa, thực hiện trong điều hành một số địa phương giai đoạn đó cũng có vấn đề, ví dụ học phí, cho lộ trình vài năm nhưng vào tháng 9 các địa phương đồng loạt áp mức tăng rất cao, có nơi tăng 35-40%.

Dù trong quyền số chiếm rất ít, chỉ hơn 5%, nhưng chỉ riêng học phí đã vào chỉ số chung là 1,1%. Rồi giá nước một số địa phương do để cố định lâu quá nên lúc điều chỉnh thì tăng lên rất cao…

Thực tế là một số nơi đã chủ động hơn trong kiềm chế lạm phát, như Tp.HCM, Hà Nội…

Tôi đi các địa phương, ít khi thấy đưa chỉ tiêu lạm phát vào trong mục tiêu phấn đấu kinh tế xã hội, ví dụ như năm nay kiểm soát lạm phát tại địa phương mình là bao nhiêu.

Trong vấn đề này, đánh giá những tồn tại có một việc là phối hợp không đồng bộ giữa các bộ, các ngành, địa phương.

Nhân chuyện này nhớ lại, vào đầu tháng 3, việc tăng giá than, nước, điện được cho là sẽ ảnh hưởng lớn đến CPI các tháng sau đó, nhưng trên thực tế ít ảnh hưởng. Trong khi, học phí tăng như vừa qua lại tác động lớn đến thế?

Về sâu xa, có chuyện lòng tin vào đồng tiền có vấn đề. Ví dụ giá vàng đột biến như thế, USD có điều chỉnh như vậy, xét về mặt tác động, vàng không tác động vào mớ rau, con cá…, nhưng những tài sản lâu bền đều bị tác động, đẩy giá lên hết.

Thế thì nó tác động đến tâm lý người dân, thấy đồng tiền không ổn, mất giá nên người ta phản ứng lại, đưa đồng tiền trú ngụ vào đâu đó cho nó an toàn, cho nên nó dẫn đến đầu cơ vàng, đầu cơ USD, đầu cơ tài sản nọ kia….

Nó cũng tác động đến việc vay vốn sản xuất kinh doanh, vay lẫn nhau để sản xuất kinh doanh. Sau này thì lãi suất ngân hàng cũng bùng lên.

Ngay từ khởi động một số yếu tố, người dân thấy đồng tiền có vấn đề thì họ phải tự xử lý. Những người buôn bán bình thường, họ vay vốn để làm ăn, bản thân người có vốn cho vay thấy tình hình như vậy cũng phải ứng xử để đồng tiền của họ không mất giá.

Thế thì tác động tâm lý âm thầm vào thực tế hành động của những người sản xuất kinh doanh. Nhìn thấy rõ ràng như thế nhưng đánh giá nó rất khó. Tác động tâm lý vào trong hành động người ta lúc đó rất nhanh. Vì trong xã hội hiện nay, người ta lấy cái đấy làm thước đo tài sản, mua bán.

Nói như thế thì việc điều chỉnh tỷ giá rất phức tạp…

Không hẳn, việc điều chỉnh tỷ giá vừa rồi cũng có nhiều tác dụng

Lúc bối cảnh thị trường là xã hội, kể cả người dân và doanh nghiệp, đã có hiện tượng đầu cơ ngoại tệ và thị trường ngoại hối đã bắt đầu có những ách tắc nhất định, gây ra khả năng là thanh khoản ngoại tệ sẽ có vấn đề do yếu tố đầu cơ. Thế thì điều chỉnh tỷ giá cũng phù hợp cung cầu ngoại tệ trên thị trường thôi.

Nó giúp giải tỏa ách tắc thị trường ngoại tệ, để thị trường hoạt động lành mạnh hơn, giải quyết được nút thắt thị trường ngoại tệ là đảm bảo có ngoại tệ, đảm bảo tính thanh khoản và giảm đầu cơ ngoại tệ.

Liên quan đến việc tăng cung tiền tệ, có quan điểm cho là trong năm vừa qua, nhiều khoản tiền cứu trợ lớn được các nước trên thế giới tung ra cũng tác động đến Việt Nam. Điều này trong điều hành không thấy nhắc tới biện pháp ứng xử?

Cái đó Ngân hàng Nhà nước phải đánh giá luồng tiền vào, ra để chủ động ứng phó.

Quan trọng là các luồng tiền bên ngoài nó vào nhiều như thế thì chính sách phải làm thế nào để trung hòa được, ngân hàng phải hút được tiền chứ nếu để nó nằm lại ở các kênh không kiểm soát được thì nó sẽ khiến mất cân đối tiền hàng trong nước, đẩy giá lên.

Sang năm, tình hình nợ công của các nước trên thế giới nếu không giải quyết tốt sẽ còn tăng nữa…

10 sự kiện, vấn đề nổi bật trong hoạt động ngân hàng 2010

Một năm với những thay đổi pháp lý quan trọng, nhiều biến động trên thị trường, nhiều khó khăn đối với cả ngân hàng lẫn doanh nghiệp…

lãi suất trong năm 2010 có sự song hành của các cam kết đồng thuận và sự mong manh của nó – Ảnh: Getty.

Một năm với những thay đổi pháp lý quan trọng, nhiều biến động trên thị trường, nhiều khó khăn đối với cả ngân hàng lẫn doanh nghiệp.

Từ quanh 12%/năm đầu năm, lãi suất vay vốn VND cuối năm vọt lên quanh 18%/năm. Tỷ giá USD/VND theo niêm yết chính thức chỉ tăng 5,53%, nhưng tỷ giá trên thị trường tự do chênh tới mức kỷ lục với khoảng 10%.

Chỉ hai thống kê tương đối trên cũng cho thấy các ngân hàng và doanh nghiệp đã trải qua năm 2010 nhiều sóng gió. Nhưng đây cũng là năm ghi nhận có những kết quả đạt được theo hướng hoàn thiện khung pháp lý, sự phát triển về quy mô của hệ thống.

VnEconomy điểm lại 10 sự kiện, vấn đề nổi bật trong hoạt động ngân hàng năm 2010 này.

1. Lãi suất đột ngột đảo chiều

Từ tháng 6, nhiều lần Chính phủ nhấn mạnh đến định hướng hạ lãi suất VND. Nỗ lực theo hướng này ghi nhận ở điểm đến 11%/năm của lãi suất huy động. Tuy nhiên, lạm phát gia tăng, cuộc đua lãi suất đột ngột bùng phát vào cuối năm và đỉnh điểm là sự kiện Techcombank “3 ngày vàng” khuyến mại, thị trường nhiều xáo trộn.

Đi cùng với diễn biến trên, lãi suất trong năm 2010 có sự song hành của các cam kết đồng thuận và sự mong manh của nó. “Phá trần”, “giao dịch ngầm”, “lãi suất chui”… là những cụm từ được một số phương tiện truyền thông dùng để phản ánh cho thực trạng của lãi suất những tháng cuối năm. Phải đến trung tuần tháng 12, Ngân hàng Nhà nước vào cuộc qua cam kết giữa các nhà băng, tình hình mới tương đối ổn định.

Hướng thắt chặt tiền tệ cũng thể hiện rõ vào cuối năm, khi Ngân hàng Nhà nước đồng loạt tăng các lãi suất chủ chốt, rút bớt kỳ hạn và nâng cao lãi suất chào mua trên thị mở.

2. Kỷ lục của chênh lệch tỷ giá

Khoảng 10% là chênh lệch kỷ lục giữa giá USD trên thị trường tự do so với giá niêm yết chính thống. Đây cũng là điểm nhấn của năm có nhiều biến động trên thị trường ngoại hối và sự điều chỉnh của chính sách, mà mức tăng chung cuộc 5,53% của tỷ giá USD/VND không thể phản ánh hết.

Ngay đầu năm là quyết định hạ tỷ lệ dự trữ bắt buộc bằng ngoại tệ, tiếp đó là mở rộng đối tượng được vay vốn bằng ngoại tệ, áp trần lãi suất tiền gửi USD tối đa 1%/năm đối với các tổ chức, thực hiện “kết hối” đối với các tập đoàn, tổng công ty lớn của Nhà nước, hai lần trực tiếp tăng tỷ giá bình quân liên ngân hàng, triển khai loạt giải pháp nắn dòng tín dụng ngoại tệ… Phía sau loạt chính sách này là trạng thái khá ổn định của tỷ giá và cung – cầu ngoại tệ trong khoảng 7 tháng đầu năm.

Nhưng căng thẳng trên thị trường bắt đầu bùng phát từ trung tuần tháng 10 và trong tháng 11; chênh lệch khoảng 10% nói trên có trong thời điểm này. Bên cạnh những giải pháp kỹ thuật, một lần nữa quyết định bán ra ngoại tệ được công bố.

3. Bùng nổ tín dụng ngoại tệ

Năm 2010, tăng trưởng tín dụng toàn hệ thống đạt 29,81%; trong đó tín dụng VND tăng 25,3%; tín dụng ngoại tệ tăng 49,3%. Nếu trừ hư số do tỷ giá và giá vàng tăng thì tổng dư nợ tăng 27,6%; trong đó tín dụng VND tăng 25,3%, tín dụng ngoại tệ tăng 37,7%.

Hạ dự trữ bắt buộc, mở rộng đối tượng được vay và đặc biệt là chênh lệch lớn về lãi suất là những yếu tố chính tạo nên một năm hiện tượng với sự bùng nổ của tín dụng bằng ngoại tệ. Đây được cho là một áp lực nổi bật đối với những biến động của thị trường ngoại hối.

Năm 2010 cũng ghi nhận sự khác biệt khi tốc độ tăng trưởng huy động luôn cao hơn tốc độ tăng trưởng tín dụng trong phần lớn thời gian của năm. Tuy nhiên, trong hai tháng cuối năm, huy động vốn tăng chậm và tín dụng tăng cao hơn. Tính chung, huy động vốn cả năm tăng 27,2%; nếu trừ hư số do tỷ giá và giá vàng tăng thì huy động vốn tăng 24,5%.

4. Tác động sâu rộng của Thông tư 13

Ngày 20/5/2010, Ngân hàng Nhà nước ban hành Thông tư số 13 quy định các tỷ lệ đảm bảo an toàn trong hoạt động của các tổ chức tín dụng. Đây là văn bản đáng chú ý nhất trong những điều chỉnh chính sách năm 2010 của nhà điều hành, ảnh hưởng sâu rộng đến hoạt động của các ngân hàng, thu hút sự quan tâm đặc biệt của công chúng – đặc biệt là giới đầu tư.

Thông tư này có độ trễ hơn 4 tháng để hiệu lực (từ 1/10/2010), nhưng phải đến đầu tháng 8 những tranh luận, phản ánh mới bắt đầu “bùng nổ”. Thủ tướng Chính phủ chỉ đạo Ngân hàng Nhà nước rà soát và sửa đổi. Sát ngày hiệu lực, cơ quan ban hành mới chính thức có Thông tư 19 với một số điểm điều chỉnh và vẫn giữ nguyên thời điểm hiệu lực của Thông tư 13.

Về cơ bản, những quy định của Thông tư 13 được xây dựng theo hướng nâng cao hơn các tiêu chuẩn an toàn, siết chặt hơn việc sử dụng các nguồn vốn trong hoạt động của các tổ chức tín dụng.

5. Công bố hai bộ luật mới

Tại kỳ họp thứ 7, khóa 12, Quốc hội chính thức thông qua hai bộ luật quan trọng: Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (sửa đổi) và Luật Các tổ chức tín dụng (sửa đổi).

Luật Ngân hàng Nhà nước 2010 đã có nhiều điểm sửa đổi theo hướng xác định rõ hơn vị trí của Ngân hàng Nhà nước; điều chỉnh nhiều nội dung trong lĩnh vực hoạt động của cơ quan này như về lãi suất, kế toán, dự trữ ngoại hối, kiểm toán nội bộ… Nhiều nội dung mới của luật đã đi sâu quy định rõ về thẩm quyền quyết định chính sách tiền tệ quốc gia, cụ thể hóa vai trò, vị trí của các cơ quan nhà nước trong việc quyết định và thực thi chính sách tiền tệ quốc gia.

Luật Các tổ chức tín dụng 2010 cũng có nhiều điểm mới, quy định cụ thể hơn, mở rộng phạm vi điều chỉnh về thành lập, tổ chức quản lý và hoạt động của các tổ chức tín dụng.

Hai bộ luật này bắt đầu có hiệu lực từ 1/1/2011.

6. Siết kinh doanh vàng

Năm 2010 ghi nhận sự can thiệp mạnh của nhà quản lý đối với hoạt động kinh doanh vàng của các tổ chức tín dụng. Ngân hàng Nhà nước chính thức chỉ đạo đóng cửa các sàn giao dịch vàng, tất toán trạng thái kinh doanh vàng trên tài khoản ở nước ngoài.

Hoạt động huy động và cho vay vàng của các ngân hàng có nghiệp vụ kinh doanh ngoại hối cũng bị thu hẹp, theo quy định của Thông tư số 22/2010/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước ban hành ngày 29/10/2010 về huy động và cho vay vốn bằng vàng của tổ chức tín dụng đối với khách hàng. Lãi suất huy động vàng sụt giảm mạnh trước tác động của chính sách này.

Thị trường vàng trong năm 2010 cũng chứng kiến nhiều biến động, trong đó có những thời điểm giá trong nước vượt trội so với giá thế giới. Biện pháp mà nhà điều hành thường đưa ra là cho phép nhập khẩu để bình ổn, trong khi vẫn còn những tranh cãi quanh con số khoảng 1.000 tấn vàng (?) nằm trong dân.

7. Giãn áp lực tăng vốn pháp định

Hơn 30.000 tỷ đồng là số vốn mà các ngân hàng cần phải gọi được để đảm bảo tăng vốn điều lệ lên tối thiểu 3.000 tỷ đồng trong năm 2010, theo hạn cuối quy định tại Nghị định 141. Đây là áp lực trải dài suốt năm, không chỉ có trong các kế hoạch gọi vốn chật vật, mà còn ám ảnh giới đầu tư trên thị trường chứng khoán.

Bên cạnh khó khăn và lợi ích trong gọi vốn, lo ngại mà giới phân tích đặt ra là năng lực quản trị, điều hành và khả năng đảm bảo hoạt động cân bằng ở những thành viên có bước tăng vốn đột biến như vậy. Để đáp ứng điều kiện trên, nhiều trường hợp buộc phải tăng vốn tới gấp 3 lần, trong khi vẫn đang quá độ từ sự chuyển đổi ngân hàng nông thôn lên đô thị.

Vào “phút cuối”, khi hạn đáp ứng vốn chỉ còn 15 ngày, Ngân hàng Nhà nước phát đi thông điệp gia hạn thời gian tăng vốn nói trên thêm một năm, đến 31/12/2011, theo chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ về nghiên cứu sửa đổi, bổ sung Nghị định 141.

8. Lo ngại gánh nặng nợ nần Vinashin

Gánh nặng nợ nần và nguy cơ phá sản của Tập đoàn Công nghiệp Tàu thủy Việt Nam (Vinashin) trở thành tâm điểm của các dòng chảy thời sự kinh tế trong năm 2010. Con số khoảng 86.000 tỷ đồng nợ của tập đoàn này gắn với mối lo ngại về khả năng thu hồi, khả năng gia tăng nợ xấu của hệ thống ngân hàng.

Đến hết năm 2010, kết quả đàm phán của Vinashin về đợt thanh toán 60 triệu USD đầu tiên trong khoản vay nước ngoài trị giá 600 triệu USD vẫn còn để ngỏ, khi đã qua thời điểm ân hạn và chưa có khả năng trả nợ.

Giải trình trước Ủy ban Kinh tế của Quốc hội, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước cho biết, toàn bộ dư nợ của hệ thống ngân hàng đối với Vinashin chỉ dưới 26 nghìn tỷ đồng và hiện đang cơ cấu lại 16 nghìn tỷ đồng. Số này chưa đưa vào nợ xấu, và nếu tính vào cũng chỉ tăng 0,7%.

Hiện Chính phủ đã triển khai đề án tái cơ cấu hoạt động của Vinashin và đang cho thấy một số chuyển biến bước đầu.

9. Định mức tín nhiệm xấu đi

Trong năm 2010, các tổ chức đánh giá tín nhiệm lớn trên thế giới như Fitch, Moody’s và Standard&Poor’s lần lượt hạ định mức tín nhiệm nợ quốc gia của Việt Nam, trái phiếu Chính phủ Việt Nam và định mức tín nhiệm của nhiều ngân hàng thương mại lớn.

Từ những góc độ khác nhau, nhưng kết quả mà các tổ chức này đưa ra đều tập trung ở quan ngại về sự ổn định của kinh tế vĩ mô, trạng thái của cán cân thanh toán, lạm phát, vấn đề định giá đồng nội tệ…; hay với các ngân hàng thương mại là quan ngại ở tốc độ gia tăng tín dụng, việc đáp ứng các tiêu chuẩn an toàn theo quy định mới…

Phía sau những đánh giá đó có thể là sự ảnh hưởng nhất định đến khả năng tiếp cận thị trường vốn quốc tế của Việt Nam, hay với các ngân hàng thương mại là yêu cầu nỗ lực để cải thiện chất lượng trong hoạt động.

10. Quy mô các ngân hàng phát triển mạnh

Có nhiều khó khăn trong hoạt động nhưng năm 2010 tiếp tục ghi nhận sự phát triển mạnh về quy mô của các tổ chức tín dụng. Tổng tài sản có của hệ thống tăng tới 28%. Hầu hết các thành viên đều tăng cường mở rộng mạng lưới, đầu tư phát triển sản phẩm và dịch vụ. Khoảng cách quy mô giữa nhóm ngân hàng thương mại cổ phần hàng đầu với khối quốc doanh đã được rút ngắn, đi cùng với đó là sự dịch chuyển thị phần đáng chú ý.

Bên cạnh đó, năm 2010 đánh dấu sự hiện diện và hoạt động một cách toàn diện của các ngân hàng 100% vốn nước ngoài với sự mở rộng mạng lưới, sản phẩm dịch vụ một cách nhanh chóng. Vào thời điểm cuối năm, thị trường đón nhận loạt thông tin các ngân hàng ngoại tăng mạnh vốn được cấp. Sức cạnh tranh từ khối này chính thức bước vào giai đoạn mới.

Đi cùng với những chuyển động này là sự gia tăng lợi ích của khách hàng. Bên cạnh các sản phẩm truyền thống, năm 2010 ghi nhận sự mở rộng của các dịch vụ tiện ích như ngân hàng điện tử, đặc biệt là dịch vụ thẻ với việc triển khai kết nối mạng lưới ATM, POS thành một hệ thống thống nhất trên toàn quốc.

Yêu cầu thu hồi nhà đất công dùng sai mục đích

Thủ tướng vừa chỉ đạo các địa phương phối hợp với các bộ, ngành triển khai thu hồi các cơ sở nhà đất công sử dụng sai mục đích…

Tính đến cuối năm 2010, tổng số nhà đất công trên cả nước là hơn 19.000 cơ sở.

Thủ tướng Chính phủ vừa chỉ thị UBND các tỉnh, thành phố phối hợp với các bộ, ngành liên quan triển khai thu hồi các cơ sở nhà đất công sử dụng sai mục đích.

Ngoài yêu cầu trên, người đứng đầu Chính phủ cũng yêu cầu các đơn vị trên cùng các tập đoàn kinh tế khẩn trương hoàn thành phương án sắp xếp lại, xử lý đối với các cơ sở nhà, đất thuộc sở hữu của nhà nước sử dụng không đúng mục đích, bỏ trống, cho mượn, cho thuê.

Bộ Tài chính có trách nhiệm chủ trì, phối hợp với các tỉnh, thành phố khẩn trương kiểm tra, phê duyệt phương án sắp xếp lại, xử lý nhà, đất thuộc sở hữu nhà nước của các bộ, cơ quan ngang bộ, tập đoàn kinh tế, tổng công ty nhà nước do Thủ tướng thành lập… để làm căn cứ triển khai thực hiện.

Bên cạnh đó, UBND các tỉnh, thành phố cũng cần phối hợp với các bộ, ngành và cơ quan liên quan khẩn trương lập, phê duyệt phương án di dời, bồi thường hỗ trợ, tái định cư theo quy định của pháp luật để di dời các hộ dân ra khỏi khuôn viên trụ sở cơ quan, đơn vị thuộc Trung ương quản lý để sử dụng đúng mục đích, đúng quy định khi thực hiện sắp xếp lại, xử lý nhà, đất.

Thủ tướng cũng yêu cầu Bộ Tài chính kịp thời báo cáo đối với các bộ, ngành, địa phương và đơn vị thực hiện chậm trễ hoặc không nghiên túc thực hiện chỉ đạo của Thủ tướng để có biện pháp xử lý phù hợp.

Theo thống kê của Cục Quản lý công sản (Bộ Tài chính), tính đến cuối năm 2010, tổng số nhà đất công trên cả nước là hơn 19.000 cơ sở,  trong đó tập trung chủ yếu ở Tp.HCM (10.787 cơ sở,) và Hà Nội ( 8.268 cơ sở).

Tổng số tiền thu được từ việc bán, chuyển đổi mục đích sử dụng nhà đất công tại hai thành phố trên là hơn 17 nghìn tỷ đồng. Theo đánh giá của các bộ, ngành việc tổ chức sắp xếp, xử lý nhà đất công trong thời gian qua diễn ra chậm, nhiều tổ chức, doanh nghiệp, bộ ngành vẫn còn tình trạng để lãng phí nhà đất công.

NNC ước lãi 102 tỷ đồng trong năm 2010

Hội đồng Quản trị NNC thông báo tình hình sản xuất, kinh doanh quý 4/2010, năm 2010 và kế hoạch sản xuất quý 1/2011…

NNC thông qua tạm ứng cổ tức đợt 2/2010 tỷ lệ 14% trước Đại hội cổ đông dự kiến thực hiện vào quý 1/2011.

Hội đồng Quản trị Công ty Cổ phần Đá Núi Nhỏ (mã NNC-HOSE) thông báo tình hình sản xuất, kinh doanh quý 4/2010, cả năm 2010 và kế hoạch sản xuất quý 1/2011.

Theo đó, riêng trong quý 4/2010, NNC ước doanh thu đạt 69,6 tỷ đồng, lũy kế doanh thu cả năm 2010 là 257 tỷ đồng, vượt 18,53% kế hoạch cả năm.

Lợi nhuận ước đạt trong quý 4/2010 là 25 tỷ đồng, lũy kế cả năm 2010 đạt 102 tỷ đồng, vượt 74,85% kế hoạch năm 2010 (58,34 tỷ đồng).

Trong quý 1/2011, NNC đặt mục tiêu với doanh thu đạt 62,07 tỷ đồng, lợi nhuận trước thuế đạt 18,94 tỷ đồng. Đồng thời, NNC thông qua tạm ứng cổ tức đợt 2/2010 tỷ lệ 14% trước thời điểm tổ chức Đại hội cổ đông dự kiến thực hiện vào quý 1/2011.

Ngưng góp vốn 300 triệu đồng vào Công ty Cổ phần thể thao M&C Bình Dương vì công ty này không thành lập Công ty Cổ phần Thể thao; ngừng thi công trạm cân đá đầu ra khu vực 3 và phương án làm đường vành đai, khi có giấy phép khai thác mở rộng 4,5ha tại mỏ núi đã nhỏ sẽ tiến hành thi công.

Tiêu thụ thép được dự báo sẽ “trầm” vào đầu năm 2011

Những tháng giáp và sau Tết Nguyên đán lượng tiêu thụ thép thường giảm đáng kể…

Hai tháng đầu năm 2011, lượng thép tiêu thụ được dự báo chỉ ở mức khoảng 300.000 tấn/tháng.

Những tháng đầu năm 2011, lượng tiêu thụ thép xây dựng theo dự báo sẽ ở mức thấp. Như vậy, giá bán của mặt hàng này sẽ khó có thể tăng thêm.

Ông Nguyễn Tiến Nghi, Phó chủ tịch Hiệp hội Thép Việt Nam (VSA) cho biết: tháng 11/2010, lượng thép tiêu thụ đạt mức 520.000 tấn. Tiếp tục đà tăng của sức mua, tháng 12 theo dự báo lượng thép được mua vào sẽ ở mức khoảng 500.000 tấn.

Tuy nhiên, những ngày cuối cùng của tháng 12 đã khép lại, nhưng theo báo cáo của các doanh  nghiệp trong Hiệp hội Thép thì sức mua của thị trường khá yếu. Lượng tiêu thụ có thể chỉ ở mức 330.000- 340.000 tấn.

Do đó, các nhà sản xuất vẫn phải bán ra phổ biến ở mức khoảng 14 triệu đồng/tấn (chưa bao gồm VAT). “Trong bối cảnh gần đây, tỷ giá giữa USD và VND liên tục tăng cao, trên thị trường thế giới nguyên liệu đầu vào cũng đã tăng nhẹ so với mức 600 USD/tấn phôi và khoảng 400 USD/tấn đối với thép phế đã được giữ trong thời gian dài trước đó, thì với giá bán hiện nay nhiều nhà doanh nghiệp đang bán thấp hơn giá thành”, ông Nghi nói.

Cũng theo ông Nghi, trong khi thông thường vào các tháng đầu năm mới, lượng tiêu thụ thép luôn ở mức không cao. Cộng thêm với lạm phát cả năm 2010 ở mức 11,75% sẽ khiến Chính phủ phải có nhiều biện pháp nhằm hạn chế lượng tiền đang lưu thông. Theo đó VSA ước tính trong tháng 1 và tháng 2 năm 2011 lượng thép tiêu thụ sẽ chỉ ở mức 300.000 tấn, thậm chí là còn thấp hơn mức này. “Lượng tiêu thụ không cao thì giá bán cũng rất khó được điều chỉnh tăng.

Tạm ngừng các khoản chi tổng kết, liên hoan, hội nghị

Mục tiêu số 1 và cũng là tư tưởng điều hành nhất quán của Chính phủ năm tới là ổn định kinh tế vĩ mô và kiềm chế lạm phát…

Chính phủ triển khai Nghị quyết của Quốc hội về nhiệm vụ phát triển kinh tế xã hội và ngân sách Nhà nước năm 2011.

Đây là thông tin được Bộ trưởng Tài chính Vũ Văn Ninh khẳng định khi Báo cáo công tác quản lý, điều hành, kiểm soát giá cả, hàng hóa năm 2011 tại Hội nghị của Chính phủ với các địa phương triển khai Nghị quyết của Quốc hội về nhiệm vụ phát triển kinh tế xã hội và ngân sách Nhà nước năm 2011, ngày 30/12 tại Hà Nội.

Loại trừ các khoản chi không đúng chế độ

Tại đây, người đứng đầu ngành tài chính đã chỉ ra một số hạn chế trong điều hành quản lý giá năm qua, đó là sự phối hợp giữa các bộ, ngành, địa phương chưa đồng bộ nên công tác bình ổn giá đạt hiệu quả chưa cao; việc điều hành cung – cầu một số hàng hóa, dịch vụ chưa tốt như điện, đường ăn, vàng, ngoại tệ….

Cạnh đó, hệ thống cung ứng hàng hóa dịch vụ chưa được sắp xếp hợp lý, còn có hiện tượng độc quyền (sữa); chồng chéo, vòng vèo, tầng nấc đẩy chi phí lưu thông tăng cao khó kiểm soát như phân bón, thuốc phòng chữa bệnh, xi măng, sắt thép… đẩy chi phí lưu thông lên cao khó kiểm soát.

“Quản lý giá một số mặt hàng còn lúng túng, bị động, hiệu quả chưa cao, nhất là sữa, thuốc phòng chữa bệnh”, Bộ trưởng Ninh nhấn mạnh.

Theo Bộ trưởng, dự báo giá cả năm tới sẽ “nhích lên” do một số tác động khách quan lẫn nguyên nhân nội tại.

Để thực hiện mục tiêu kiềm chế lạm phát dưới 7% theo Nghị quyết của Quốc hội, Bộ trưởng nhấn mạnh một số giải pháp như tiếp tục rà soát, bãi bỏ các khoản thu phí, lệ phí bất hợp lý, trái pháp luật. Sử dụng linh hoạt các công cụ phí, thuế, Quỹ Bình ổn giá để bình ổn giá xăng dầu và một số hàng hóa, dịch vụ thiết yếu.

Đồng thời tăng cường kiểm soát chi từ ngân sách Nhà nước, loại trừ các khoản chi không đúng chế độ, không đúng định mức và không đúng tiêu chuẩn, chi lương, chi thưởng cuối năm không đúng quy định.

Một số giải pháp khác cũng được Bộ trưởng nhấn mạnh như tạm ngừng các khoản chi chưa thực sự cấp bách, nội dung không thiết thực (như chi tổng kết, liên hoan, hội nghị, đoàn vào, đoàn ra, chi mua sắm tài sản). Tiếp tục sử dụng ngân sách địa phương hỗ trợ vốn không lãi suất cho các doanh nghiệp kinh doanh hàng hóa, dịch vụ thiết yếu dự trữ hàng hóa, góp phần bảo đảm cân đối cung cầu…

 Mục tiêu số 1: Kiềm chế lạm phát

Trình bày dự thảo Nghị quyết của Chính phủ về những giải pháp chủ yếu chỉ đạo, điều hành thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội và dự toán ngân sách Nhà nước, Phó thủ tướng Nguyễn Sinh Hùng nhấn mạnh mục tiêu số 1 và cũng là tư tưởng điều hành nhất quán của Chính phủ năm tới là ổn định kinh tế vĩ mô và kiềm chế lạm phát. “Đây là mục tiêu số một, mục tiêu hàng đầu, mục tiêu nhất quán của cả năm 2011”.

Phó Thủ tướng cũng chỉ rõ nguyên nhân dẫn tới lạm phát tăng cao năm 2010, ngoài yếu tố khách quan từ tác động giá cả tăng cao của thế giới ảnh hưởng đến giá cả các mặt hàng trong nước, còn có nguyên nhân từ nội tại, điều hành.

Với năm 2011, theo Phó thủ tướng, chính sách tiền tệ phải được điều hành một cách chủ động, linh hoạt và thận trọng. Đây là tư tưởng nhất quán của cả năm trong điều hành chính sách tiền tệ, điều hành tỷ giá, sử dụng các công cụ chính sách tiền tệ của Ngân hàng Nhà nước năm 2011.

Mục tiêu của chính sách tiền tệ là vừa đảm bảo kiềm chế lạm phát đồng thời vừa phải đảm bảo khả năng thanh khoản của nền kinh tế, cung ứng tiền bạc cho sự phát triển của doanh nghiệp, các thành phần kinh tế và của đất nước”, Phó thủ tướng nói.

Vấn đề kiểm soát giá cả cũng được nhấn mạnh. Chính phủ xác định việc kiểm soát này không đi ngược với những quy định quốc tế nhưng bảo đảm sử dụng các chính sách để tránh đầu cơ, găm hàng, tránh gây xáo động thị trường. Đồng thời Chính phủ cũng yêu cầu kiểm soát nhập siêu, cải thiện cán cân thanh toán.

TIG ký hợp đồng khu biệt thự sinh thái Hồ Đồng Xương

Dự kiến dự án có tổng mức đầu tư trên 1.500 tỷ đồng và sẽ được triển khai thực hiện trong giai đoạn 2011 – 2015…

Hồ Đồng Xương

Ngày 27/12, Công ty Cổ phần Tập đoàn Đầu tư Thăng Long (mã TIG-HNX) đã chính thức ký hợp đồng hợp tác đầu tư với Công ty Đầu tư Phát triển Nông nghiệp Hà Nội (Hadico) để triển khai thực hiện dự án khu biệt thự sinh thái nghỉ dưỡng Hồ Đồng Xương, Hà Nội.

Nằm trên địa phận xã Thành Lập, huyện Ba Thá, thuộc địa phận Hà Nội, cạnh trục đường Hồ Chí Minh, cách thị trấn Xuân Mai khoảng 10 km, dự án này có tổng diện tích khoảng 500 ha, trong đó có khoảng 300ha mặt hồ và khoảng 200 ha đất đồi thấp ven hồ.

Đây là khu đất đồi chè đang thuộc quản lý của Hadico, nằm trong quy hoạch phát triển du lịch sinh thái nghỉ dưỡng phía Tây của thành phố Hà Nội, các bên thống nhất nghiên cứu lập quy hoạch khu đất thành một Khu du lịch – biệt thự sinh thái nghỉ dưỡng cao cấp, lập dự án trình cơ quan thẩm quyền phê duyệt.

Dự kiến dự án có tổng mức đầu tư trên 1.500 tỷ đồng, Trong đó, TIG và công ty thành viên là ThangLong Invest land góp 60% vốn đầu tư, bên Hadico góp 40% vốn đầu tư. Dự án sẽ được triển khai thực hiện trong giai đoạn 2011 – 2015, góp phần tạo thêm quỹ đất lớn và nhiều tiềm năng phục vụ cho chiến lược phát triển lâu dài của TIG trong tương lai.

Tin vắn chứng khoán ngày 31/12

Những thông tin đáng chú ý ngày 31/12/2010 về doanh nghiệp trên thị trường chứng khoán Việt Nam…

3 triệu cổ phiếu BSC chính thức giao dịch trên HNX vào ngày 31/12/2010.

Những thông tin đáng chú ý ngày 31/12/2010 về doanh nghiệp trên thị trường chứng khoán Việt Nam.

* Sở Giao dịch Chứng khoán Tp.HCM thông báo nhận hồ sơ đăng ký niêm yết lần đầu của Công ty Cổ phần Du lịch Dịch vụ Hội An với số lượng đăng ký 8 triệu cổ phiếu. Công ty có vốn điều lệ 80 tỷ đồng, trụ sở chính đặt tại số 10 Trần Hưng Đạo, Tp.Hội An, Quảng Nam.

* Ngày 29/12/2010, Sở Giao dịch Chứng khoán Tp.HCM đã có công văn chấp thuận về nguyên tắc cho Công ty Cổ phần Đầu tư và Phát triển Đô thị Dầu khí Cửu Long được niêm yết 25.000.000 cổ phiếu trên HOSE. Để hoàn tất thủ tục cấp Quyết định niêm yết chính thức, Công ty cần hoàn chỉnh Hồ sơ theo yêu cầu.

* Từ ngày 31/12/2010 – 25/2/2011, Deutsche bank Ag London, cổ đông lớn của Công ty Cổ phần Kinh Đô (mã KDC-HOSE) đăng ký bán 1.500.000 cổ phiếu, đăng ký mua 1.500.000 cổ phiếu, số cổ phiếu hiện sẽ nắm giữ là 5.041.678 cổ phiếu, chiếm 5,03% vđl, nhằm mua và bán cổ phiếu.

* Từ ngày 4/1/2011 – 15/1/2011, ông Phạm Thanh Quảng – Phó tổng giám đốc Công ty Cổ phần Đầu tư Phát triển Cường Thuận Idico (mã CTI-HOSE) đăng ký bán 14.500 cổ phiếu, số cổ phiếu nắm giữ còn 40.000 cổ phiếu, nhằm chi tiêu cá nhân.

* Ngày 28/12/2010, Công ty Cổ phần Chứng khoán Thăng Long, cổ đông lớn của Công ty Cổ phần Cơ điện và Xây dựng Việt Nam (mã MCG-HOSE) đã mua 4.750.000 cổ phiếu, trong đó 4.000.00 cổ phiếu là mua chiến lược, 750.000 cổ phiếu là quyền mua của cổ đông hiện hữu, chiếm 8,64% trên tổng số cổ phiếu hiện đang lưu hành.

* Từ ngày 31/12/2010 – 28/2/2011, Công ty Cổ phần Chứng khoán Thăng Long, cổ đông lớn của Công ty Cổ phần Cơ điện và Xây dựng Việt Nam (mã MCG-HOSE) đăng ký mua 800.000 cổ phiếu, số cổ phiếu sẽ nắm giữ là 5.670.222 cổ phiếu, chiếm 10,1% vốn điều lệ.

* Từ ngày 20/9/2010 – 2/11/2010, ông Vũ Ngọc Hướng – thành viên Ban kiểm soát Công ty Cổ phần Đai lý Giao nhận Vận tải Xếp dỡ Tân cảng (mã TCL-HOSE) đã bán 2.630 cổ phiếu, số cổ phiếu nắm giữ còn 5.201 cổ phiếu, nhằm sử dụng cho nhu cầu tài chính cá nhân.

* Từ ngày 4/1/2011 – 1/3/2011, ông Vũ Ngọc Hướng – thành viên Ban kiểm soát Công ty Cổ phần Đai lý Giao nhận Vận tải Xếp dỡ Tân cảng (mã TCL-HOSE) đăng ký bán hết 5.201 cổ phiếu, nhằm sử dụng cho nhu cầu tài chính cá nhân.

* Ngày 24/12/2010, bà Phạm Linh Phương, cổ đông lớn của Công ty Cổ phần nhà Việt Nam (mã NVN-HOSE) đã mua 113.210 cổ phiếu, nâng số cổ phiếu nắm giữ lên 775.920 cổ phiếu, chiếm 7,28% trên tổng số cổ phiếu hiện đang lưu hành.

* Từ ngày 30/12/2010 – 28/2/2011, bà Phạm Linh Phương, cổ đông lớn của Công ty cổ phần nhà Việt Nam (mã NVN-HOSE) đăng ký mua 600.000 cổ phiếu, đăng ký bán 600.000 cổ phiếu, số cổ phiếu sẽ nắm giữ là 775.920 cổ phiếu, chiếm 7,28% trên tổng số cổ phiếu hiện đang lưu hành, vì lý do tài chính cá nhân.

* Từ ngày 4/1/2011 – 1/3/2011, ông Phạm Văn Huệ – chủ tịch Hội đồng Quản trị Công ty Cổ phần Phân phối Khí thấp áp Dầu khí Việt Nam (mã PGD-HOSE) đăng ký bán hết 40.648 cổ phiếu, để giải quyết công việc của gia đình.

* Từ ngày 27/10/2010 – 27/12/2010, Quỹ tầm nhìn SSI, cổ đông lớn của Công ty Cổ phần Khử trùng Việt Nam (mã VFG-HOSE) đăng ký mua 200.000 cổ phiếu, đã mua 190.990 cổ phiếu, đăng ký bán 200.000 cổ phiếu, nhưng không bán được, số cổ phiếu hiện đang nắm giữ là 875.734 cổ phiếu, chiếm 8,98% vđl, nhằm cơ cấu danh mục đầu tư.

* Từ ngày 4/1/2010 – 4/3/2011, Quỹ tầm nhìn SSI, cổ đông lớn của Công ty Cổ phần Khử trùng Việt Nam (mã VFG-HOSE) đăng ký mua 270.000 cổ phiếu, đăng ký bán 270.000 cổ phiếu, số cổ phiếu sẽ nắm giữ là 875.734 cổ phiếu, chiếm 8,98% vđl, nhằm cơ cấu danh mục đầu tư.

* Từ ngày 1/11/2010 – 29/12/2010, Công ty Cổ phần Chứng khoán Âu Việt, tổ chức có liên quan đến cổ đông nội bộ của Công ty cổ phần Phát triển hạ tầng & Bất động sản Thái Bình Dương (mã PPI-HOSE) đăng ký mua 630.320 cổ phiếu, đã mua 68.850 cổ phiếu, đăng ký bán 200.000 cổ phiếu, đã bán 69.680 cổ phiếu, số cổ phiếu hiện đang nắm giữ là 68.850 cổ phiếu, chiếm 0,05% vđl, nhằm cơ cấu danh mục đầu tư.

* Từ ngày 4/1/2010 – 6/3/2011, Công ty Cổ phần Chứng khoán Âu Việt, tổ chức có liên quan đến cổ đông nội bộ của Công ty cổ phần Phát triển hạ tầng & Bất động sản Thái Bình Dương (mã PPI-HOSE) đăng ký mua 331.150 cổ phiếu, đăng ký bán 200.000 cổ phiếu, số cổ phiếu sẽ nắm giữ là 200.000 cổ phiếu, chiếm 1,64% vđl, nhằm cơ cấu danh mục đầu tư.

* Từ ngày 4/1/2011 – 4/3/2011, ông Trần Hữu Chinh – Chủ tịch Hội đồng Quản trị kiêm Tổng giám đốc Công ty Cổ phần ngoại thương và phát triển đầu tư Thành phố Hồ Chí Minh (mã FDC-HOSE) đăng ký mua 100.000 cổ phiếu, đăng ký bán 50.000 cổ phiếu, số cổ phiếu sẽ nắm giữ là 792.369 cổ phiếu, nhằm cơ cấu danh mục đầu tư.

* Công ty Cổ phần Hàng hải Hà Nội (mã MHC-HOSE) thông báo ngày 24/12, công ty đã ký hợp đồng chuyển nhượng vốn góp số: HĐCNV 06/2010/MHC/DXP với Công ty Cổ phần Đọan Xá về việc chuyển nhượng toàn bộ phần vốn góp của MHC tại Công ty TNHH Vận tải hàng Công nghệ cao – Transvina (15% vốn điều lệ) cho Công ty Cổ phần Đọan Xá, trị giá của hợp đồng này là 1.160.000 USD.

* Công ty Cổ phần Sản xuất Kinh doanh Xuất nhập khẩu Bình Thạnh (mã GIL-HOSE) thông báo thông qua kế hoạch tổ chức lại sản xuất tại Nhà máy Gilimex Thạnh Mỹ (Cụm công nghiệp Hắc Dịch, xã Hắc Dịch, huyện Tân Thành, tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu, thành lập tổ kinh doanh nội địa và Kế hoạch hợp tác đầu tư phát triển sản xuất kinh doanh tại Miền Trung.

* Từ ngày 1/11/2010 – 17/12/2010, ông Lê Quốc Hưng, cổ đông lớn của Công ty Cổ phần Kinh doanh và phát triển Bình Dương (mã TDC-HOSE) đã mua 200.000 cổ phiếu, nâng số cổ phiếu nắm giữ lên 1.230.000 cổ phiếu, chiếm 6,15% vốn điều lệ, nhằm cơ cấu lại tài khoản.

* Công ty Cổ phần Cao su Đà Nẵng (mã DRC-HOSE) thông báo bà Phạm Thị Thoa – Ủy viên Hội đồng Quản trị; Phó tổng giám đốc kiêm kế toán trường sẽ thôi chức danh điều hành tại Công ty kể từ ngày 1/1/2011, giữ nguyên chức danh Ủy viên Hội đồng Quản trị cho đến Đại hội đồng cổ đông thường niên năm 2011.

* Từ ngày 1/9/2010 – 29/11/2010, Công ty Cổ phần Đại Thiên Lộc (mã DTL-HOSE) đăng ký bán 10.000 cổ phiếu, nhưng không bán được do giá cả chưa phù hợp, số cổ phiếu hiện đang nắm giữ là 10.000 cổ phiếu quỹ.

* Bà Võ Thị Minh Phấn, vợ ông Cáp Thành Dũng – Tổng Giám đốc của Công ty cổ phần mía đường nhiệt điện Gia Lai (mã SEC-HOSE) đã báo cáo kết quả giao dịch cổ phiếu SEC chậm trễ so với quy định sau khi đăng ký giao dịch ngày 6/5/2010.

* Ngày 21/12/2010, Deutsche Bank AG London, cổ đông lớn của Công ty Cổ phần Đại lý Liên hiệp Vận chuyển (mã GMD-HOSE) đã mua 54.520 cổ phiếu, nâng số cổ phiếu nắm giữ lên 5.053.806 cổ phiếu, chiếm 5,05% vốn điều lệ.

* Từ ngày 24/11/2010 – 17/12/2010, ông Lê Quốc Duy – Ủy viên Hội đồng Quản trị Công ty Cổ phần Xây dựng và Kinh doanh Địa ốc Hòa Bình (mã HBC-HOSE) đã bán 40.000 cổ phiếu, số cổ phiếu nắm giữ còn 122.812 cổ phiếu.

* Từ ngày 22/10/2010 – 20/12/2010, Quỹ tầm nhìn SSI, cổ đông lớn của Công ty Cổ phần Sản xuất Kinh doanh Xuất nhập khẩu Bình Thạnh (mã GIL-HOSE) đã mua 135.000 cổ phiếu, nâng số cổ phiếu nắm giữ lên 1.688.860 cổ phiếu, chiếm 13,22% vốn điều lệ.

* Từ ngày 7/12/2010 – 13/12/2010, Deutsche Bank Aktiengesellschaft, Deutsche Bank Management (Asia) Limited, cổ đông lớn của Công ty Cổ phần Phát triển nhà Thủ Đức (mã TDH-HOSE) thông báo Deutsche Bank Management (Asia) Limited đã bán 450.000 cổ phiếu, số cổ phiếu nắm giữ còn 1.850.650 cổ phiếu, chiếm 4,91% vốn điều lệ, trong đó: Deutsche Bank Aktiengesellschaft nắm giữ 1.682.481, chiếm 4,44% vốn điều lệ, Deutsche Bank Management (Asia) Limited nắm giữ 6 cổ phiếu, chiếm 0,00% vốn điều lệ; Deutsche Bank Management (Asia) Limited  nắm giữ 178.180 cổ phiếu, chiếm 0,47% vốn điều lệ; Deutsche Bank Management (Asia) Limited nắm giữ 3 cổ phiếu, chiếm 0,00% vốn điều lệ.

* Từ ngày 23/10/2010 – 21/12/2010, Công ty Cổ phần Chứng khoán Quốc tế Việt Nam, cổ đông nội bộ của Công ty Cổ phần Nhiệt điện Phả Lại (mã PPC-HOSE) đăng ký bán 538.451 cổ phiếu, đã bán 157.000 cổ phiếu, nguyên nhân không bán hết là do mức giá không đạt kỳ vọng, số cổ phiếu hiện đang nắm giữ là 381.451 cổ phiếu, nhằm cơ cấu danh mục.

* Từ ngày 11/1/2010 – 9/4/2010, ông Lê Khắc Chung – Phó tổng giám đốc Công ty Cổ phần Mía đường Lam Sơn (mã LSS-HOSE) đăng ký bán 10.000 cổ phiếu, nhưng không bán được do mức giá không đạt kỳ vọng, số cổ phiếu hiện đang nắm giữ là 30.940 cổ phiếu, chiếm 0,103% vốn điều lệ.

* Từ ngày 21/10/2010 – 21/12/2010, Tổng công ty Công nghiệp Xi măng Việt Nam, tổ chức có liên quan đến cổ đông nội bộ của Công ty Cổ phần Vận tải Hà Tiên (mã HTV-HOSE) đăng ký bán 1.008.000 cổ phiếu, nhưng không bán được do mức giá không đạt kỳ vọng, số cổ phiếu hiện đang nắm giữ là 5.047.970, nhằm cơ cấu danh mục đầu tư.

* Ngày 21/12/2010, Công ty Cổ phần Chứng khoán Sài Gòn – Hà Nội, cổ đông lớn của Công ty Cổ phần xây lắp và Địa ốc Vũng Tàu (mã VRC-HOSE) đã mua 123.490 cổ phiếu, đã bán 13.000 cổ phiếu, số cổ phiếu hiện đang nắm giữ là 978.450 cổ phiếu, chiếm 9,67% vốn điều lệ, nhằm tái cơ cấu danh mục đầu tư.

* Ngày 10/8/2010, ông Lê Thanh Tùng – Phó tổng giám đốc Công ty Cổ phần Mía đường Lam Sơn (mã LSS-HOSE) đã mua 830 cổ phiếu, do sai sót mà chưa báo cáo Ủy ban Chứng khoán và HOSE, số cổ phiếu hiện đang nắm giữ là 449.640 cổ phiếu.

* Từ ngày 13/5/2010 – 13/7/2010, ông Phan Phạm Phú Nam Châu – thành viên Ban kiểm soát Công ty Cổ phần Khoáng sản và Vật liệu Xây dựng Lâm Đồng (mã LBM-HOSE) đăng ký bán 3.150 cổ phiếu, nhưng không bán được do mức giá không đạt kỳ vọng, số cổ phiếu hiện đang nắm giữ là 4.050 cổ phiếu, nhằm cơ cấu danh mục đầu tư.
 
* Từ ngày 2/7/2010 – 30/8/2010, ông Phan Văn Hiếu – Phó chủ tịch Hội đồng Quản trị Công ty Cổ phần Cavico Việt nam Khai thác mỏ và Xây dựng (mã MCV-HOSE) đã bán hết 4.778 cổ phiếu, nhằm đáp ứng nhu cầu tài chính cá nhân.

* Ngày 31/12/2010, 3.000.000 cổ phiếu Công ty Cổ phần Dịch vụ Bến Thành (mã BSC-HNX) chính thức giao dịch trên HNX với giá trị chứng khoán niêm yết  theo mệnh giá là 30.000.000.000 đồng.

* Ngày 31/12/2010, 3.000.000 cổ phiếu của Công ty Cổ phần Đường Kon Tum (mã KTS-HNX) chính thức giao dịch trên HNX với tổng giá trị chứng khoán niêm yết theo mệnh giá là 30.000.000.000 đồng.

* Ngày 31/12/2010, 561.400 cổ phiếu niêm yết bổ sung của Công ty Cổ phần Đầu tư và Xây lắp Sông Đà (mã SDD-HNX) chính thức giao dịch trên HNX với giá trị cổ phiếu niêm yết bổ sung theo mệnh giá là 5.614.000.000 đồng.

* Ngày 31/12/2010, 2.800.000 cổ phiếu niêm yết bổ sung của Công ty Cổ phần Sông Đà 4 (mã SD4-HNX) chính thức giao dịch trên HNX với giá trị cổ phiếu niêm yết bổ sung theo mệnh giá là 28.000.000.000 đồng.

* Từ ngày 17/12/2010 – 22/12/2010, ông Vũ Việt Hùng – thành viên Hội đồng Quản trị Công ty Cổ phần Sản xuất Thương mại Dịch vụ Phú Phong (mã PPG-HNX) đăng ký mua 100.000 quyền mua, đã mua 49.925 quyền mua. Nguyên nhân không thực hiện hết số lượng quyền mua đã đăng ký là do số lượng phân phối quyền mua do Tcổ phiếuH quyết định, số cổ phiếu dự kiến nắm giữ sau khi thực hiện quyền mua là 76.325 cổ phiếu.

* Từ ngày 17/12/2010 – 23/12/2010, ông Lê Mạnh – Chủ tịch Hội đồng Quản trị Công ty Cổ phần Sản xuất Thương mại Dịch vụ Phú Phong (mã PPG-HNX) đăng ký mua 100.000 quyền mua, đã mua 60.000 quyền mua. Nguyên nhân không thực hiện hết số lượng quyền mua đã đăng ký là do số lượng phân phối quyền mua do Tcổ phiếuH quyết định, số cổ phiếu dự kiến nắm giữ sau khi thực hiện quyền mua là 200.000 cổ phiếu.

* Từ ngày 17/12/2010 – 22/12/2010, ông Trần Vĩ Thành, em ông Trần Vĩ Quyền – thành viên Hội đồng Quản trị Công ty Cổ phần Sản xuất Thương mại Dịch vụ Phú Phong (mã PPG-HNX) đăng ký mua 100.000 quyền mua, đã mua 83.950 quyền mua. Nguyên nhân không thực hiện hết số lượng quyền mua đã đăng ký là do số lượng phân phối quyền mua do Tcổ phiếuH quyết định, số cổ phiếu dự kiến nắm giữ sau khi thực hiện quyền mua là 84.950 cổ phiếu.

* Từ ngày 17/12/2010 – 22/12/2010, ông Mạc Trần Hồng – thành viên Hội đồng Quản trị Công ty Cổ phần Sản xuất Thương mại Dịch vụ Phú Phong (mã PPG-HNX) đăng ký mua 100.000 quyền mua; đã mua 50.000 quyền. Nguyên nhân không thực hiện hết số lượng quyền mua đã đăng ký là do số lượng phân phối quyền mua do Tcổ phiếuH quyết định, số cổ phiếu dự kiến nắm giữ sau khi thực hiện quyền mua là 196.900 cổ phiếu.

* Ngày 17/12/2010; 21/12/2010; 24/12/2010, Công ty Cổ phần Chứng khoán Hà Thành, cổ đông lớn của Công ty Cổ phần Vận tải và Dịch vụ Petrolimex Sài Gòn (mã PSC-HNX) đã mua 21.200 cổ phiếu, đã bán 400.000 cổ phiếu, số cổ phiếu nắm giữ còn 467.200 cổ phiếu, tương đương với 9,73% trên tổng số cổ phiếu đang lưu hành.

* Từ ngày 1/11/2010 – 16/12/2010, Công ty Cổ phần Đầu tư Hài Hòa, tổ chức có liên quan đến cổ đông nội bộ của Công ty Cổ phần Dịch vụ Hạ tầng mạng (mã NIS-HNX) đăng ký mua 150.000 cổ phiếu, đã mua 19.800 cổ phiếu, đăng ký bán 50.000 cổ phiếu, đã bán 50.200 cổ phiếu, số cổ phiếu hiện đang nắm giữ là 69.600 cổ phiếu.

* Từ ngày 26/11/2010 – 23/12/2010, bà Lê Ngọc Tiến, vợ ông Nguyễn Đức Trung – thành viên Hội đồng Quản trị Công ty Cổ phần Đầu tư và Xây dựng Cotec (mã CIC-HNX) đăng ký bán 38.700 cổ phiếu, đã bán 26.700 cổ phiếu. Nguyên nhân không bán hết là do không đạt kỳ vọng, số cổ phiếu hiện đang nắm giữ là 12.000 cổ phiếu.

* Từ ngày 21/12/2010 – 22/12/2010, bà Phan Ngọc Linh – thành viên Ban kiểm soát Công ty Cổ phần Đầu tư và Xây dựng Cotec (mã CIC-HNX) đã bán 3.000 cổ phiếu, số cổ phiếu nắm giữ còn 187 cổ phiếu.

* Ngày 17/12/2010, Frontaura Global Frontier Fund LLC, cổ đông lớn của Công ty Cổ phần Bột giặt NET (mã NET-HNX) đã mua 51.000 cổ phiếu, tương đương 1,13% vốn điều lệ, nâng số cổ phiếu nắm giữ lên 278.000 cổ phiếu, tương đương 6,17% vốn điều lệ.

* Từ ngày 12/11/2010 – 23/12/2010, Công ty Cổ phần Đầu tư Tổng hợp Hà Nội (mã SHN-HNX) đăng ký mua1.500.000 cổ phiếu, đã mua 810.000 cổ phiếu. Nguyên nhân không thực hiện hết số lượng đăng ký là do giá thị trường không nằm trong khoảng giá kỳ vọng, số cổ phiếu quỹ hiện có là 810.000 cổ phiếu.

* Từ ngày 24/11/2010 – 24/12/2010, ông Đinh Mạnh Thắng – Chủ tịch Hội đồng Quản trị Công ty Cổ phần Đầu tư và Thương mại Dầu khí Sông Đà (mã SDP-HNX) đăng ký mua 100.000 cổ phiếu, đã mua 80.000 cổ phiếu, nâng số cổ phiếu nắm giữ lên 316.000 cổ phiếu.

* Từ ngày 1/12/2010 – 16/12/2010, bà Nguyễn Thị Thanh Hiếu – thành viên Ban kiểm soát  Công ty Cổ phần Địa Ốc Đà Lạt (mã DLR-HNX) đã mua 15.000 cổ phiếu, nâng số cổ phiếu nắm giữ lên 16.200 cổ phiếu.
 
* Từ ngày 20/10/2010 – 20/12/2010, Công ty Cổ phần Thực phẩm Lâm Đồng (mã VDL-HNX) đã bán hết 8.600 cổ phiếu quỹ.

* Hội đồng Quản trị Công ty Cổ phần Chế tạo máy Dzĩ An (mã DZM-HNX) chấp thuận cho ông Nguyễn Đức Cường – Giám đốc Tài chính và ông Võ Anh Thụy – Giám đốc nhân sự thôi việc kể từ ngày 13/12/2010.

* Từ ngày 21/10/2010 – 21/12/2010, ông Nguyễn Đình Thuận – Kế toán trưởng Công ty Cổ phần Sông Đà – Thăng Long (mã STL-HNX) đăng ký mua 126.000 cổ phiếu, đã mua 35.000 cổ phiếu, nâng số cổ phiếu hiện đang nắm giữ lên 119.000 cổ phiếu.

HAG sẽ phát hành cổ phiếu thưởng tỷ lệ 2:1 vào ngày 17/1/2011

Nguồn vốn phát hành cổ phiếu thưởng được lấy từ 40% từ nguồn thặng dư vốn cổ phần và 60% từ lợi nhuận chưa phân phối…

Hội đồng Quản trị Công ty Cổ phần Hoàng Anh Gia Lai (mã HAG-HOSE) thông qua phương án phát hành cổ phiếu thưởng cho cổ đông hiện hữu với tỷ lệ 2:1 (2 cổ phiếu cũ tại ngày chốt danh sách được hưởng 1 cổ phiếu mới).

Thời gian thực hiện dự kiến ngày đăng ký cuối cùng để chốt danh sách cổ đông hưởng cổ phiếu thưởng là ngày 17/1/2011.

Nguồn vốn phát hành cổ phiếu thưởng được lấy từ 40% từ nguồn thặng dư vốn cổ phần và 60% từ lợi nhuận chưa phân phối.

Được biết, Đại hội đồng cổ đông HAGL đã thông qua đề án Huy động vốn Quốc Tế bao gồm khoản vay quốc tế và/hoặc việc phát hành và niêm yết trái phiếu trên Sở giao dịch chứng khoán Singapore bằng đồng USD với tổng giá trị tối đa là 200 triệu USD, thời hạn 5 năm, lãi suất cố định sẽ thanh toán 6 tháng/lần cho đến ngày đáo hạn. Dự kiến, trong tháng 1/2011 sẽ tiến hành việc phát hành trái phiếu huy động vốn này.

Trước đó, HAG đã phát hành riêng lẻ hơn 16,2 triệu cổ phiếu với giá 72.000 đồng cho đối tác chiến lược là Deutsche Bank Trust Company Americas (DB) và phân phối 2.783.750 cổ phiếu còn lại cho Công ty Cổ phần Chứng khoán Sài Gòn (SSI).

Hội đồng Quản trị HAG cũng dự kiến kết quả kinh doanh quý 4/2010 với lợi nhuận trước thuế ước đạt 800 tỷ đồng, nâng tổng lợi nhuận trước thuế cả năm 2010 lên 3.017 tỷ đồng, bằng 101% kế hoạch điều chỉnh năm 2010 và thống nhất về mức kế hoạch lợi nhuận trước thuế năm 2011 là 3.600 tỷ đồng.

10 sự kiện và vấn đề kinh tế – xã hội Việt Nam năm 2010

Trong ngày cuối cùng của năm 2010, hãy cùng chúng tôi nhìn lại 10 sự kiện và vấn đề kinh tế – xã hội Việt Nam tiêu biểu năm qua…

Trưởng đoàn các nước ASEAN trong lễ khai mạc Hội nghị ASEAN 17 ngày 28/10/2010. Ảnh: Chinhphu.vn.

Trong ngày cuối cùng của năm 2010, hãy cùng chúng tôi nhìn lại 10 sự kiện và vấn đề kinh tế – xã hội Việt Nam tiêu biểu năm qua.

1. Việt Nam làm Chủ tịch ASEAN

Năm 2010, năm Việt Nam làm chủ tịch ASEAN, tiếp tục là năm thành công của khu vực ASEAN khi quan hệ đối ngoại của ASEAN có những bước phát triển mạnh mẽ và thực chất hơn, vai trò và vị thế quốc tế của Hiệp hội được nâng cao. Sự thành công của năm Chủ tịch ASEAN được nhìn nhận là đã ghi dấu ấn đậm nét của Việt Nam trong việc chủ động đưa ra nhiều quyết sách quan trọng trong việc điều phối hoạt động chung của cả ASEAN; từ đó, khẳng định được năng lực đảm nhận công việc chung trong khu vực của Việt Nam, góp phần nâng cao thế và lực của nước ta trong khu vực và trên trường quốc tế.

Suốt trong năm 2010, dồn dập các sự kiện đối ngoại của ASEAN đã được diễn ra. Một con số được coi là kỷ lục của ASEAN, đó là 14 cuộc họp cấp cao trong hai ngày rưỡi, trong đó lần đầu tiên có tới 8 cuộc họp cấp cao riêng ASEAN+1 với các đối tác trong một dịp hội nghị cấp cao ASEAN (cấp cao ASEAN-17, tháng 10/2010).

Bên cạnh đó, khoảng trên 40 hội nghị cấp bộ trưởng và quan chức suốt cả năm 2010 đều khắp trên cả 3 trụ cột chính là chính trị, kinh tế và văn hóa. Trong nỗ lực chung trên, cộng đồng quốc tế đã đánh giá cao năng lực điều phối của Việt Nam trong việc đảm đương công việc chung của cả khu vực, cũng như quá trình nỗ lực chuẩn bị cho các hội nghị từ vấn đề an ninh, sắp xếp lịch họp đến nội dung bàn thảo và quyết sách chung cho cả khu vực.

Với chủ đề “Từ tầm nhìn tới hành động”, ngay từ đầu năm, chúng ta đã xác định rõ, và được các nước nhất trí cao về các trọng tâm ưu tiên của năm ASEAN 2010, bao gồm: đẩy mạnh thực hiện Lộ trình xây dựng Cộng đồng và triển khai Hiến chương ASEAN; tăng cường quan hệ của ASEAN với các đối tác; thúc đẩy hợp tác vì hoà bình, an ninh, phát triển bền vững và ứng phó hiệu quả với các thách thức toàn cầu; và tăng cường đoàn kết, nâng cao vị thế, và bảo đảm vai trò trung tâm của ASEAN ở khu vực.

Trên tinh thần đó, Việt Nam đã thực hiện tốt nhiệm vụ của Chủ tịch ASEAN với phương châm “Tích cực, chủ động và có trách nhiệm” và đạt được nhiều kết quả quan trọng.

2. Quốc hội đã khẳng định được quyền lực tối cao

Trong một cuộc tiếp xúc cử tri sau Kỳ họp diễn ra vào cuối tháng 11/2010, Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Phú Trọng đã đúc kết lại như vậy. Trước những diễn biến sôi động của Nghị trường năm 2010, Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Phú Trọng còn chia sẻ tâm tư của mình rằng: “Qua nghe ý kiến của cử tri, tôi thấy, hình như bây giờ Quốc hội cũng đã bớt được cái tiếng Quốc hội chỉ quyết những vấn đề đã được quyết rồi, dân chủ không thực chất. Quốc hội bây giờ là bàn thật, từ những vấn đề về ngân sách nhà nước đến việc quyết định chủ trương đầu tư các dự án, công trình quan trọng quốc gia…”.

Năm 2010, bên cạnh trách nhiệm rất nặng nề của công tác lập pháp là xem xét, cho ý kiến 15 dự án luật, thông qua 19 dự án luật, Quốc hội đã “mổ xẻ” hàng loạt vấn đề nóng khác, từ những vấn đề rất “gần gũi” với đời sống xã hội như tình hình thiếu điện, chuyện lạm phát, chuyện thiên tai bão lũ, chuyện được mùa mất giá của người nông dân… đến những vấn đề lớn tồn tại trong nền kinh tế như nhập siêu, bội chi, nợ công… Đặc biệt, Quốc hội cũng đã thêm một lần nữa khẳng định được quyền lực tối cao và trách nhiệm rất cao của mình trong việc chưa thông qua dự án đường sắt cao tốc Hà Nội – Tp.HCM.

Một loạt các vấn đề quan trọng khác của đất nước cũng đã được phân tích sâu sắc tại Quốc hội trong năm 2010 như xem xét báo cáo của Chính phủ về kết quả thực hiện Nghị quyết của Quốc hội về dự án Nhà máy Lọc dầu số 1 Dung Quất và đã thông qua nghị quyết về vấn đề này; đồ án quy hoạch chung xây dựng Thủ đô Hà Nội đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2050; thông qua Nghị quyết về dự án, công trình quan trọng quốc gia trình Quốc hội quyết định chủ trương đầu tư; thảo luận, đóng góp ý kiến vào các dự thảo văn kiện trình Đại hội XI của Đảng; thực hiện giám sát tối cao hai chuyên đề “việc thực hiện chính sách pháp luật về thành lập trường, đầu tư và bảo đảm chất lượng đào tạo đối với giáo dục đại học” và “Việc thực hiện cải cách thủ tục hành chính trong một số lĩnh vực liên quan trực tiếp đến công dân và doanh nghiệp theo chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2001 – 2010”.

Có thể nói, năm 2010 cũng là năm ghi dấu ấn mạnh mẽ mối quan hệ giữa Quốc hội và Chính phủ trong sự phối hợp ngày càng hiệu quả hơn. Quốc hội giám sát Chính phủ nhưng cũng thể hiện trách nhiệm và sự chia sẻ của mình, không đứng ngoài cuộc để “phán xét”, các thảo luận ở Quốc hội đều trăn trở với tinh thần cầu thị và sự chia sẻ chân thành vì lợi ích chung của đất nước để cùng Chính phủ tìm ra cách thức và giải pháp để tháo gỡ khó khăn vướng mắc nhằm thúc đẩy kinh tế – xã hội phát triển.

3. Đại lễ nghìn năm Thăng Long – Hà Nội

Từ ngày mùng 1 đến 10/10/2010, khắp các đường phố Hà Nội đã chìm ngập trong cờ hoa của Đại lễ 1.000 năm Thăng Long – Hà Nội và trên mỗi gương mặt người dân Thủ đô đều hiện rõ sự háo hức chào đón ngày sinh của đất “Rồng bay” này. Một nghìn năm mới có một lần và đây cũng là lần đầu tiên người dân Thủ đô được thưởng thức một màn diễu hành hoành tráng, một đêm đèn hoa rực rỡ và cũng… nghẹt thở đến như vậy.

Mọi con đường của Hà Nội dường như phải gồng mình hơn vào dịp Đại lễ để đón bước chân của gần 1 triệu khách trong và ngoài nước. Nhờ vào Đại lễ người dân Hà Nội có thêm được nhiều công trình có ý nghĩa như cầu Vĩnh Tuy, Bảo tàng Hà Nội, Công viên Hòa Bình, Đại lộ Thăng Long… cùng nhiều đường phố trở nên khang trang, sạch đẹp hơn. Nhờ Đại lễ nên ngành du lịch Hà Nội có những khởi sắc khi thu hút được 1,2 triệu lượt khách quốc tế và trên 10 triệu lượt khách trong nước trong năm 2010. Tuy nhiên cái được lớn nhất mà Đại lễ 1.000 năm đem lại là tạo dựng được cho thế hệ trẻ hiện nay hiểu thêm về Thăng Long xưa và Hà Nội nay.

Nhìn đi cũng phải nhìn lại, qua Đại lễ vẫn còn đọng lại nhiều dư âm.  Đến nay Hà Nội vẫn như một “đứa trẻ” chưa chịu lớn dù đã 1.000 tuổi. Đó có lẽ là cảm nhận của tất cả các du khách đến Hà Nội và chứng kiến Thủ đô như một công trình xây dựng đang còn nhiều ngổn ngang. Mừng cho Hà Nội trong 1.000 năm tuổi, mong sao Thủ đô khi sang tuổi thứ 1.001 sẽ sạch đẹp, quyến rũ hơn và không còn nhà siêu mỏng, không còn tắc nghẽn giao thông, không còn ngập nước mỗi khi mùa mưa đến…

4. GDP vượt mốc 100 tỷ USD

GDP của năm 2010 khá dễ dàng “cán đích” sau một năm rơi vào ngưỡng thấp nhất trong 10 năm qua và hứa hẹn tốc độ tăng GDP sẽ còn nhanh hơn trong những năm tiếp theo. Nhưng, cũng chính vì lẽ đó, năm 2010 đã trở thành thời điểm mà hơn lúc nào hết, câu chuyện về chất lượng tăng trưởng trở nên rất nóng, nhất là khi CPI – một trong những chỉ số quan trọng đo chất lượng cuộc sống của người dân đã tăng vọt lên đến 11,75%, bỏ xa mức chỉ tiêu CPI cần khống chế là 7% – như là một bằng chứng sinh động của việc mặc dù luôn đề cao việc tập trung đảm bảo ổn định kinh tế vĩ mô, nâng cao chất lượng tăng trưởng nhưng chúng ta vẫn ham tăng tốc độ tăng trưởng GDP nhiều hơn.

Chính phủ cũng nghiêm túc nhìn nhận rằng, việc khắc phục những khuyết điểm, yếu kém, tăng cường ổn định kinh tế vĩ mô, nâng cao chất lượng tăng trưởng và giải quyết những vấn đề xã hội bức xúc, bảo đảm phát triển nhanh và bền vững vẫn là những thách thức lớn. Vì thế, mục tiêu tổng quát cho điều hành kinh tế – xã hội năm 2011 đã được Chính phủ xác định là: “Tăng cường ổn định kinh tế vĩ mô và kiểm soát lạm phát; trên cơ sở đó, phấn đấu đạt tốc độ tăng trưởng cao hơn năm 2010 gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng và chuyển đổi cơ cấu, nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh của nền kinh tế; bảo đảm an sinh xã hội và phúc lợi xã hội, cải thiện đời sống nhân dân; tăng cường ổn định chính trị xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh; nâng cao hiệu quả công tác đối ngoại và hội nhập quốc tế.”

5. Ngành lúa gạo lập ba kỷ lục

Năm 2010, xuất khẩu của ngành nông lâm thủy sản đạt thắng lợi rực rỡ, với kim ngạch kỷ lục 19,15 tỷ USD, tăng gần 22,6% so với năm 2009, vượt 77,3% so với mục tiêu được Đại hội Đảng X đề ra. Trong đó, có 6 mặt hàng lập kỷ lục về giá trị: gạo đạt 3,23 tỷ USD; cao su đạt 2,32 tỷ USD; điều đạt 1,14 tỷ USD; tiêu đạt 419 triệu USD; gỗ và đồ gỗ đạt 3,4 tỷ USD; tôm đạt hơn 2 tỷ USD.

Trong đó, tăng trưởng rực rỡ nhất chính là lúa gạo, đã lập kép 3 kỷ lục trong năm vừa qua, về cả sản lượng thu hoạch, khối lượng xuất khẩu và giá trị kim ngạch. Mặc dù năm 2010, thiên tai đã gây thiệt hại nặng nề đối với sản xuất lúa gạo ở nhiều địa phương, đặc biệt lũ lụt ở các tỉnh miền Trung, nhưng sản lượng lương thực của nước ta vẫn đạt con số cao nhất từ trước tới nay.

Theo Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, tổng sản lượng lúa thu hoạch trong năm vừa qua lên tới 39,8 triệu tấn, tăng 900 nghìn tấn so với năm 2009. Cũng chưa từng năm nào trước đây sản xuất lúa gạo lại đạt được mức tăng trưởng cao như vậy. Năm 2009 chỉ tăng 200 nghìn tấn so với năm 2008. Sản xuất lúa gạo tăng mạnh đã làm tiền đề cho xuất khẩu gạo tiếp tục cao, vượt hơn năm trước tới 0,7 triệu tấn mà vẫn đảm bảo an ninh lương thực trong nước. Năm 2009, Việt Nam lập kỷ lục về khối lượng gạo xuất khẩu khi lần đầu tiên đạt tới con số 6 triệu tấn, tuy nhiên kim ngạch lại giảm so với năm 2008 bởi giá bán thấp.

Xuất khẩu gạo của nước ta năm 2010 đã đạt được thành tựu cao nhất từ trước tới nay cả về lượng và giá trị, với khối lượng xuất 6,7 triệu tấn, thu về 3,23 tỷ USD. So với cùng kỳ năm trước, xuất khẩu gạo tăng 12,3% về lượng và 17,8% về giá trị. Giá xuất khẩu bình quân đạt 467 USD/tấn tăng 4,6% so với giá gạo bình quân năm trước.

6. Trục vớt “con tàu” Vinashin

Ngay từ cuối năm 2008, Vinashin đã gặp nhiều khó khăn, sản xuất kinh doanh bị đình trệ, không thu xếp được vốn để thực hiện các hợp đồng đã ký và lâm vào tình trạng thua lỗ. Thực trạng này có nguyên nhân khách quan do ảnh hưởng nặng nề của cuộc khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu, nhiều chủ tàu đã hủy hợp đồng (từ đơn hàng có giá trị gần 12 tỷ USD xuống chỉ còn trên 2 tỷ); song nguyên nhân chủ quan vẫn là chủ yếu.

Trước hết là do việc cố ý làm trái, báo cáo không trung thực và yếu kém của lãnh đạo Vinashin trong quản trị doanh nghiệp, quản lý tài chính và đầu tư, phát triển thêm quá nhiều doanh nghiệp và ngành nghề kinh doanh… Trong khi đó, một số cơ quan chức năng thuộc Chính phủ chưa thực hiện tốt nhiệm vụ quản lý nhà nước và quản lý của chủ sở hữu đối với Vinashin.

Tại phiên họp ngày 31/7/2010, Bộ Chính trị đã quyết định “trục vớt” con tàu này. Kết luận của Bộ Chính trị nêu rõ: “Từng bước củng cố uy tín thương hiệu tập đoàn Vinashin; cương quyết không để vỡ nợ, sụp đổ, gây tác động xấu đến sự phát triển của ngành công nghiệp đóng tàu, mức độ tín nhiệm vay, trả nợ quốc tế và môi trường đầu tư của đất nước”.

Tiếp đó, ngày 18/11/2010, Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt đề án tái cơ cấu tập đoàn Vinashin với mục tiêu sớm ổn định sản xuất kinh doanh, củng cố uy tín, thương hiệu, giảm lỗ, có lãi, từng bước trả được nợ, tích lũy và phát triển; xây dựng Tập đoàn làm nòng cốt của ngành công nghiệp tàu biển, là ngành mũi nhọn để phát triển kinh tế hàng hải và thực hiện Chiến lược biển.

Với nhiều bài học được rút ra thì sau câu chuyện Vinashin, dư luận còn rất kỳ vọng vào điều mà Chính phủ hứa là sẽ kiên quyết thực hiện công khai minh bạch kết quả hoạt động của các tập đoàn kinh tế và tổng công ty nhà nước, tạo điều kiện thuận lợi cho việc giám sát, kiểm tra. Đồng thời sẽ sớm trình Quốc hội ban hành Luật về sử dụng vốn và tài sản nhà nước đầu tư vào kinh doanh.

7. Bán lẻ hàng hóa và dịch vụ tăng 25,2%

Theo Bộ Công Thương, ước tổng mức bán lẻ hàng hóa và dịch vụ tháng 12 đạt 143.893 tỷ đồng, tăng 1,34% so với tháng 11. Như vậy, tổng mức bán lẻ hàng hóa và dịch vụ xã hội cả năm 2010 đạt 1.570.013 tỷ đồng, tăng 25,2% so với năm 2009.

Bộ Công Thương đánh giá, đây là mức tăng cao hơn hẳn so với dự kiến đầu năm, nếu loại trừ yếu tố tăng giá thì vẫn tăng khoảng 15%, tiếp tục khẳng định tầm quan trọng và tiềm năng của thị trường nội địa. Tính riêng thị trường Hà Nội, dự kiến cả năm 2010, tổng mức bán và doanh thu dịch vụ tiêu dùng xã hội tăng 30,5% so với năm 2009, trong đó tổng mức bán lẻ tăng 31,2%. Hà Nội hiện là trung tâm bán buôn của khu vực phía Bắc với tỷ trọng bán buôn chiếm tới 77% trị giá trong tổng số bán ra. Hệ thống bán lẻ của Hà Nội cũng tăng lên nhanh chóng với mạng lưới 362 chợ, 70 trung tâm thương mại, siêu thị và một loạt các hệ thống cửa hàng tự chọn.

Một chuyên gia đã nhận định, không có gì đáng ngạc nhiên khi ngành bán lẻ tiếp tục là lĩnh vực thu hút đầu tư nhất với mức doanh số bán lẻ nội địa tăng trưởng 25%/năm. Kết quả khảo sát trong quí 4/2010 của công ty kiểm toán Grant Thornton Việt Nam với chủ đề “Đầu tư vào doanh nghiệp tư nhân tại Việt Nam – quan điểm và triển vọng đầu tư” lấy ý kiến từ hơn 200 nhà ra quyết định đầu tư tại Việt Nam hoặc những người có quan tâm lớn tới đầu tư vào Việt Nam cho thấy thị trường bán lẻ Việt Nam tiếp tục thu hút các nhà đầu tư nước ngoài với 70% nhà đầu tư đánh giá bán lẻ là lĩnh vực đầu tư hấp dẫn và có triển vọng, xếp trên giáo dục, bất động sản hay y tế.

Hiện nay, 62% người tiêu dùng ở các tầng lớp khác nhau vẫn mua hàng trực tiếp ở các chợ truyền thống. Tuy nhiên, nền kinh tế Việt Nam tiếp tục chuyển dịch từ phương thức mua sắm tại chợ truyền thống sang các phương thức thương mại hiện đại, điều này sẽ mang lại cho các nhà đầu tư cơ hội phát triển thương hiệu, chiếm lĩnh thị phần, gây dựng nền tảng phát triển trong tương lai.

8. Năm nổi loạn của vàng, tỷ giá và lãi suất

Trước lực đẩy giá vàng thế giới lên tới 1.411,6 USD/oz vào ngày 9/11, cộng với yếu tố đầu cơ và quan hệ luẩn quẩn “vàng – đô” giá vàng trong nước vọt lên mốc chưa từng có trong lịch sử: 38,2 triệu đồng/lượng, cao hơn giá thế giới và cao hơn mức giá trong nước trước đó vài tiếng đồng hồ trên 2 triệu đồng/lượng.

Cùng với vàng, tỷ giá được coi là vấn đề nóng bỏng của năm qua.

Trong khi hàng loạt quốc gia lo đối phó với sự tăng giá của bản tệ so với USD thì ở Việt Nam tiền đồng lại giảm giá, Ngân hàng Nhà nước phải hai lần điều chỉnh giảm giá trị VND so với USD.

Năm 2010 còn là năm của “dùng dằng lãi suất”. Năm 2008, đánh dấu sự can thiệp mạnh mẽ của Ngân hàng Nhà nước đối với thị trường tiền tệ thông qua Quyết định số 16/2008/QĐ-NHNN ngày 16/05/2008 nhằm ổn định dòng tiền lòng vòng từ ngân hàng này sang ngân hàng khác. Theo đó, mọi giao dịch gửi và vay đối với ngân hàng đều không vượt quá 150% so với lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố từng thời kỳ.

Bước sang 2009 và 2010, mặc dù tình hình đã khác nhưng “vòng kim cô” này nửa bỏ, nửa không. Cụ thể, ngày 14/4/2010, Ngân hàng Nhà nước ban hành thông tư số 12/2010/TT-NHNN chỉ cho phép tổ chức tín dụng “cho vay theo lãi suất thỏa thuận” và như thế, mặc nhiên lãi suất huy động vẫn phải tuân thủ Quyết định 16.

Tuy nhiên, thông tư này không ngăn được tình trạng “vốn chạy lòng vòng” mặc dù Hiệp hội ngân hàng nhiều lần vận động các tổ chức tín dụng đồng thuận huy động không quá 12%/năm hoặc 14%/năm. Cực chẳng đã, ngày 14/12/2010, Ngân hàng Nhà nước phải ban hành Công văn số 9779/NHNN-CSTT, ấn định mức lãi suất huy động tối đa 14%/năm, những ngân hàng nào phá rào sẽ bị xử lý theo các chế tài nghiêm ngặt.

Dù vậy, các ngân hàng vẫn tìm mọi cách để lách cơ chế, làm trầm trọng thêm tình trạng “cơ chế hai giá” trong nền kinh tế.

9. Thiên tai, mưa lũ lớn hoành hành miền Trung

Thiệt hại do các đợt mưa lũ tại các tỉnh miền Trung đã làm 155 người chết, 29 người mất tích, gây thiệt hại về kinh tế 11.600 tỷ đồng.

Ước tính, tổng thiệt hại do thiên tai gây ra trong năm  đã làm hơn 260 người chết; 96 người mất tích; 491 người bị thương; hơn 6000 nhà bị đổ, sập, trôi; 471.985 nhà bị ngập, hư hại và tốc mái. Diện tích lúa và hoa màu bị thiệt hại là hơn 312.000 ha… Ước tính tổng thiệt hại về vật chất khoảng 16.055 tỷ đồng.

Trong cơn lũ dữ, các tỉnh miền Trung đã nhận được sự quan tâm, chỉ đạo kịp thời, khẩn trương của Nhà nước; huy động mọi lực lượng, phương tiện cứu hộ, cứu nạn nhằm hạn chế thấp nhất thiệt hại về người và tài sản; đồng thời có nhiều giải pháp để hỗ trợ, giúp đỡ các tỉnh, khắc phục hậu quả thiên tai, phục hồi sản xuất, ổn định đời sống sau mưa lũ. Trực tiếp Thủ tướng Chính phủ và Đoàn công tác của Chính phủ, các Bộ, ngành liên quan… đã đến thăm và kiểm tra, chỉ đạo công tác khắc phục hậu quả lũ, lụt tại các tỉnh.

Ngoài việc huy động các lực lượng cứu trợ, Chính phủ cũng hỗ trợ về vật chất hai đợt là: 730 tỷ đồng và 14.000 tấn gạo. Đồng thời Chính phủ đã tạm ứng cho các tỉnh Ninh Thuận, Khánh Hòa, Phú Yên 110 tỷ đồng và 3.500 tấn gạo. Bên cạnh những mặt được về công tác phòng chống, ứng phó, cứu trợ, mưa lũ lịch sử đi qua, nhưng còn đó những vấn đề tồn tại, những bài học về sự chủ động ứng phó, phòng chống với thiên tai, lũ lụt; công tác chuẩn bị tại chỗ khi có mưa lũ lớn đảm bảo phương tiện và lương thực dự trữ; việc cứu trợ sau bão lụt; về việc quản lý vận hành các hồ, đập… ở miền Trung trong mùa mưa lũ.
 
10. Quốc tế ghi nhận mô hình giảm nghèo của Việt Nam

Trong những năm qua, cùng với các chính sách phát triển kinh tế – xã hội, đẩy mạnh công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước, nhiều chính sách xóa đói giảm nghèo đã được triển khai và giành được những kết quả rất quan trọng, thành tựu xóa đói giảm nghèo đã góp phần tăng trưởng kinh tế và thực hiện công bằng xã hội. Đây là một chương trình quan trọng nằm trong chương trình thiên niên kỷ của Liên hợp quốc. Đảng, Nhà nước ta đã ban hành chính sách giảm nghèo kịp thời, đúng thực tiễn.

Theo đó, tỷ lệ hộ nghèo đã giảm nhanh, từ 22% năm 2005 xuống còn 11,3% năm 2009 và còn 9,45% trong năm 2010. Những con số này vượt chỉ tiêu Quốc hội đề ra. Năm 2010, Chương trình 135 giai đoạn 2 kết thúc, các mục tiêu cơ bản đã đạt được: giảm tỷ lệ hộ nghèo xuống dưới 30% và tăng thu nhập lên 3,5 triệu đồng/hộ/năm, góp phần tạo nên diện mạo mới về kinh tế – xã hội vùng dân tộc thiểu số. Những kết quả đó được Chính phủ và cộng đồng quốc tế ghi nhận của mô hình giảm nghèo ở Việt Nam.

Tuy nhiên, thực tế chương trình giảm nghèo giai đoạn 2001- 2010 chưa thật sự hiệu quả, kết quả giảm nghèo chưa thật sự bền vững, khoảng cách giàu nghèo có xu hướng gia tăng. Bên cạnh đó, trong quá trình tổ chức thực hiện mục tiêu giảm nghèo còn có sự chồng chéo. Trong việc xây dựng chương trình giảm nghèo 5 năm và tầm nhìn 10 năm tới giai đoạn 2011-2020, Chính phủ đã chỉ đạo xây dựng nghị quyết chung về giảm nghèo. Theo đó, sẽ thể hiện chủ trương giảm nghèo toàn diện trong lĩnh vực việc làm, đời sống, nhà ở, môi trường và điều quan trọng là phải hướng người nghèo tiếp cận các dịch vụ y tế và hạ tầng cơ sở tốt.