Lãi suất liên ngân hàng tăng mạnh các kỳ hạn ngắn

Lãi suất giao dịch bình quân bằng VND trên thị trường liên ngân hàng tăng mạnh ở các kỳ hạn ngắn trong những ngày gần đây…

Lãi suất giao dịch bình quân qua đêm bằng VND trên liên ngân hàng trong ngày 26/10 ở mức 8,38%/năm.

Lãi suất giao dịch bình quân bằng VND trên thị trường liên ngân hàng tăng mạnh ở các kỳ hạn ngắn trong những ngày gần đây.

Theo công bố của Ngân hàng Nhà nước, lãi suất giao dịch bình quân bằng VND trên thị trường liên ngân hàng các kỳ hạn qua đêm, 1 tuần, 2 tuần, 1 tháng và 3 tháng vừa có những diễn biến đáng chú ý.

Kết quả giao dịch từ nguồn này cập nhật trong ngày 22/10 ghi nhận lãi suất bình quân qua đêm đã chính thức lên trên 8%/năm, ở 8,02%/năm, thay vì dao động từ 7,11% – 7,30%/năm trước đó. Ở ngày vừa được cập nhật, ngày 26/10 vừa qua, lãi suất bình quân qua đêm tiếp tục tăng lên 8,38%/năm (trước đó một tổ chức đầu tư đưa ra con số là 8,45%/năm trong ngày 26/10 này).

Cùng với lãi suất qua đêm, lãi suất giao dịch bình quân các kỳ hạn ngắn 1 tuần, 2 tuần, 1 tháng và 3 tháng cũng tăng mạnh.

Cụ thể, theo số liệu của Ngân hàng Nhà nước, nếu trong ngày 22/10, lãi suất bình quân kỳ hạn 1 tuần là 8,92%/năm thì trong ngày 26/10 là 9,60%/năm. Tương tự trong so sánh này, ở kỳ hạn 2 tuần là 9,12% với 9,84%/năm; kỳ hạn 1 tháng là 9,67% với 10,09%/năm; kỳ hạn 3 tháng là 10,35% với 11,08%/năm.

Trước đó, trong các ngày giao dịch giữa tháng 10, lãi suất bình quân kỳ hạn 1 tuần chỉ dao động trong khoảng 7,46% – 7,80%/năm; kỳ hạn 2 tuần trong khoảng 7,74% – 7,97%/năm; kỳ hạn 1 tháng trong khoảng 8,43% – 8,69%/năm và kỳ hạn 3 tháng trong khoảng 9,54% – 9,72%/năm.

Hiện kết quả giao dịch trong ngày 25/10 của tuần vừa qua, cũng như các ngày 27, 28 và 29 chưa được Ngân hàng Nhà nước cập nhật, nhưng với diễn biến trên, mức lãi suất giao dịch bình quân của cả tuần có thể có nhiều biến động.

Giá gas bán lẻ tăng lên mức kỷ lục

Từ ngày 1/11, giá bán lẻ gas của các hãng tiếp tục tăng thêm 25.000 – 26.000 đồng/bình 12 kg…

Từ trung tuần tháng 8 đến nay, giá gas tùy theo từng hãng đã có mức tăng tới 85.000 đồng/bình 12kg.

Tiếp tục đà tăng giá của những tháng trước đó, từ ngày 1/11, giá bán lẻ gas của các hãng đồng loạt tăng thêm 25.000- 26.000 đồng/bình.

Theo tin từ các hãng gas như Saigon Petro, Thái Dương Gas, Gia Đình Gas…, khi đến tay người tiêu dùng, bình gas 12 kg của các hãng này có giá trong khoảng từ 297.000 – 326.000 đồng.

“Giá gas giao trong tháng 11 đã tăng tới 92,5 USD/tấn, lên mức 795 USD/tấn so với tháng trước đó. Thêm nữa, sự tăng giá mạnh của USD so với VND thời gian qua là những lý do khiến giá bán lẻ gas  tăng vọt. Mức tăng lần này đã khiến tháng 11 được coi là “kỷ lục” của giá gas”, ông Lê Minh Hiếu, Tổng giám đốc Công ty Cổ phần Dầu khí Thái Dương cho biết.

Như vậy, từ trung tuần tháng 8 đến nay, giá gas tùy theo từng hãng đã có mức tăng tới 85.000 đồng/bình 12kg.

Trong lần tăng mạnh trước đây, vào tháng 2/2009, các hãng đã đồng loạt nâng giá bán lẻ gas thêm 30.000 đồng/bình. Tuy nhiên, vào thời điểm đó giá tới tay người sử dụng cũng chỉ ở mức 215.000 đồng đối với bình 12kg; và trên thế giới giá gas tăng tới 125 USD/tấn và đứng ở ngưỡng 505 USD/tấn.

Chương trình mục tiêu quốc gia, bao nhiêu là đủ?

Nhiều vị đại biểu đề nghị giảm mạnh về số lượng các chương trình mục tiêu quốc gia trong giai đoạn tới…

Nhiều ý kiến cho rằng, chương trình mục tiêu quốc gia cần tập trung đầu tư cho miền núi, vùng sâu vùng xa.

Từ ngày mai (1/11), bước vào tuần làm việc thứ ba của kỳ họp thứ tám, Quốc hội sẽ dành 2,5 ngày liên tục để thảo luận tại hội trường về tình hình kinh tế, xã hội và ngân sách Nhà nước.

Một trong những nội dung còn có nhiều ý kiến khác nhau khi thảo luận tại tổ có liên quan đến chuyện “tiêu tiền” cả trong ngắn hạn và dài hạn là nguồn lực dành cho các chương trình mục tiêu quốc gia giai đoạn 2011 -2015 và các khoản hỗ trợ có mục tiêu.

Ủy ban Tài chính Ngân sách cho biết, vừa qua Chính phủ có đã đánh giá tổng thể việc thực hiện 12 chương trình mục tiêu quốc gia trong giai đoạn 2006 – 2010 và đề xuất danh mục 15 chương trình giai đoạn 2011 – 2015. Theo đó, 3 chương trình được bổ sung là: phòng chống HIV/AIDS, xây dựng nông thôn mới và đưa thông tin về cơ sở miền núi, vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo với mức đề nghị bố trí 3% dự toán chi ngân sách Nhà nước.

Tuy nhiên, hầu hết các ý kiến thảo luận đều không mấy yên tâm về đề xuất này, bởi trên diễn đàn của không ít kỳ họp Quốc hội, đã có nhiều quan ngại về sự phân tán nguồn lực tài chính, trong đó có nguyên nhân từ việc có quá nhiều chương trình đặt mục tiêu lớn song hiệu quả chưa cao.

Thậm chí, đã có vị Ủy viên Ủy ban Thường vụ Quốc hội chỉ ra rằng, “chương trình mục tiêu quốc gia phản ánh lợi ích nhóm, lĩnh vực, bộ ngành nào cũng muốn có một cái” và đề nghị phải kiên quyết chấm dừng bổ sung mới.

Theo Ủy ban tài chính – Ngân sách, việc tổng kết các chương trình mục tiêu quốc gia trong giai đoạn vừa qua chưa được kỹ lưỡng, chưa đủ thông tin để Quốc hội có thể đánh giá đầy đủ việc thực hiện các chương trình này. Song, qua giám sát, Ủy ban Tài chính – Ngân sách thấy rằng: “về cơ bản 12 chương trình mục tiêu quốc gia đã đạt được mục tiêu đề ra trong giai đoạn 2006-2010”.

Nhiều ý kiến trong Ủy ban cho rằng: đối với các chương trình đã hoàn thành thì nên kết thúc, không nên kéo dài. Một số chương trình khác đạt hiệu quả chưa cao, mục tiêu chưa rõ ràng, còn chồng chéo, trùng lắp về nội dung thì cần lựa chọn để lồng ghép với các chương trình khác.

Đa số ý kiến của cơ quan thẩm tra về ngân sách đề nghị chỉ thực hiện khoảng 10 chương trình mục tiêu quốc gia gồm: giáo dục, y tế, văn hóa, xây dựng nông thôn mới, phòng chống ma túy, phòng chống tội phạm, ứng phó với biến đổi khí hậu, nước sạch vệ sinh môi trường nông thôn, việc làm, tiết kiệm năng lượng, dân số, kế hoạch hóa gia đình… các chương trình còn lại, đề nghị Chính phủ thực hiện lồng ghép để tránh trùng chéo và đặc biệt quan tâm tới hiệu quả của các chương trình này.

Thảo luận tại tổ, nhiều đại biểu cũng cho rằng chương trình mục tiêu quốc gia chưa thật sự cần thiết, nguồn lực nhỏ lẻ trong khi mục tiêu quá lớn nên không hiệu quả, chưa đạt mục tiêu. Theo một số ý kiến, việc nâng từ 12 lên 15 chương trình dễ dẫn đến dàn trải và trùng lắp nhiều, cần thu gọn bớt chương trình lại để cân đối đảm bảo tập trung đầu tư được từ đầu đến cuối và quản lý ít đầu mối.

Có ý kiến đề nghị nên lựa chọn khoảng 7 chương trình mục tiêu quốc gia là phù hợp. Mỗi bộ chỉ nên có một chương trình mục tiêu quốc gia, hạn chế phân tán, nhỏ lẻ để sử dụng ngân sách Nhà nước có hiệu quả. Cũng có đại biểu đề nghị lồng ghép các chương trình để địa phương có quyền quyết định ưu tiên chương trình phù hợp với đặc thù của địa phương, ưu tiên miền núi, vùng sâu, biên giới, hải đảo.

Bên cạnh đa số ý kiến đề nghị giảm vẫn có đại biểu đề nghị nên duy trì cả 15 chương trình mục tiêu Quốc gia do Chính phủ trình. Tuy một số chương trình mục tiêu quốc gia đã đạt mục tiêu nhưng không nên loại bỏ như chương trình phòng chống phong, phòng chống lao, chống HIV, vì đây là các chương trình mang tính văn hoá, thể hiện sự nhân văn.

đối với các chương trình hỗ trợ có mục tiêu, trong giai đoạn 2006 – 2010 có 48 chương trình, Chính phủ đề nghị giai đoạn 2011-2015 còn 26 chương trình.

Cùng quan điểm như với các chương trình mục tiêu, Ủy ban Tài chính – Ngân sách cho rằng cần rút gọn, vì việc bố trí quá nhiều chương trình như thời gian qua đã dẫn đến nguồn lực đầu tư rất dàn trải, nhiều chương trình hiệu quả không cao.

Một số ý kiến đề nghị chỉ nên bố trí một số chương trình hỗ trợ có mục tiêu như Biển Đông – hải đảo, củng cố, nâng cấp hệ thống đê biển; neo đậu tránh trú bão cho tàu thuyền; nâng cấp, xây dựng hồ nước ngọt; đầu tư cho 62 huyện nghèo; hỗ trợ đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng khu kinh tế cửa khẩu; chương trình 135; đầu tư phát triển kinh tế – xã hội tuyến biên giới; hỗ trợ vốn đối ứng ODA do địa phương quản lý; chính sách hỗ trợ người nghèo; cải cách tư pháp; xây dựng trụ sở xã; chương trình hỗ trợ xuất khẩu ra nước ngoài.

Còn các chương trình khác đề nghị đưa vào chi đầu tư phát triển, chi thường xuyên trong cân đối ngân sách hằng năm của các bộ, ngành, địa phương có liên quan.

Chủ nhiệm Ủy ban Kinh tế nói về “bất trắc tiềm ẩn” của kinh tế vĩ mô

Tại sao nhận định về kinh tế vĩ mô của Ủy ban Kinh tế luôn đi kèm với những quan ngại về “bất trắc, bất ổn”?…

Chủ nhiệm Ủy ban Kinh tế Hà Văn Hiền trình bày báo cáo thẩm tra tình hình kinh tế xã hội tại phiên khai mạc kỳ họp Quốc hội thứ tám.

Tiếp tục chương trình của kỳ họp thứ tám, sáng 1/11, Quốc hội sẽ bước vào phiên đầu tiên trong hai ngày thảo luận tại hội trường về tình hình kinh tế – xã hội năm 2010 và kế hoạch 2011.

Trước đó, khi thảo luận tại tổ về nội dung này, nhiều đại biểu đã bày tỏ sự quan ngại sâu sắc trước những bất ổn của kinh tế vĩ mô, dù vấn đề này đã được đặt lên bàn nghị sự của Quốc hội, không chỉ riêng một kỳ họp.

Trao đổi với VnEconomy, Chủ nhiệm Ủy ban Kinh tế Hà Văn Hiền nhấn mạnh, nếu không sớm khắc phục thì những bất trắc tiềm ẩn của kinh tế vĩ mô sẽ có thể ảnh hưởng đến sự phát triển ổn định trong những năm tiếp theo.

Đã nhìn thấy lạm phát trên 8%

Thưa ông, trong những năm gần đây, nhận định về kinh tế vĩ mô của Ủy ban luôn đi kèm với những quan ngại về “bất trắc, bất ổn”. Ông có thể phân tích rõ hơn những yếu tố này?

Đúng là trong những năm gần đây ở một số kỳ họp, trong báo cáo thẩm tra của Ủy ban đều có nhận định kinh tế vĩ mô ổn định nhưng chưa vững chắc và tiềm ẩn những yếu tố dễ gây ra bất ổn vĩ mô.

Biểu hiện tiềm ẩn ấy là gì, đó là lạm phát rất cao so với các nước trong khu vực, năm 2010 khả năng trên 8% đã nhìn thấy rồi, những năm trước cũng rất cao. Nên nếu để mãi như vậy thì hoàn toàn không được, nó ảnh hưởng đến nền kinh tế, đến sản xuất kinh doanh và đời sống nhân dân.

Hay nhập siêu cũng luôn ở mức rất cao trong nhiều năm rồi, dẫn đến mất cân đối cán cân thương mại, đến cán cân thanh toán, dự trữ ngoại tệ. Rồi bội chi cũng ở mức cao, nợ công cũng đã hơn 56,7% GDP trong khi tổng GDP chỉ trên 100 tỷ USD…

Tổng hợp các yếu tố đấy cho thấy nền tài chính quốc gia chưa thật vững chắc. Những cân đối vĩ mô tiềm ẩn những yếu tố thiếu vững chắc, không ổn định. Nhiều cơ quan khác và cả báo cáo của Chính phủ cũng nhận định như thế.

Có chuyên gia kinh tế cho rằng, sự mất ổn định vĩ mô có nguyên nhân do nền kinh tế phát triển không theo quy luật mà chịu các tác động hành chính quá nhiều. Quan điểm của ông về vấn đề này thế nào?

Nói thế cũng không hoàn toàn đúng, thực ra chúng ta càng ngày càng có nhiều cố gắng trong việc tuân thủ cơ chế thị trường. Đương nhiên cơ chế thị trường ở Việt Nam có đặc thù, tức là còn theo định hướng xã hội chủ nghĩa, vừa phát triển kinh tế vừa phải ổn định an sinh xã hội nên những nhiệm vụ đó phải hài hòa với nhau.

Hiện nay một số giá cả như xăng dầu hay điện, than, phân bón… dần dần đang tiến tới giá thị trường. Nền kinh tế chúng ta phải có bước đi phù hợp chứ nếu không sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống của dân. Theo tôi việc dần dần đạt tới yêu cầu theo cơ chế thị trường theo định hướng chúng ta đang tiến hành là hoàn toàn phù hợp.

Trong số những hạn chế bất cập của năm 2010 đã được Ủy ban Kinh tế nêu rõ tại báo cáo thẩm tra có việc các doanh nghiệp vẫn gặp nhiều khó khăn trong hoạt động sản xuất, kinh doanh do tác động bởi một số chính sách cụ thể. Hay điều hành chính sách, quản lý thị trường, giá cả; điều hòa sản xuất, lưu thông, phân phối trong một số ngành, lĩnh vực chưa tốt. Vậy những hạn chế này có nguyên nhân từ tác động hành chính không, thưa ông?

Tôi cho rằng là có, nhưng định lượng thì không dễ, vả lại ở đây cũng cần nói là ngay cả trong cơ chế thị trường cũng không thể thiếu vai trò của Nhà nước, cuộc khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế vừa qua càng cho thấy rõ điều đó.
 
Dưới góc nhìn của các chuyên gia kinh tế tại cơ quan thẩm tra thì những bất ổn ông đã nói trên chủ yếu do hạn chế nội tại của nền kinh tế hay do nguyên nhân chủ quan, thưa ông?

Có nhiều nguyên nhân nhưng trong đó cũng có những yếu tố nội tại tích tụ nhiều năm. Nhất là mô hình tăng trưởng kinh tế không phù hợp, chúng ta đã duy trì nhiều năm mô hình tăng trưởng lấy tăng vốn đầu tư là chủ yếu, trong khi đó hiệu quả đầu tư lại thấp nên bây giờ cần phải cơ cấu lại.

Ví dụ cơ cấu lại đầu tư bao gồm cả nguồn vốn, cả cơ cấu đầu tư ở các ngành, các lĩnh vực; phải tạo sự thay đổi căn bản về hiệu quả đầu tư; cơ cấu lại các doanh nghiệp nhà nước mà việc xác lập rõ vai trò chủ sở hữu vốn Nhà nước là rất quan trọng; các ngành kinh tế trọng yếu như công nghiệp, nông nghiệp và kể cả trong xuất, nhập khẩu cũng cần cơ cấu lại.

Vì thế năm 2011 Ủy ban Kinh tế mới đặt vấn đề ưu tiên ổn định kinh tế vĩ mô gắn với cơ cấu lại nền kinh tế, ưu tiên tiếp theo là nâng cao chất lượng tăng trưởng kinh tế và tiếp theo mới là đặt mức tăng trưởng cao hơn các năm trước.

Theo quan điểm của Ủy ban thì giữ mức tăng trưởng 7-7,5% GDP cũng không phải là khó với những cái mà nền kinh tế chúng ta đang có. Song ổn định vĩ mô, nâng cao chất lượng tăng trưởng thì phải tập trung nhiều hơn nữa để chuẩn bị cho bước đi dài hạn hơn.

Thưa ông, phải chăng để ổn định kinh tế vĩ mô thì không thể tiếp tục chạy theo “thành tích tăng trưởng”, như một số chuyên gia kinh tế đã cảnh báo?

Đúng là những năm trước 2008 thì tập trung cho ổn định kinh tế vĩ mô còn ít, vẫn chạy theo mục tiêu tăng trưởng nhiều hơn.

Do vậy chất lượng tăng trưởng của nền kinh tế chưa cao, sức cạnh tranh nền kinh tế còn thấp, đầu tư hiệu quả thấp, tăng trưởng dựa chủ yếu vào yếu tố vốn chứ yếu tố năng suất chưa cao nên chất lượng chưa tốt. Hạn chế này chưa phải là chưa nhìn ra, nhưng vấn đề là phải tập trung những biện pháp cụ thể như thế nào đó để tạo ra những chuyển biến cụ thể. Với năm 2011 thì quan điểm của Ủy ban Kinh tế vẫn phải ổn định kinh tế vĩ mô, gắn với tái cơ cấu nền kinh tế và nâng cao chất lượng tăng trưởng.

Nhưng có ý kiến đại biểu cho rằng muốn đảm bảo ổn định vĩ mô thì phải chuyển đổi và đẩy mạnh tái cơ cấu, dịch chuyển cơ cấu để đảm bảo ổn định vĩ mô, chứ không phải ngược lại là ổn định rồi mới tái cơ cấu?

Trong mục tiêu tổng quát Ủy ban đề xuất đã ghi rõ là ổn định vĩ mô gắn với tái cơ cấu nền kinh tế, hai cái đó tiến hành đồng thời với nhau. Ổn định vĩ mô có tính ngắn hạn và trung hạn, còn cơ cấu lại nền kinh tế thì mang tính dài hạn nhưng hai nội dung này lại quan hệ rất mật thiết với nhau. Từ năm 2010 đã nêu vấn đề và bắt tay vào làm rồi nhưng những việc cụ thể chưa làm được nhiều lắm và sẽ phải làm mạnh mẽ hơn từ các năm sau.

Ngay từ kỳ họp Quốc hội thứ tư, thứ năm, một số đại biểu cũng đã đặt vấn đề cần phải xây dựng đề án tái cấu trúc nền kinh tế. Vậy tại sao đến nay vẫn “chưa làm được nhiều lắm” như ông vừa nhận xét?

Tôi nghĩ rằng nghị quyết của Quốc đã đặt vấn đề đó rồi, Chính phủ phải tổ chức thực hiện thôi. Mà Chính phủ đã làm chứ không phải không làm nhưng làm chưa quyết liệt. Vậy nên Quốc hội phải yêu cầu riết róng hơn, để đẩy nhanh quá trình chuyển dịch cơ cấu nền kinh tế.

Điều hành có tiến bộ rõ rệt

Khi thảo luận tại tổ, không ít ý kiến cho rằng“Chính phủ và nhiều cơ quan của Chính phủ còn nhiều hạn chế trong điều hành”, ông có đồng tình?

Những năm vừa qua, nhất từ 2007 – 2010 nhìn tổng quan lại thì nền kinh tế đã trải qua những giai đoạn rất khắc nghiệt. Cuối 2007 đầu 2008 thì lạm phát rất cao, phải tập trung mọi biện pháp để kìm chế lạm phát. Sang đến cuối 2008 – 2009 thì ảnh hưởng khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu lại phải chống suy giảm kinh tế. Hai giải pháp đó gần như ngược chiều nhau, để đảm bảo kiềm chế lạm phát thì phải thắt chặt tiền tệ, còn ngăn chặn suy giảm kinh tế thì phải nới lỏng và tăng đầu tư. Năm 2010 thì phải tập trung phục hồi và lấy lại đà tăng trưởng cho nền kinh tế.

Nhìn lại 3 giai đoạn như vậy thì chúng tôi thấy rằng công tác điều hành đã có tiến bộ rất là rõ.

Chẳng hạn nếu đầu năm 2008 điều hành kìm chế lạm phát còn thiếu chủ động, kịp thời và chưa đồng bộ, thì đến cuối 2008 đầu 2009 đã đồng bộ hơn, kịp thời hơn và tổ chức thực hiện cũng quyết liệt hơn để thực hiện mục tiêu chống suy giảm kinh tế.

Tương tự 2010 thì ngay từ đầu năm đã khó khăn rồi, vốn cho doanh nghiệp thì thiếu, điện cũng vẫn thiếu gay gắt, đầu tư không tăng (năm 2009 là 42% GDP năm 2010 chỉ có 41%), lao động không tăng, hạn hán, dịch bệnh… Như vậy yếu tố mới không có gì tăng hơn nhưng đã hoàn thành rất tốt các chỉ tiêu cơ bản của năm 2010. Tất nhiên do nhiều nguyên nhân nhưng có nguyên nhân quan trọng là do công tác điều hành chủ động, kịp thời và hiệu quả.

Năm 2010 Chính phủ dự kiến có 16/21 chỉ tiêu đạt và vượt, nhưng Ủy ban Kinh tế cho rằng chỉ có 15 chỉ tiêu, vì CPI cao hơn 7%. Vậy đánh giá là hoàn thành “rất tốt” liệu có lạc quan quá không, thưa ông?

Thực ra khi bàn các chỉ tiêu năm 2010 thì Ủy ban đề xuất chỉ tiêu lạm phát không quá 8%. Bây giờ tháng 10 đã là 7,58% nên còn hai tháng nữa khả năng trên 8% thì nhìn thấy rồi. Nền kinh tế chúng ta phụ thuộc nhiều vào thị trường thế giới, lạm phát cũng phụ thuộc rất nhiều vào giá cả thị trường thế giới nên điều hành như năm 2010 là tích cực. Nhất là điều hành chính sách tiền tệ rất cương quyết, nếu không thì không thể kìm chế được lạm phát ở mức như vậy.

Vậy tại sao vẫn có nhiều lời “phê” là chính sách tiền tệ và chính sách tài khóa chưa nhịp nhàng, thưa ông?

Nhận xét thế cũng không mâu thuẫn gì cả, vì đầu năm thắt chặt tín dụng thì doanh nghiệp và một số chuyên gia đều kêu ca. Trong khi đó ngân hàng chịu hai sức ép, phải giữ lạm phát dưới 7% nhưng vẫn phải phấn đấu tăng trưởng đạt chỉ tiêu 6,5% nên hướng đi như vừa qua là hoàn toàn đúng đắn. Tôi nói điều hành chính sách tiền tệ cương quyết là như vậy, trước áp lực đó nếu không kiên quyết mà nới lỏng thì lạm phát sẽ có thể bùng phát trở lại.

Còn lãi suất ngân hàng phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố khác nữa, thực tế bây giờ đã giảm nhưng vẫn ở mức cao. Chỗ này chúng ta cũng phải thấy rằng điều hành chính sách tiền tệ nó phức tạp, liên quan chặt chẽ đến chính sách tài khóa. Chính phủ cũng nhận định quan hệ giữa hai chính sách này chưa nhịp nhàng đồng bộ.

Ví dụ khi thắt chặt tiền tệ, tín dụng rất thấp, nhưng đầu tư thì vẫn tăng, nhất là đầu tư công hoặc như xung quanh mức lãi suất của trái phiếu Chính phủ, lãi suất huy động, lãi suất cho vay, hay trái phiếu của doanh nghiệp. Khi lãi suất Chính phủ và lãi suất ngân hàng không phù hợp với nhau thì có xu hướng thiên về trái phiếu Chính phủ nhiều  hơn, hoặc doanh nghiệp họ không vay được ngân hàng thì phát hành trái phiếu. Những mức lãi suất này không tương xứng nhau thì cái nọ nó đẩy cái kia tăng lên…

Theo ông, để nhịp nhàng hơn giữa chính sách tiền tệ và chính sách tài khóa thì cần có giải pháp gì?

Quan trọng là phối hợp các chính sách, khi ban hành phải có sự nhuần nhuyễn hơn để tránh khi chính sách ra đời thì có sự xung đột, như ở trên đã nói, tín dụng thì thắt chặt mà không thắt chặt đầu tư, nhất là đầu tư công thì không thể nói là đồng bộ được. Hay trong tổ chức thực hiện chính sách đã có, cũng cần phải thật quyết liệt.

Có ý kiến đại biểu cho rằng, 2010 là năm cuối của kế hoạch 5 năm (2006 – 2010) vì vậy Ủy ban Kinh tế nên đánh giá việc thực hiện kế hoạch này để làm cơ sở cho đại biểu thảo luận và quyết định những vấn đề quan trọng cho những năm tiếp theo. Báo cáo của Chính phủ có đánh giá sơ bộ về chỉ tiêu 5 năm, song báo cáo thẩm tra của Ủy ban thì không có, thưa ông?

Theo luật định thì tại kỳ họp này Ủy ban Kinh tế có báo cáo thẩm tra báo cáo của Chính phủ về tình hình thực hiện nhiệm vụ năm 2010 theo nghị quyết của Quốc hội thôi. Nên chúng tôi chỉ khuôn lại ở phạm vi đó. Bên cạnh đó, tài liệu để tham khảo cho kỳ họp này thì chúng tôi cũng đã gửi đến cho đại biểu qua nhiều kênh rồi.

Hơn 90% nội dung tố cáo liên quan đến cán bộ, công chức

Năm 2010, tình hình khiếu nại, tố cáo có xu hướng tăng về số vụ việc, số lượt công dân và số đoàn đông người…

Chính phủ cho biết, trong năm 2010 cả nước đã phát sinh 22.997 lượt đơn tố cáo với tổng số 13.152 vụ việc, so với cùng kỳ năm 2009 tăng 29,3% đơn và tăng 4,8% số vụ việc.

Năm 2010, tình hình khiếu nại, tố cáo có xu hướng tăng về số vụ việc, số lượt công dân và số đoàn đông người…, báo cáo của Chính phủ gửi đại biểu Quốc hội tại kỳ họp thứ tám nêu rõ.

Theo nghị trình, tình hình giải quyết khiếu nại tố cáo của công dân và công tác phòng chống tham nhũng sẽ được kết hợp thảo luận cùng một số báo cáo của các ngành tư pháp trong hai ngày 5-6/11 tới đây.

Về tình hình tố cáo, Chính phủ cho biết, trong năm 2010 cả nước đã phát sinh 22.997 lượt đơn tố cáo với tổng số 13.152 vụ việc, so với cùng kỳ năm 2009 tăng 29,3% đơn và tăng 4,8% số vụ việc.

Nội dung tố cáo trong lĩnh vực hành chính chiếm tỷ lệ 94,08%, chủ yếu tố cáo cán bộ, công chức cố ý làm trái, chiếm đoạt tài sản, lạm dụng chức vụ quyền hạn để vụ lợi, thiếu trách nhiệm, lãng phí, tiêu cực, tham nhũng, vi phạm pháp luật trong quản lý, sử dụng đất đai, tài chính ngân sách, đầu tư xây dựng cơ bản, thực hiện chính sách xã hội…, báo cáo viết.

Qua phân tích kết quả giải quyết 6.881 vụ việc tố cáo cho thấy, có 13,3% đơn tố cáo đúng; 58,5% tố cáo sai và 28,6% có đúng có sai.

Chính phủ cũng cho biết, qua giải quyết khiếu nại tố cáo đã kiến nghị thu hồi cho nhà nước 48.187 triệu đồng; 63,35 ha đất, trả lại cho tập thể, công dân 50.982 triệu đồng; 123 ha đất; minh oan cho 251 người; trả lại quyền lợi cho 1.524 người, kiến nghị xử lý hành chính 754 trường hợp và chuyển cơ quan điều tra xem xét trách nhiệm hình sự 46 vụ với 89 người.

Báo cáo nhấn mạnh, vào thời kỳ cao điểm, Thủ tướng Chính phủ đã trực tiếp chỉ đạo giải quyết để giải quyết kịp thời các bức xúc của dân, giữ ổn định chính trị xã hội. Tuy nhiên, một số địa phương có vụ việc Thủ tướng chỉ đạo nhưng chậm thực hiện như Hải Phòng, Hà Giang…

Đến tháng 8/2010 cả nước có 152 vụ việc đã có ý kiến chỉ đạo của Thủ tướng nhưng còn khiếu nại, tố cáo. Trong đó có 71 vụ việc cần chấm dứt xem xét, 81 vụ việc đang thực hiện do trong quá trình triển khai có vướng mắc, cần kiểm tra xem xét lại.

Theo đánh giá của Chính phủ, việc triển khai thực hiện các biện pháp giải quyết đối với các vụ việc tồn đọng, bức xúc kéo dài tiến độ còn chậm, chưa đảm bảo yêu cầu. Một số địa phương chưa tập trung cao, thiếu biện pháp quyết liệt để giải quyết nên còn nhiều vụ việc tồn đọng, kéo dài chưa được giải quyết như Tuyên Quang, Thái Bình, Quảng Bình, Thanh Hóa, Tp.HCM, Cà Mau…

Nhìn nhận những yếu kém, khuyết điểm trong giải quyết khiếu nại, tố cáo, Chính phủ cho rằng, một số địa phương chưa quan tâm đúng mức đến lợi ích chính đáng của dân, tạo mâu thuẫn, bất bình trong dân, từ đó làm cho dân mất lòng tin vào chính quyền, nhất là ở cấp cơ sở, cấp huyện, thị.

“Bên cạnh đó có một số nơi vì bảo thủ, không lắng nghe dân, nên quyết định giải quyết chưa thấu lý, đạt tình, công dân không đồng tình”, báo cáo nêu rõ.

Xem xét báo cáo của Chính phủ về công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo trước khi kỳ họp Quốc hội thứ tám bắt đầu, một số vị ủy viên Ủy ban Thường vụ Quốc hội băn khoăn khi những năm gần đây, tốc độ tăng trưởng kinh tế ở mức khá cao, thu nhập cũng tăng, nhưng khiếu nại, tố cáo không giảm.

Có ý kiến đề nghị Chính phủ thành lập bộ phận bao gồm các cán bộ có năng lực tập trung một thời gian giải quyết các vụ việc bức xúc kéo dài, xem thực tế vướng mắc gì thì xin ý kiến giải quyết. Tránh trường hợp năm nào họp cũng nêu nhiều vụ việc bức xúc kéo dài, nhưng “họp rồi đâu lại vào đấy”.

Giá vàng trong nước bất ngờ lập kỷ lục mới

Nhờ phiên tăng 1,2% của giá vàng thế giới và giá USD thị trường tự do lên gần 20.500 đồng, giá trong nước vọt lên 33,45 triệu đồng/lượng…

Giá vàng trong nước lao lên 33,45 triệu đồng/lượng.

Nhờ phiên tăng 1,2% của giá vàng thế giới và tỷ giá USD thị trường tự do hướng về mốc 20.500 đồng, giá vàng trong nước sáng nay bất ngờ lập kỷ lục mới ở 33,45 triệu đồng/lượng. Tuần này, giá vàng thế giới đã nối lại đà tăng bị gián đoạn trong tuần trước, giá vàng trong nước cũng đội thêm 600.000 đồng mỗi lượng.

Lúc 9h30 sáng nay, giá vàng miếng các thương hiệu trong nước đứng ở mức 33,35 triệu đồng/lượng (mua vào) và 33,4-33,45 triệu đồng/lượng (bán ra). So với đầu giờ sáng qua, giá vàng đã tăng 400.000 đồng/lượng.

Đây là mức giá cao chưa từng có tại thị trường vàng trong nước, phá vỡ kỷ lục cũ xấp xỉ 33,4 triệu đồng/lượng thiết lập vào ngày 19/10.

Tại Hà Nội, Phú Quý báo giá vàng SJC ở mức 33,35 triệu đồng/lượng (mua vào) và 33,45 triệu đồng/lượng (bán ra). Bảo Tín Minh Châu cũng niêm yết giá vàng Rồng Thăng Long ở các mức tương ứng lần lượt là 33,35 triệu đồng/lượng và 33,45 triệu đồng/lượng.

Tại Tp.HCM, SJC công bố giá vàng SJC trên website công ty ở mức 33,35 triệu đồng/lượng và 33,4 triệu đồng/lượng (giá mua vào và bán ra). Sacombank-SBJ thu mua vàng miếng SBJ ở mức giá 33,4 triệu đồng/lượng và bán ra ở mức 33,44 triệu đồng/lượng.

Đáng chú ý, trong nửa cuối của tháng 10, giá vàng trong nước đã 3 lần lập kỷ lục, trong khi xu hướng chung của giá vàng thế giới là đi xuống. Khi giá vàng trong nước chạm đỉnh 33,35 triệu đồng/lượng hôm 14/10, giá vàng thế giới lên mức 1.387 USD/oz.

Ở lần giá vàng trong nước lập đỉnh gần 33,4 triệu đồng/lượng hôm 19/10, giá vàng thế giới còn 1.370 USD/oz. Và ở lần lập kỷ lục sáng nay của giá vàng trong nước, giá vàng thế giới chốt ở mức gần 1.361 USD/oz.

Lực cầu vàng vật chất trong nước đã yếu đi trong tuần này khi trên thị trường xuất hiện thông tin Ngân hàng Nhà nước sắp công bố văn bản mới siết hoạt động huy động và cho vay vốn bằng vàng của các tổ chức tín dụng. Một số người trong giới kinh doanh vàng cũng cho biết, nhiều ngân hàng đã bán vàng ra trước khi Thông tư 22 chính thức được công bố vào chiều ngày 28/10.

Tuy nhiên, giá vàng trong nước đang được hỗ trợ mạnh bởi tỷ giá USD thị trường tự do liên tục được đẩy lên những mức đỉnh mới. Sáng nay, giá USD tự do tại Hà Nội đã lên tới mức 20.420 đồng/USD (giá mua) và 20.470 đồng/USD (giá bán). So với sáng hôm qua, giá USD đã đắt hơn 120 đồng ở đầu mua vào và 130 đồng ở đầu bán ra, còn so với cuối tuần trước, giá USD hiện đã tăng 340 đồng.

Chưa thể hạ nhiệt giá vàng, nhưng Thông tư 22 đã kéo giá vàng trong nước về sát giá thế giới, từ chỗ đứng cao hơn đáng kể so với giá vàng thế giới. Ngay khi có thông tin về việc văn bản này sắp được ban hành, giá vàng trong nước đã về chung mặt bằng với giá vàng thế giới quy đổi tính theo giá USD thị trường tự do.

Thậm chí, sáng nay, giá vàng trong nước đã rẻ hơn giá vàng thế giới quy đổi. Hiện giá vàng thế giới quy đổi, chưa tính thuế và các chi phí khác, đang tương ứng với 33,55 triệu đồng/lượng, đắt hơn giá vàng bán ra trong nước 100.000 đồng/lượng. Nếu tính thêm cả thuế và phí, thì mức chênh này lên tới hơn 400.000 đồng/lượng.

Giá vàng giao ngay phiên 29/10 tại thị trường New York tiếp tục tăng mạnh nhờ đồng USD suy yếu. Đóng cửa, vàng đạt mức giá 1.360,8 USD/oz, tăng 15,7 USD/oz so với giá đóng cửa phiên liền trước.

Tuần này, giá vàng giao ngay đã tăng 2,4%, sau khi giảm xấp xỉ 1% trong tuần trước và kết thúc chuỗi 11 tuần tăng giá liên tục.

Đồng USD hôm qua đã giảm giá mạnh so với các đồng tiền chủ chốt khác sau khi thống kê về GDP quý 3 của Mỹ cho thấy sự tăng trưởng còn yếu ớt. Theo Bộ Thương mại Mỹ, nền kinh tế lớn nhất thế giới tăng trưởng 2% trong quý 3 so với cùng kỳ năm trước, sau khi tăng 1,7% trong quý 2. Mức tăng này tương ứng với dự báo trước đó của các chuyên gia.

Giới phân tích kỳ vọng, với tốc độ phục hồi chậm của kinh tế Mỹ, FED có thể sẽ tung ra một gói nới lỏng định lượng có trị giá lớn hơn mức kỳ vọng của thị trường. Đồng USD hôm qua đã lập đáy mới trong 15 năm so với Yên Nhật và chốt tuần ở mức 1,4 USD/Euro. Trong tháng 10 này, USD đã giảm giá 2,2% so với Euro do những dự báo về chính sách tăng cung tiền của Mỹ.

Tâm điểm của thị trường ngoại tệ và vàng quốc tế tuần tới sẽ là cuộc họp của FED diễn ra vào ngày 2-3/11.

“Chúng tôi cho rằng, thị trường vàng đã phản ánh kỳ vọng về một gói kích thích trị giá khoảng 500 tỷ USD từ FED. Nếu FED tung ra số tiền lớn hơn, giá vàng sẽ tiếp tục tăng, còn nếu gói kích thích nhỏ hơn mức dự báo này, vàng có thể chịu áp lực giảm giá”, ông Walter de Wet, một chuyên gia phân tích thuộc ngân hàng Standard Bank, nhận định trên Reuters.

Giá dầu thô ngọt nhẹ giao tháng 12 chốt tuần ở mức 81,1 USD/thùng, cao hơn 0,75 USD/thùng so với phiên trước, nhưng giảm 0,59 USD/thùng so với cuối tuần trước.

Tháng khuyến mại Hà Nội 2010 mở màn

Khai mạc tối 30/10, Tháng khuyến mại Hà Nội 2010 sẽ kéo dài đến 30/11, với hơn 1.100 điểm khuyến mại trên địa bàn thành phố…

Tháng khuyến mại Hà Nội 2009, tổng mức lưu chuyển hàng hóa dịch vụ đã tăng thêm gần 800 tỷ đồng so với tháng trước đó.

Khai mạc tối 30/10, Tháng khuyến mại Hà Nội 2010 sẽ kéo dài đến 30/11, với hơn 1.100 điểm khuyến mại trên địa bàn thành phố.

Ông Phạm Đức Tiến, Phó giám đốc Sở Công Thương Hà Nội, Trưởng ban chỉ đạo Tháng khuyến mại 2010 cho biết, các điểm khuyến mại trên toàn địa bàn thành phố sẽ cung ứng hàng hóa dịch vụ trong các lĩnh vực: thực phẩm – đồ uống; thời trang – dệt may – giày dép; nội thất; nhà hàng – khách sạn; siêu thị – trung tâm thương mại…

Theo cam kết, các đơn vị tham gia Tháng khuyến mại sẽ giảm giá từ 15% trở lên với ít nhất 30% các mặt hàng đang kinh doanh. Riêng trong hai Ngày Vàng diễn ra vào ngày 13 và 14/11, tại 22 điểm Vàng của 17 doanh nghiệp, hàng hoá sẽ được giảm giá sâu từ 20-50%, đối với ít nhất 20% mặt hàng  đang kinh doanh, có giá trị từ 200.000 đồng/sản phẩm trở lên.  

Năm nay, nét mới của Tháng khuyến mại là các điểm Vàng không chỉ tập trung ở nội thành mà có cả ở các vùng ngoại thành như Hà Đông, Mê Linh, Ứng Hòa… “Điều này không chỉ giúp giảm ùn tắc giao thông trong nội thành, mà còn tạo cơ hội cho người dân các quận, huyện xa trung tâm dễ dàng mua được hàng giảm giá”, ông Phạm Đức Tiến nói.

Ngoài ra, UBND thành phố Hà Nội và Sở Công Thương đã phát hành cuốn “Những trang vàng tiêu dùng 2010-2011” và lập đường dây nóng phục vụ Tháng khuyến mại.

Các trường hợp khiếu nại của người tiêu dùng về hàng giả, hàng kém chất lượng trong Tháng khuyến mại Hà Nội 2010 sẽ được tổng đài 04.1081 kết nối đến Hội Tiêu chuẩn và Bảo vệ người tiêu dùng Việt Nam, hoặc các chi cục quản lý thị trường để kịp thời giải quyết.

Đồng thời, 32 đội quản lý thị trường cũng được huy độngm nhằm tăng cường kiểm tra, kiểm soát chất lượng dịch vụ phục vụ người tiêu dùng của các doanh nghiệp.

Cũng trong thời gian diễn ra Tháng khuyến mại Hà Nội 2010, từ ngày 18-21/11 còn có Hội chợ Vàng khuyến mại với quy mô khoảng 100 gian hàng. Đây chính là cơ hội cho các doanh nghiệp và người tiêu dùng mua bán hàng hóa khuyến mại tập trung tại một điểm.

Đây là năm thứ 3 Hà Nội tổ chức Tháng khuyến mại. Trong Tháng khuyến mại Hà Nội 2009, tổng mức lưu chuyển hàng hóa dịch vụ đã tăng thêm gần 800 tỷ đồng so với tháng trước đó.

FPT sẽ nắm quyền chi phối EVN Telecom

Công ty Cổ phần FPT và Công ty FPT Telecom sẽ chính thức nắm hơn 50% vốn điều lệ của EVN Telecom…

Hai công ty “mẹ-con” FPT sẽ cùng nắm giữ hơn 50% vốn điều lệ của EVN Telecom.

Ngày 26/10 vừa qua, Thủ tướng Chính phủ đã đồng ý cho Công ty Thông tin Viễn thông Điện lực (EVN Telecom) lựa chọn đối tác chiến lược trong nước là Công ty Cổ phần FPT và Công ty FPT Telecom (công ty con của FPT).

Theo đó, hai công ty “mẹ-con” FPT sẽ cùng nắm giữ hơn 50% vốn điều lệ của EVN Telecom.

Trước đó, EVN Telecom từng cho biết sẽ bán tối đa 30% cổ phần ra bên ngoài và tối thiểu là 20% cho nhà đầu tư chiến lược nước ngoài. Và dự kiến tới tháng 9 này, EVN Telecom sẽ hoàn tất quá trình cổ phần hóa.

Tuy nhiên, đến đầu tháng 10, Bộ Công Thương mới hoàn thành thẩm tra phương án cổ phần hóa EVN Telecom và trình Thủ tướng Chính phủ. Theo đó, phương án cổ phần hóa doanh nghiệp này dự kiến hoàn thành trong quý 4/2010.

Được biết, vốn điều lệ của EVN Telecom khi thành lập là gần 3.000 tỷ đồng.

Hiện tại, theo số liệu thống kê của Bộ Thông tin và Truyền thông, EVN Telecom đang đứng vị trí cuối cùng về thị phần trong số 7 doanh nghiệp viễn thông có hạ tầng mạng, với thị phần tính theo số lượng thuê bao là 1,1%.

Dow Jones khép lại tháng 10 tốt nhất từ 2006

Chỉ số công nghiệp Dow Jones chốt tuần tuy giảm điểm so với tuần trước, nhưng tính cả tháng đã tăng hơn 280 điểm…

Phố Wall đan xen trong phiên cuối tháng – Ảnh: Reuters.

Phố Wall đã khép lại tháng 10 với kết quả giao dịch đan xen. Chỉ số công nghiệp Dow Jones chốt tuần tuy giảm điểm so với tuần trước, nhưng tính cả tháng đã tăng hơn 280 điểm. Đây là tháng 10 tăng điểm tốt nhất của chỉ số này kể từ năm 2006 tới nay.

Kết thúc ngày giao dịch 29/10, chỉ số công nghiệp Dow Jones tăng 4,54 điểm, tương ứng 0,04%, lên 11.118,49 điểm. Nasdaq tăng 0,04 điểm, tương ứng 0%, lên 2.507,41 điểm. S&P 500 hạ 0,52 điểm, tương ứng 0,04%, xuống 1.183,26 điểm.

Tính cả tuần giao dịch, chỉ số Dow Jones giảm 0,13%, chỉ số S&P 500 tăng 0,02% và chỉ số Nasdaq tăng 1,12%. Nếu tính toàn tháng 10, thì cả 3 chỉ số đều tăng mạnh, trong đó Dow Jones tăng 2,6%, S&P 500 là 3,1% và Nasdaq tăng tới 5,37%.

Sở dĩ Phố Wall tăng điểm mạnh trong tháng 10 là nhờ sự dẫn dắt của nhóm cổ phiếu công nghệ khi một loạt hãng công nghệ như Google, Microsoft báo cáo kết quả lợi nhuận quý 3 vượt kỳ vọng. Tính toàn tháng, nhóm cổ phiếu này tăng tới 4,78%.

Nhóm cổ phiếu năng lượng cũng là một yếu tố góp phần vào sự đi lên của thị trường. Dự báo nhu cầu năng lượng tăng cao hơn cùng việc đồng USD suy yếu đã giúp nhóm cổ phiếu này tăng tới 4,63%.


Toàn cảnh phiên giao dịch cuối tháng 10 của thị trường Mỹ – Nguồn: G.Finance.

Đáng chú ý là nhóm cổ phiếu tài chính, vốn đóng vai trò quan trọng chi phối sự thăng giảm của thị trường những tháng trước, lại chỉ tăng có 1,72% trong tháng 10, thấp hơn nhiều so với mức tăng của chỉ số S&P 500.

Phiên giao dịch hôm qua, nhà đầu tư hạn chế giao dịch do tâm lý chờ đợi Cục Dự trữ Liên bang (FED) công bố đợt nới lỏng định lượng vào giữa tuần sau. Đây cũng là nhân tố đã chi phối thị trường trong tuần.

Khối lượng giao dịch trên cả 3 sàn New York, American và Nasdaq đạt 6,9 tỷ cổ phiếu, thấp hơn nhiều so với mức trung bình hàng ngày 8,73 tỷ cổ phiếu từ đầu năm tới nay.

Hôm qua, Bộ Thương mại Mỹ công bố GDP quý 3 của nước này tăng trưởng 2%, nhưng vẫn chưa đủ mạnh để giảm bớt tình trạng thất nghiệp đang ở mức cao hay lấn lướt tâm lý chờ đợi hành động nới lỏng tiền tệ của FED.

Cùng ngày, kết quả khảo sát của Thomson Reuters và trường đại học Michigan cho thấy, niềm tin người tiêu dùng Mỹ trong tháng 10 giảm nhẹ, xuống mức thấp nhất trong gần 1 năm qua.

Diễn biến cùng chiều với thị trường Mỹ, khu vực chứng khoán châu Âu chốt tuần với kết quả trái chiều. Chỉ số FTSE 100 của Anh giảm 0,05%, chỉ số CAC 40 của Pháp hạ 0,03%, trong khi chỉ số DAX của Đức tăng 0,09%.

Bảng 1: So sánh kết quả giao dịch các thị trường phiên 28 và 29/10:

Thị trường Chỉ số Phiên trước Đóng cửa Tăng/giảm (điểm) Tăng/giảm (%)
Mỹ Dow Jones 11.114,00 11.118,50 Up4,54 Up0,04
S&P 500 1.183,78 1.183,26 Down0,52 Down0,04
Nasdaq 2.507,37 2.507,41 Up0,04 Up0,00
Anh FTSE 100 5.677,89 5.675,16 Down2,73 Down0,05
Pháp CAC 40 3.834,84 3.833,50 Down1,34 Down0,03
Đức DAX 6.595,28 6.601,37 Up6,09 Up0,09
Nhật Bản Nikkei 225 9.366,03 9.202,45 Down163,58 Down1,75
Hồng Kông Hang Seng 23.210,90 23.096,30 Down114,54 Down0,49
Trung Quốc Shanghai Composite 2.992,58 2.978,83 Down13,74 Down0,46
Đài Loan Taiwan Weighted 8.354,05 8.287,09 Down66,96 Down0,80
Hàn Quốc KOSPI Composite 1.907,87 1.882,95 Down24,92 Down1,31
Ấn Độ BSE 19.941,00 20.032,30 Up91,30 Up0,46
Singapore Straits Times 3.129,50 3.142,62 Up13,12 Up0,42
Nguồn: CNBC, Market Watch.

Bảng 2: So sánh kết quả chốt phiên tuần trước và tuần này

Thị trường Chỉ số Tuần trước Tuần này Tăng/giảm (điểm)
Mỹ Dow Jones 11.132,60 11.118,50 Down14,10
S&P 500 1.183,08 1.183,26 Up0,18
Nasdaq 2.479,39 2.507,41 Up28,20
Anh FTSE 100 5.741,37 5.675,16 Down66,21
Pháp CAC 40 3.868,54 3.833,50 Down35,04
Đức DAX 6.605,84 6.601,37 Down4,47
Nhật Bản Nikkei 225 9.426,71 9.202,45 Down224,26
Hồng Kông Hang Seng 23.517,50 23.096,30 Down421,20
Trung Quốc Shanghai Composite 2.975,04 2.978,83 Up3,79
Đài Loan Taiwan Weighted 8.168,06 8.287,09 Up119,03
Hàn Quốc KOSPI Composite 1.897,31 1.882,95 Down14,36
Ấn Độ BSE 20.165,90 20.032,30 Down133,60
Singapore Straits Times 3.173,57 3.142,62 Down30,95
Nguồn: CNBC, Market Watch.

Bế mạc Hội nghị Cấp cao ASEAN thứ 17

Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng chúc Indonesia đảm nhiệm thành công nhiệm vụ Chủ tịch ASEAN năm 2011…

Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng tại một phiên họp.

Chiều 30/10, Hội nghị Cấp cao ASEAN 17 và các hội nghị cấp cao liên quan đã thành công tốt đẹp, sau 3 ngày làm việc khẩn trương và hiệu quả.

Với quyết tâm chính trị và tầm nhìn xa, hội nghị đã thống nhất đề ra nhiều quyết sách quan trọng và biện pháp thiết thực nhằm tiếp tục đẩy nhanh tiến trình xây dựng Cộng đồng ASEAN và bảo đảm vai trò trung tâm của Hiệp hội trong một cấu trúc khu vực đang định hình, đồng thời đưa quan hệ giữa ASEAN với các đối tác lên tầm cao mới, đẩy mạnh hợp tác rộng rãi và phát huy tác dụng của nhiều công cụ và cơ chế để xử lý những thách thức chung ở khu vực.

Phát biểu bế mạc hội nghị, Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Tấn Dũng nhấn mạnh xây dựng cộng đồng ASEAN là nhiệm vụ trọng tâm và xuyên suốt của Hiệp hội.

Thành công của hội nghị lần này và Cấp cao ASEAN 16 cùng với những nỗ lực hành động chung của ASEAN ở tất cả các cấp trong gần một năm qua theo chủ đề xuyên suốt là “Hướng tới cộng đồng ASEAN: Từ tầm nhìn đến hành động” đã đem lại những kết quả rất quan trọng và đầy ý nghĩa, góp phần to lớn cho tiến trình thực hiện hóa mục tiêu hình thành cộng đồng ASEAN vào năm 2015.

Hội nghị đã tạo được sự chuyển biến đáng kể trong việc biến tầm nhìn thành hành động cụ thể và thiết thực. Hiệp hội quyết tâm có những nỗ lực lớn hơn trong thực thi nghiêm túc các thỏa thuận, nhất là tiếp tục tăng cường các cơ chế giám sát và đánh giá kết quả cũng như đẩy mạnh việc huy động nguồn lực triển khai hiến chương và lộ trình xây dựng cộng đồng ASEAN và các chương trình, kế hoạch quan trọng khác, trong đó có kế hoạch tổng thể về kết nối ASEAN.

Hiệp hội khuyến khích các nước thành viên chủ động lồng ghép các thỏa thuận khu vực vào các chương trình, kế hoạch phát triển quốc gia để tạo ra sự hài hòa trong việc thực hiện các mục tiêu quốc gia để tạo ra sự hài hòa trong việc thực hiện các mục tiêu quốc gia và khu vực.

Hội nghị cũng đã có nhiều nỗ lực nhằm tăng cường, mở rộng và làm sâu sắc thêm các quan hệ đối ngoại của Hiệp hội, đồng thời phát huy vai trò chủ đạo của ASEAN ở khu vực.

Hiệp hội đã tạo được tiếng nói chung trong nhiều vấn đề quan trọng, kể cả những vấn đề phức tạp và khẳng định được vai trò là động lực chính trong việc thúc đẩy đối thoại và hợp tác vì hòa bình, an ninh và phát triển ở khu vực, gắn kết các mối quan tâm và điều hòa các lợi ích đan xen của các đối tác.

Thực tiễn cho thấy ASEAN tiếp tục giữ vững vai trò trung tâm của mình và là nhân tố hàng đầu thúc đẩy sự hình thành một cấu trúc khu vực năng động.

Điều đáng trân trọng là các đối tác tiếp tục khẳng định coi trọng quan hệ và mong muốn tăng cường hơn nữa hợp tác toàn diện với ASEAN, ủng hộ ASEAN xây dựng cộng đồng và giữa vai trò trung tâm ở khu vực.

Trong năm qua, quan hệ đối ngoại của ASEAN đã có những bước phát triển mạnh mẽ và đi vào chiều sâu thông qua việc tăng cường đối thoại ở các cấp, nhất là ở cấp cao cũng như việc triển khai các kế hoạch hành động thực hiện các tuyên bố chung về quan hệ đối tác chiến lược hoặc đối tác toàn diện.

ASEAN và các đối tác đều quyết tâm và đạt thỏa thuận nâng quan hệ đối tác theo khuôn khổ ASEAN+1 lên tầm cao mới, đẩy mạnh hợp tác theo hướng thực chất và hiệu quả hơn, nhất là trên các lĩnh vực ưu tiên; nâng cao hiệu quả họat động của các diễn đàn khu vực hiện có do ASEAN giữ vai trò chủ đạo, tăng cường đối thoại và hợp tác vì lợi ích chung là hòa bình, ổn định và phát triển ở khu vực.

ASEAN ngày càng thể hiện là thành viên có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế trong việc xử lý những vấn đề chung ở khu vực và trên thế giới. Hiệp hội cũng đã thể hiện khả năng linh họat, nhạy bén trong việc kịp thời hành động và thúc đẩy hợp tác rộng rãi để ứng phó với các thách thức nảy sinh, nhất là về phục hồi kinh tế và phát triển bền vững cũng như ứng phó với biến đổi khí hậu, thiên tai và dịch bệnh.

ASEAN còn có những đóng góp quan trọng cho các họat động liên quan của Liên hiệp quốc, APEC, ASEM và G-20.

Nhận định chặng đường phía trước của ASEAN vẫn còn không ít thách thức nhưng với những thành tựu đã đạt được, với quyết tâm chính trị cao của tất cả các quốc gia thành viên và sự hưởng ứng của người dân cũng như sự ủng hộ và hỗ trợ tích cực của các đối tác, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng tin tưởng vào tương lai tươi sáng của một cộng đồng ASEAN vững mạnh, phát triển và thịnh vượng.

Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng khẳng định trong năm đảm nhiệm cương vị Chủ tịch ASEAN 2010, Việt Nam đã làm hết sức mình, phối hợp cùng các nước thành viên ASEAN khác và các đối tác để đạt được những kết quả quan trọng trong tiến trình xây dựng cộng đồng ASEAN, đồng thời góp phần tích cực cho hòa bình, an ninh và phát triển ở khu vực.

Chủ trương nhất quán của Việt Nam là đã và sẽ tiếp tục tham gia hợp tác ASEAN với phương châm “tích cực, chủ động và có trách nhiệm”, góp phần xây dựng một ASEAN liên kết chặt chẽ và ngày càng vững mạnh.

Nhân dịp kết thúc thành công Hội nghị Cấp cao ASEAN 17 và các hội nghị cấp cao liên quan, thay mặt Chính phủ và nhân dân Việt Nam, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng bày tỏ lời cám ơn chân thành tới các vị lãnh đạo, các quan chức của ASEAN và các bên đối tác, ngài Tổng Thư ký và Ban thư ký ASEAN, các bạn bè trong khu vực và quốc tế đã nhiệt thành ủng hộ, chia sẻ và chung tay cùng Việt Nam để Việt Nam đảm đương thành công cương vị Chủ tịch ASEAN năm 2010.

Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng chúc Indonesia đảm nhiệm thành công nhiệm vụ Chủ tịch ASEAN năm 2011.

Sau không khí rộn ràng của bản ASEAN ca, Tổng thống Indonesia Susilo Bambang Yudhoyono phát biểu cảm ơn và chúc mừng Việt Nam đã hoàn thành xuất sắc vai trò Chủ tịch ASEAN năm 2010, đưa các quốc gia xích gần nhau hơn, hướng tới xây dựng cộng đồng ASEAN vào năm 2015.

Với tư cách là Chủ tịch ASEAN 2011, Tổng thống Susilo Bambang Yudhoyono bày tỏ lạc quan về tương lai phát triển của ASEAN, tiếp tục vươn lên như một thực thể thống nhất, đồng thời khẳng định Indonesia sẽ làm hết sức phối hợp cùng với các nước thành viên ASEAN và các đối tác để tiếp tục xây dựng tiến trình cộng đồng ASEAN.

Tiếp đó, các nhà lãnh đạo đã xem bộ phim giới thiệu về đất nước, con người Indonesia và trao cương vị Chủ tịch ASEAN 2011 cho Indonesia.

(TTXVN)