Cần 162,5 nghìn tỷ đồng phát triển kinh tế đảo đến 2020

Quy hoạch phát triển kinh tế đảo Việt Nam đến năm 2020 vừa được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt…

Kinh tế đảo sẽ được đầu tư mạnh mẽ hơn.

Theo Quy hoạch phát triển kinh tế đảo Việt Nam đến năm 2020 vừa được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt, dự tính tổng nhu cầu vốn đầu tư cho hệ thống đảo từ nay đến năm 2020 khoảng 162,5 tỷ đồng.  Trong đó, giai đoạn 2011 – 2015 cần khoảng 51,8 nghìn tỷ đồng.

Mục tiêu đặt ra trong quy hoạch là tạo sự chuyển biến căn bản và vững chắc trong cơ cấu kinh tế đảo, hình thành và phát triển một số ngành mũi nhọn phù hợp với lợi thế của vùng đảo; phấn đấu nâng mức đóng góp của kinh tế biển đảo trong kinh tế cả nước từ 0,2% hiện nay lên 0,5% vào năm 2020 và tốc độ tăng trưởng kinh tế đảo đạt bình quân 14-15%/năm.

Theo quy hoạch này, tập trung xây dựng nhanh hệ thống kết cấu hạ tầng trên các đảo được coi là khâu đột phá chính để thu hút đầu tư và khuyến khích dân ra định cư lâu dài trên các đảo, vừa phát triển kinh tế vừa góp phần bảo vệ an ninh chủ quyền vùng biển, đảo.

 Định hướng phát triển cũng nêu rõ một số ngành có lợi thế cần được tập trung đầu tư như hải sản, du lịch…Theo đó, đến năm 2020 tổng sản lượng hải sản của vùng đảo đạt 300 -350 nghìn tấn. Giá trị ngành hải sản đạt tốc độ tăng trưởng khoảng 7 -8%/năm thời kỳ 2011 – 2020.

Về du lịch, theo quy hoạch, đến năm 2020 phấn đấu sẽ thu hút khoảng 2,7 – 2,8 triệu lượt khách, trong đó có 700 – 850 nghìn khách quốc tế đến vùng đảo. Tốc độ tăng trưởng bình quân thời kỳ 2011 – 2020 khoảng 12,5%/năm.

Quy hoạch cũng sẽ tập trung phát triển các đảo trọng điểm như Đảo Phú Quốc (Kiên Giang), Vân Đồn (Quảng Ninh), Côn Đảo (Bà Rịa-Vũng Tàu), Cô Tô-Thanh Lân (Quảng Ninh), Cát Bà-Cát Hải (Hải Phòng), Lý Sơn (Quảng Ngãi), Phú Quý (Bình Thuận).

Để thực hiện Quy hoạch này, Chính phủ sẽ triển khai đồng bộ các giải pháp liên quan đến hoàn thiện khung pháp lý, phát triển nguồn nhân lực, huy động vốn đầu tư, đẩy mạnh áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật, điều tra cơ bản và nghiên cứu khoa học…

Đa số người dân được hỏi đồng ý với quy hoạch chung Thủ đô

Chiều 29/4, Bộ Xây dựng đã công bố kết quả thăm dò ý kiến nhân dân về đồ án quy hoạch chung Thủ đô Hà Nội…

Các tầng lớp nhân dân đến tham quan, cho ý kiến về đồ án quy hoạch chung Thủ đô – Ảnh: Từ Nguyên.

Chiều 29/4, Bộ Xây dựng đã công bố kết quả thăm dò ý kiến nhân dân về đồ án quy hoạch chung Thủ đô Hà Nội đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2050.

Theo đó, tính đến hết ngày 28/4, tức là sau 8 ngày tổ chức triển lãm – lấy ý kiến nhân dân tại Trung tâm triển lãm Vân Hồ, Hà Nội, ban tổ chức đã đón hơn 16.000 lượt khách đến tham quan, phát ra trên 6.700 phiếu thăm dò ý kiến và thu về khoảng 3.000 phiếu. Bình quân tỷ lệ các ý kiến đồng ý với đồ án là 84,5%.

Phiếu thăm dò ý kiến tập trung vào 15 vấn đề lớn: định hướng phát triển không gian; các đô thị về tinh, thị trấn, thị tứ; quy hoạch hạ tầng xã hội; giao thông; hạ tầng kỹ thuật; bảo vệ môi trường; bảo tồn di sản; nông thôn mới; trung tâm hành chính quốc gia; trục Thăng Long; liên kết vùng; đô thị sông Hồng; quản lý, phát triển đô thị; hành lang xanh; vành đai xanh…

Vấn đề quy hoạch hạ tầng xã hội thu được sự đồng thuận cao nhất, tiếp đến là hành lang xanh và vành đai xanh. Hai vấn đề có tỷ lệ đồng thuận thấp nhất là vị trí trung tâm hành chính quốc gia (69,4%) và trục Thăng Long kết nối với khu vực Hồ Tây với núi Ba Vì (76,5%).

Thứ trưởng Bộ Xây dựng Nguyễn Đình Toàn cho biết, ghi nhận lớn nhất trong mấy ngày triển lãm là sự quan tâm của đông đảo mọi tầng lớp dân cư, từ giới chuyên môn đến cả người lao động, học sinh, sinh viên…

Cũng theo Thứ trưởng Toàn, đây mới chỉ là quy hoạch chung chứ chưa phải quy hoạch chi tiết nên không thể cụ thể chi tiết đến từng địa bàn.

Nếu đồ án được thông qua, quy hoạch chi tiết sẽ tiếp tục được triển khai để cụ thể hóa quy hoạch chung và sẽ công bố tại tất cả 29 quận, huyện thị xã của thành phố Hà Nội.

Theo kế hoạch, trong tháng 5, Bộ Xây dựng sẽ báo cáo Ủy ban Thường vụ Quốc hội về đồ án này, trong đó sẽ xem xét, chọn lọc, cập nhật cả những ý kiến đóng góp mới nhất, thiết thực nhất trước khi trình cấp có thẩm quyền thông qua.

Quy hoạch chung xây dựng Hà Nội đến năm 2030 và tầm nhìn đến năm 2050 được kỳ vọng sẽ đưa đô thị Hà Nội phát triển bền vững theo mô hình kết nối mạng đa cực, đa trung tâm, đa tầng bậc.

Thủ đô sẽ gồm đô thị trung tâm hạt nhân được giới hạn từ đô thị lõi mà chủ yếu là khu phố cổ, phố cũ đến tuyến đường vành đai IV (phía Tây) và phía bắc sông Hồng đến khu vực Mê Linh, Đông Anh, Gia Lâm. Cùng đó là 5 đô thị vệ tinh được xác định là Hòa Lạc, Sơn Tây, Xuân Mai, Phú Xuyên – Phú Minh và Sóc Sơn. Ngoài ra, Hà Nội còn có nhiều đô thị sinh thái, thị trấn hiện hữu khác.

Triển lãm lấy ý kiến nhân dân về đồ án quy hoạch chung xây dựng Thủ đô Hà Nội đến năm 2030 và tầm nhìn đến năm 2050 diễn ra từ ngày 21/4 đến hết ngày 1/5 tại Trung tâm Triển lãm Vân Hồ, Hà Nội.

Cải tạo ao, hồ Hà Nội: “Khảo sát, rút lui, không ý kiến”

Các ao hồ ở Hà Nội hiện nay gần như là bắt buộc phải tiếp nhận và tự xử lý nước thải chảy tràn, sinh hoạt và công nghiệp…

Hồ Kim Liên – một trong những hồ đang được thí điểm cải tạo.

“Nhiều đoàn chuyên gia nước ngoài đã đến huyện Hoài Đức để khảo sát, tìm cách xử lý nước thải làng nghề tại đây để cải tạo ao hồ, nhưng kết quả là lần lượt rút lui, không ý kiến…”.

Thông tin này đã được Phó chủ tịch UBND thành phố Hà Nội Vũ Hồng Khanh nêu ra tại buổi hội thảo “Cải tạo môi trường hồ Hà Nội” do Sở Tài nguyên và Môi trường cùng Liên hiệp Các hội khoa học kỹ thuật Hà Nội tổ chức sáng 29/4.

Ô nhiễm tăng

Báo cáo do ban tổ chức đưa ra cho thấy, nội thành Hà Nội hiện có trên 110 hồ tự nhiên, nhân tạo với tổng diện tích khoảng 1.165 ha. Đa số trong đó đều đang ở trong tình trạng báo động ô nhiễm nghiêm trọng bởi hầu hết hệ thống nước thải vào hồ đều chưa qua xử lý.

Bên cạnh đó, do các dự án phát triển đô thị và tình trạng lấn chiếm bất hợp pháp, một số hồ ao của Hà Nội đã bị lấp để tạo quỹ đất phát triển đô thị nên diện tích ao hồ đã giảm mạnh trong hai thập kỷ qua.

Chẳng hạn như hồ Tây năm 1993 có diện tích là 526 ha, nhưng đến năm 2001 chỉ còn 516 ha. Tương ứng thời gian trên đối với hồ Hoàn Kiếm từ 16 ha giảm xuống còn 12 ha, hồ Trúc Bạch là 26 ha giảm xuống còn 19 ha, hồ Thủ Lệ 12 ha xuống còn 9,9 ha, hồ Thanh Nhàn từ 17 ha xuống còn 8,5 ha…

Đáng chú ý, nếu trong một thời gian dài, từ 1986 – 1994, diện tích ao hồ Hà Nội bị giảm đi 16,36 ha, thì chỉ trong vòng 1 năm sau (1995), diện tích đã bị giảm một cách đột biến (23,43ha) do tác động mạnh từ yếu tố con người.

Theo TS. Lê Thu Hà (Đại học Quốc gia Hà Nội), các ao hồ ở Hà Nội hiện nay gần như là bắt buộc phải tiếp nhận và tự xử lý nước thải chảy tràn, sinh hoạt và công nghiệp. Tình trạng này đang có xu hướng gia tăng mạnh, gây ô nhiễm nghiêm trọng đến môi trường sống cho các khu vực dân cư xung quanh hồ cũng như toàn thành phố.

Nguồn gây ô nhiễm cho các ao hồ chủ yếu là từ chất thải rắn, nước thải sinh hoạt, nước thải công nghiệp của dân cư và các tổ chức xung quanh hồ.

Trong khi đó, theo ông Lương Hùng, Chủ tịch Hội Bảo vệ môi trường thiên nhiên Hà Nội, nhận thức được nguy cơ ô nhiễm ao hồ của Hà Nội, ngay từ năm 2002, tổ chức này đã đã làm tờ trình dự án cải tạo ao hồ, mương thoát nước ở Hà Nội, song tình trạng lại ngày càng trầm trọng hơn bởi thái độ xem nhẹ đề án của một số cơ quan hữu quan.

“Nhà tôi ở ngay Hồ Văn Chương, quanh năm phải đóng kín cửa vì mùi hôi tanh nồng nặc. Không chỉ riêng gia đình tôi, cả khu mang tiếng là có nhà mặt tiền cạnh hồ nhưng quanh năm phải đóng kín cửa không dám tiếp xúc với hồ”, một cán bộ của Liên hiệp Các hội khoa học kỹ thuật Hà Nội than thở.

Chia sẻ với những bức xúc trên, Phó chủ tịch Vũ Hồng Khanh nhấn mạnh, tình trạng ô nhiễm môi trường tại các hồ ở Hà Nội đang ở mức báo động bởi rất nhiều người dân xem hồ như cái thùng rác, xả nước thải, chất thải, rác bẩn xuống hồ vô tội vạ.

Bên cạnh đó, việc nuôi trồng thủy sản của người dân tại các hồ không đúng khoa học, kỹ thuật cũng là nguyên nhân góp phần làm ô nhiễm tăng lên.

Cải tạo cách nào?

Theo Phó chủ tịch Vũ Hồng Khanh, vấn đề ô nhiễm môi trường tại các ao hồ đang được UBND thành phố xem là quan tâm “số 1” trong vấn đề ô nhiễm môi trường sống tại Thủ đô hiện nay.

Vừa qua, sau khi thành phố có chủ trương xã hội hóa cải tạo ao hồ trên địa bàn, nhiều doanh nghiệp đã mạnh dạn đầu tư công sức, tài chính để cùng thành phố khắc phục tình trạng ô nhiễm ao hồ hiện nay.

Tuy nhiên, theo Phó chủ tịch Vũ Hồng Khanh, để thực hiện được công việc này lại không, hề đơn giản, từ lựa chọn công nghệ, nhà đầu tư, cách thức triển khai…, đều là một bài toán vô cùng hóc búa.

Ông Khanh thừa nhận, thực tế hiện nay thành phố vẫn lúng túng trong vấn đề xử lý nước thải, bởi ngoài vấn đề về công nghệ thì chính những việc liên quan đến cuộc sống mưu sinh của người dân nhiều khi lại trở thành những rào cản cho nỗ lực của thành phố.

Theo ông Khanh, nếu như việc xả nước thải tại các cơ quan, tổ chức, bệnh viện,… thành phố có thể cấm được, song tại các làng nghề thì lại không thể cấm bởi nó liên quan tới “miếng cơm manh áo” của người dân.

“Nhiều đoàn chuyên gia nước ngoài đã đến huyện Hoài Đức để khảo sát, tìm cách xử lý nước thải làng nghề tại đây, nhưng kết quả là lần lượt rút lui, không ý kiến…”, ông Khanh cho hay.

Liên quan đến phương pháp cải tạo, kè ao hồ mà thành phố đang triển khai thí điểm hiện nay, nhiều ý kiến cho rằng, cần phải được tiến hành một cách khoa học, có nghiên cứu bài bản, không làm ồ ạt theo kiểu chạy theo số lượng.

TS. Lê Khắc Quảng, Hội Bảo vệ môi trường thiên nhiên Hà Nội cho biết, giải pháp dùng hóa chất để xử lý cũng như việc kè hồ như hiện nay luôn mang tính hai mặt. Bên cạnh lợi ích về cảnh quan xung quanh hồ, việc kè ao hồ một cách tràn lan sẽ vô tình làm cho môi trường nước tại các ao hồ có nguy cơ ô nhiễm hơn vì các sinh vật, thủy sinh, cây cỏ xung quanh hồ bị tiêu diệt hết.

Trong khi đó, theo Kiến trúc sư Trần Thanh Vân, thành phố không nên quá chạy theo xử lý hậu quả như hiện nay. Muốn giải quyết triệt để tận gốc của tình trạng ô nhiễm, thu hẹp diện tích ao hồ hiện nay chính là phải bắt nguồn từ công tác quản lý.

Kiến trúc sư Trần Thanh Vân cho biết, sở dĩ Hồ Hoàn Kiến hiện nay chỗ sâu nhất chỉ chưa đầy 1m (trước đây là 6,5m) là vì thành phố cho phép xây nhiều nhà cao tầng xung quanh hồ.

“Địa tầng khu vực xung quanh ao hồ cũng giống như một chiếc bánh dày, nếu chúng ta ép chỗ này thì chỗ kia tất yếu sẽ bị đùn lên”, bà Vân giải thích.

Tiếp thu những phản biện trên, Phó chủ tịch Vũ Hồng Khanh cho rằng, thực tế thì thành phố cũng không quá “say sưa” với việc kè hồ. Hiện nhiều nước trên thế giới đang đi theo hướng bảo vệ đúng nghĩa thiên nhiên của bờ kè, nghĩa là vẫn dành đất cho sinh vật xung quanh hồ sinh sống.

Tuy nhiên, theo ông Khanh, ao hồ ở Hà Nội nếu không được kè lại dẫn đến chuyện lấn chiếm đất công, vô tình khiến các ao hồ lại đứng trước nguy cơ biến mất gia tăng.

Về vấn đề lựa chọn công nghệ, Phó chủ tịch Khanh khẳng định, quan điểm của thành phố là sẽ ưu tiên sử dụng công nghệ trong nước nếu có cùng chi phí và hiệu quả với công nghệ của nước ngoài.

Bên cạnh đó, thành phố cũng tăng cường kêu gọi các doanh nghiệp tham gia cải tạo ao hồ theo phương thức xã hội hóa. Đáp lại, doanh nghiệp sẽ được tham gia quản lý, sử dụng và khai thác hồ với mục tiêu lợi nhuận.

“Xử lý ô nhiễm môi trường ở các ao hồ là một bài toán khó, nhưng không có nghĩa khó thì không làm. Thành phố sẽ lắng nghe các ý kiến đóng góp của các nhà khoa học, các tổ chức, nhân dân để trong một vài thập kỷ tới, ao hồ ở Hà Nội sẽ trở nên trong hơn, sạch hơn”, ông Vũ Hồng Khanh khẳng định.

Thủ tướng hội kiến Tổng bí thư, Chủ tịch Trung Quốc

Hai nhà lãnh đạo nhất trí cho rằng hai bên cần tiếp tục kiên trì tìm kiếm giải pháp thỏa đáng cho các vấn đề liên quan đến biển Đông…

Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng và Tổng bí thư, Chủ tịch Trung Quốc Hồ Cẩm Đào – Ảnh: TTXVN.

Theo tin từ Cổng thông tin điện tử Chính phủ, ngày 30/4, tại thành phố Thượng Hải, nhân dịp sang dự lễ khai mạc Triển lãm Thế giới Thượng Hải 2010 (World Expo), Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã hội kiến Tổng bí thư Đảng Cộng sản Trung Quốc, Chủ tịch nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa Hồ Cẩm Đào

Thủ tướng đánh giá cao những nỗ lực và sự chuẩn bị chu đáo của Chính phủ Trung Quốc và chính quyền thành phố Thượng Hải trong việc tổ chức Triển lãm Thế giới Thượng Hải lần này, cho rằng đây là cơ hội rất tốt để các nước và Trung Quốc giao lưu hữu nghị, trao đổi kinh nghiệm, tăng cường hiểu biết lẫn nhau, thúc đẩy hợp tác cùng nhau phát triển.

Tổng bí thư, Chủ tịch nước Hồ Cẩm Đào hoan nghênh và đánh giá cao việc Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng thăm Trung Quốc và tham dự lễ khai mạc Triển lãm Thế giới Thượng Hải, chúc mừng những thành tựu phát triển kinh tế, xã hội Việt Nam đạt được trong thời gian qua.

Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng và Tổng bí thư, Chủ tịch nước Hồ Cẩm Đào cùng khẳng định Việt Nam và Trung Quốc là hai nước láng giềng gần gũi, quan hệ hợp tác hữu nghị giữa hai nước không ngừng phát triển trong 60 năm qua là phù hợp với lợi ích cơ bản và nguyện vọng của nhân dân hai nước.

Hai bên nhấn mạnh ý nghĩa của Năm Hữu nghị Việt – Trung 2010 và bày tỏ vui mừng trước những bước phát triển mới quan trọng của quan hệ Việt – Trung, đặc biệt từ  khi hai nước thiết lập quan hệ đối tác hợp tác chiến lược toàn diện tháng 5/2008.

Hai bên nhất trí tiếp tục phát huy cơ chế ủy ban chỉ đạo hợp tác song phương và ủy ban hợp tác kinh tế thương mại, nhằm tăng cường và nâng cao hiệu quả hợp tác trên các lĩnh vực, đặc biệt là về kinh tế, thương mại, đầu tư, văn hóa, giáo dục và du lịch.

Tiếp tục duy trì đà tăng trưởng thương mại, phấn đấu thực hiện mục tiêu 25 tỷ USD trong năm nay; sớm hoàn tất để ký và thực hiện quy hoạch 5 năm phát triển kinh tế thương mại Việt – Trung; thúc đẩy các dự án trong kế hoạch hai hành lang, một vành đai kinh tế; giao cơ quan chủ quản hai nước tiến hành trao đổi về việc ký kết thỏa thuận hoán đổi tiền tệ song phương sử dụng đồng bản tệ; đồng thời tiếp tục tăng cường công tác tuyên truyền hữu nghị và giao lưu giữa thế hệ trẻ hai nước; đặc biệt là phối hợp tổ chức thật tốt các hoạt động trong Năm hữu nghị Việt – Trung 2010.

Hai nhà lãnh đạo bày tỏ hài lòng về việc hai bên đã hoàn thành phân định vịnh Bắc Bộ và phân giới cắm mốc biên giới trên đất liền giữa hai nước và nhất trí cho rằng hai bên cần tiếp tục kiên trì đàm phán trên tinh thần láng giềng hữu nghị, cùng quan tâm đến lợi ích của nhau, trên cơ sở luật pháp quốc tế, thông qua đối thoại và hợp tác, nỗ lực tìm kiếm giải pháp thỏa đáng cho các vấn đề liên quan đến biển Đông, góp phần duy trì hòa bình, ổn định và hợp tác ở khu vực và trên thế giới.

Nhân dịp này, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã gửi lời thăm hỏi chân thành tới Đảng, Chính phủ, nhân dân Trung Quốc và gia đình những người bị nạn trong trận động đất tại huyện Ngọc Thụ, tỉnh Thanh Hải vừa qua. Tổng bí thư, Chủ tịch nước Hồ Cẩm Đào bày tỏ cảm ơn chân thành về những lời thăm hỏi, động viên và sự trợ giúp quý báu, kịp thời của Chính phủ và nhân dân Việt Nam đối với nhân dân vùng bị động đất ở Thanh Hải.

Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng chuyển lời thăm và lời chúc tốt đẹp của Tổng bí thư Nông Đức Mạnh, Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết tới Tổng bí thư, Chủ tịch nước Hồ Cẩm Đào và các đồng chí lãnh đạo Trung Quốc và mời đồng chí Hồ Cẩm Đào thăm Việt Nam.

Tổng bí thư, Chủ tịch nước Hồ Cẩm Đào nhờ Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng chuyển tới các đồng chí lãnh đạo Việt Nam lời chúc tốt đẹp và cho biết sẽ thăm Việt Nam vào thời gian thuận tiện.

DaiABank tăng lãi suất huy động VND

Từ ngày 29/4, Ngân hàng Đại Á áp dụng biểu lãi suất huy động VND mới, thay cho biểu lãi suất đã ban hành từ ngày 16/4/2010…

DaiABank đã có mặt tại 5 tỉnh/thành với chi nhánh mới tại Bà Rịa – Vũng Tàu.

Từ ngày 29/4, Ngân hàng Đại Á (DaiABank) áp dụng biểu lãi suất huy động VND mới, thay cho biểu lãi suất đã ban hành từ ngày 16/4/2010.

Việc điều chỉnh này được DaiABank giải thích là để phù hợp với diễn biến thị trường và đảm bảo quyền lợi tối đa cho khách hàng.

Theo đó, lãi suất huy động tiền gửi VND tại ngân hàng này được điều chỉnh tăng từ 0,01%/năm đến 0,4%/năm ở tất cả các kỳ hạn từ 1 tháng đến 36 tháng. Mức lãi suất tăng mạnh nhất là ở kỳ hạn 2 tháng (từ 11%/năm lên 11,4%/năm).

Hiện, mức lãi suất VND cao nhất của DaiABank là 11,5%/năm ở các kỳ hạn 3, 6, 9, 12 và 13 tháng với mức tiền gửi từ 500 triệu đồng trở lên.

Cũng trong ngày 29/4, DaiABank đánh dấu sự hiện diện tại thành phố Vũng Tàu bằng việc khai trương và đưa vào hoạt động Chi nhánh Bà Rịa – Vũng Tàu tại địa chỉ số 63 Lê Hồng Phong, thành phố Vũng Tàu. Đây là bước triển khai kế hoạch mở mới 3 chi nhánh và 25 phòng giao dịch trên khắp cả nước trong năm 2010.

Với Chi nhánh Bà Rịa – Vũng Tàu, DaiABank đã có 44 điểm giao dịch trên toàn quốc. Đây cũng là tỉnh/thành thứ 5 mà ngân hàng này đặt địa điểm kinh doanh sau Đồng Nai, Tp.HCM, Hà Nội và Bình Dương. Theo kế  hoạch từ nay đến cuối năm 2010, DaiABank sẽ có mặt tại thành phố Đà Nẵng và Hải Phòng.

Sau 3 tháng đầu năm 2010, tổng tài sản của DaiABank là 7.086 tỷ đồng, đạt 64% kế hoạch năm; huy động vốn 4.436 tỷ đồng, đạt 48% kế hoạch; dư nợ tín dụng 4.069 tỷ đồng, đạt 50% kế hoạch và lợi nhuận là 35,15 tỷ đồng, đạt 33% kế hoạch.

Doanh số giao dịch liên ngân hàng: Tăng cao nhưng khó quá đà

Tổng doanh số giao dịch trên thị trường liên ngân hàng đột ngột tăng cao, vượt hẳn “mặt bằng” khá ổn định những tuần gần đây…

Nhu cầu vay trên thị trường liên ngân hàng thường tăng cao khi khó khăn trong huy động vốn từ dân cư và các tổ chức kinh tế.

Tổng doanh số giao dịch trên thị trường liên ngân hàng đột ngột tăng cao, vượt hẳn “mặt bằng” khá ổn định những tuần gần đây.

Muộn hơn thường lệ, báo cáo tình hình hoạt động ngân hàng tuần từ 16 – 22/4 vừa được Ngân hàng Nhà nước cập nhật cho thấy những dữ liệu đáng chú ý.

Vượt mốc 90.000 tỷ đồng

Trong tuần nói trên, tổng doanh số giao dịch trên thị trường liên ngân hàng cả VND và USD đều đột ngột tăng cao so với nhiều tuần trước đó, đặc biệt là doanh số bằng VND.

Cụ thể, theo báo cáo nhanh của các tổ chức tín dụng, tổng doanh số giao dịch trên thị trường liên ngân hàng đã lên tới xấp xỉ 94.204 tỷ đồng và 1,837 tỷ USD, bình quân đạt khoảng 18.840 tỷ đồng/ngày và 367 triệu USD/ngày. So với tuần trước đó, doanh số giao dịch trên thị trường liên ngân hàng bằng VND tăng 15.734 tỷ đồng và 307 triệu USD.

Đó là những con số vượt trội so với doanh số giao dịch qua nhiều tuần kéo dài từ trong năm 2009 đến đầu năm 2010, và so với cả các thời điểm khó khăn thanh khoản nổi bật trước Tết Nguyên đán.

Trước đó, trong một thời gian dài doanh số giao dịch bằng VND trên thị trường liên ngân hàng mỗi tuần chỉ dao động trong khoảng 62.000 – 86.000 tỷ đồng. Riêng tuần từ 16 – 22/4/2010 vừa công bố, lần đầu tiên doanh số vượt mốc 90.000 tỷ đồng, theo dữ liệu cập nhật của Ngân hàng Nhà nước, ở mức xấp xỉ 94.204 tỷ đồng.

Ở giao dịch bằng USD, không đột biến nhưng doanh số tuần nói trên cũng tăng khá mạnh so với kết quả giao dịch từ đầu năm đến nay: 1,837 tỷ USD so với khoảng giao động từ 1,2 – 1,6 tỷ USD trong khoảng ba tháng trở lại đây. Trong năm 2009, tổng doanh số giao dịch USD mỗi tuần trên thị trường này ghi nhận phổ biến quanh mốc 2 tỷ USD; mức cao nhất trong thời gian gần đây ghi nhận ở 2,842 tỷ USD tuần từ 27/11 – 3/12/2009.

Đã là một dấu hiệu?

Nếu ở doanh số giao dịch bằng USD không đột biến, thì doanh số bằng VND với con số lên tới 94.204 tỷ đồng tuần cập nhật mới nhất lại có thể đặt ra những suy tính: Thị trường liên ngân hàng đang hoạt động tốt, nhưng liệu đây có phải một dấu hiệu lạm dụng vốn trên thị trường này hay không, thậm chí lại có “vấn đề” về thanh khoản hay không?

Báo cáo của Ngân hàng Nhà nước cho biết, trong tuần, các giao dịch bằng VND chủ yếu phát sinh đối với các kỳ hạn dưới 6 tháng; trong đó doanh số giao dịch qua đêm đạt 37.091 tỷ, tăng 7.904 tỷ so với tuần trước đó và chiếm tỷ trọng 39% so với tổng doanh số giao dịch cả tuần. Doanh số giao dịch qua đêm bằng USD là 811 triệu USD, chiếm 44% so với tổng doanh số giao dịch cả tuần.

Những con số trên cho thấy tỷ trọng của doanh số giao dịch qua đêm cả bằng VND và USD đều không tăng đáng kể so với những tuần gần đây, thậm chỉ giảm so với đầu tháng 4 vừa qua, khi các tỷ trọng ở gần 50%.

Có thể xem doanh số tăng mạnh và đột ngột phản ánh nhu cầu vốn vay mượn giữa các ngân hàng lên cao. Trong khi đó, lãi suất là một phản ánh về “độ nóng” của những nhu cầu đó.

Nhưng trong tuần nói trên, lãi suất giao dịch bình quân bằng VND lại tiếp tục xu hướng giảm, đã có từ cuối tháng 3 đầu tháng 4 vừa qua.

Cụ thể, lãi suất giao dịch bình quân bằng VND có xu hướng giảm so với tuần trước đó ở hầu hết các kỳ hạn, đặc biệt là các kỳ hạn ngắn (qua đêm, 1 tuần, 2 tuần và không kỳ hạn). Mức giảm của các kỳ hạn từ 0,06% – 0,30%/năm. Lãi suất bình quân kỳ hạn 6 tháng không đổi; lãi suất bình quân các kỳ hạn còn lại (1, 3 và 12 tháng) tăng nhẹ so với lãi suất bình quân tuần trước.

Lãi suất kỳ hạn qua đêm bình quân ở mức 6,84%/năm, giảm 0,06%/năm so với tuần trước. Lãi suất bình quân các kỳ hạn từ 1 tuần đến 1 tháng đều ở mức dưới 10%/năm; lãi suất các kỳ hạn 3 tháng, 6 tháng và 12 tháng tương đối cao (khoảng 11%/năm và 12%/năm), tuy nhiên doanh số phát sinh với các kỳ hạn này không lớn.

Xu hướng giảm đó tiếp tục thể hiện đầu tuần này, khi dữ liệu ngày 26/4 ghi nhận lãi suất liên ngân hàng, ngoài kỳ hạn qua đêm giữ nguyên 6,84%/năm, đều giảm khá mạnh ở các kỳ hạn, giảm từ 0,08% tới 1,37%/năm (mạnh nhất ở kỳ hạn 6 tháng) so với bình quân tuần trước.

Như vậy, về lãi suất, một phần lo ngại từ suy tính nói trên có thể loại trừ. Tuy nhiên, điều này cần tiếp tục được kiểm chứng ở kết quả giao dịch trong những tuần tới.

Riêng với tổng doanh số giao dịch, nếu diễn biến tăng mạnh đó nối tiếp và thành xu hướng, thì lo ngại về hiện tượng lạm dụng vốn trên thị trường liên ngân hàng (thị trường 2) có thể đặt ra. Nhưng sự lạm dụng này, nếu có, khó quá đà khi chịu một ràng buộc ở thực tế huy động vốn ở thị trường 1 (từ các tổ chức kinh tế và dân cư).

Mới đây Ngân hàng Nhà nước đã phát đi “thông điệp” sẽ thanh tra các tổ chức tín dụng có tỷ lệ vốn huy động trên thị trường 2 lớn hơn 20% vốn huy động trên thị trường 1.

HTML clipboard

Lãi suất bình quân thị trường liên ngân hàng tuần từ 16 – 22/4/2010 (đơn vị: %)
Qua đêm 1 tuần 2 tuần 1 tháng 3 tháng 6 tháng 12 tháng KKH
VND 6,84 7,46 8,02 9,58 10,99 12,00 11,00 2,12
USD 0,36 0,64 0,54 0,83 0,78 0,58 3,50

17 thành viên Chính phủ chuẩn bị báo cáo trình Quốc hội

Thủ tướng đã phân công 17 thành viên Chính phủ chuẩn bị báo cáo trình Quốc hội tại kỳ họp tới…

Quốc hội sẽ xem xét đồ án quy hoạch chung Thủ đô tại kỳ họp thứ 7, khai mạc ngày 20/5/2010.

Thủ tướng Chính phủ đã phân công các bộ trưởng cùng Ủy ban Dân tộc, Thanh tra Chính phủ và Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam chuẩn bị một số báo cáo, dự thảo luật dự kiến sẽ được trình bày và xem xét tại kỳ họp thứ 7, Quốc hội khóa XII khai mạc vào ngày 20/5 tới.

Theo sự phân công của Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư chuẩn bị: báo cáo đánh giá bổ sung kết quả thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội năm 2009; tình hình thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội những tháng đầu năm 2010; tờ trình của Chính phủ và dự thảo Nghị quyết của Quốc hội sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị quyết số 66/2006/QH11 ngày 29/6/2006 về dự án, công trình quan trọng quốc gia trình Quốc hội quyết định chủ trương đầu tư…

Bộ trưởng Bộ Tài chính chuẩn bị: báo cáo đánh giá bổ sung kết quả thực hiện ngân sách nhà nước năm 2009; tình hình thực hiện ngân sách nhà nước những tháng đầu năm 2010; tờ trình của Chính phủ đề nghị Quốc hội quyết toán ngân sách Nhà nước năm 2008; tờ trình và dự thảo Luật Thuế bảo vệ môi trường.

Báo cáo của Chính phủ về đề án quy hoạch chung xây dựng Thủ đô Hà Nội đến năm 2030 và tầm nhìn đến năm 2050 được giao cho Bộ trưởng Bộ Xây dựng chủ trì, phối hợp với UBND thành phố Hà Nội và các cơ quan liên quan chuẩn bị.

Tờ trình và dự thảo Luật Viên chức sẽ do Bộ trưởng Bộ Nội vụ chuẩn bị. Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường được giao nhiệm vụ chuẩn bị tờ trình và dự thảo Luật Khoáng sản (sửa đổi). Bộ trưởng Bộ Tư pháp chuẩn bị tờ trình của Chính phủ và dự thảo nghị quyết của Quốc hội về chương trình xây dựng luật, pháp lệnh năm 2011.

Báo cáo việc thực hiện chính sách pháp luật về thành lập trường, đầu tư, bảo đảm chất lượng đào tạo đối với giáo dục đại học sẽ do Bộ Giáo dục và Đào tạo chuẩn bị, trình Phó thủ tướng Nguyễn Thiện Nhân duyệt, ký thay Thủ tướng trình Quốc hội.

Bộ trưởng Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội được giao nhiệm vụ chuẩn bị báo cáo về tình hình thực hiện pháp lệnh bình đẳng giới năm 2009 theo quy định của Luật Bình đẳng giới; phối hợp với Bộ Tài chính, Bảo hiểm xã hội Việt Nam chuẩn bị báo cáo về quản lý và sử dụng quỹ bảo hiểm xã hội năm 2009 theo quy định của Luật Bảo hiểm xã hội.

Tờ trình và dự thảo Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng được giao cho Bộ trưởng Bộ Công Thương chuẩn bị. Bộ Giao thông Vận tải chuẩn bị tờ trình của Chính phủ về chủ trương đầu tư dự án xây dựng đường sắt cao tốc Hà Nội – Tp.HCM.

Thủ tướng giao nhiệm vụ cho Bộ trưởng, Chủ nhiệm Ủy ban Dân tộc chủ trì, phối hợp với Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội chuẩn bị báo cáo việc thực hiện xóa đói, giảm nghèo qua Chương trình 135 giai đoạn II (2006-2010); việc quản lý, lồng ghép các chương trình mục tiêu quốc gia và các dự án liên quan trực tiếp đến xóa đói, giảm nghèo trên địa bàn các xã đặc biệt khó khăn.

Tổng thanh tra Chính phủ được giao nhiệm vụ chuẩn bị tờ trình và dự thảo Luật Thanh tra (sửa đổi). Thống đốc Ngân hàng Nhà nước sẽ phối hợp chuẩn bị các báo cáo giải trình, tiếp thu và dự thảo Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, dự thảo Luật Các tổ chức tín dụng (sửa đổi).

Riêng đối với dự án Luật Đầu tư công và dự án Luật Thủ đô, các cơ quan chủ trì soạn thảo tiếp tục chuẩn bị, hoàn thiện để trình Chính phủ cho ý kiến.

Nam Anh (Chinhphu.vn)

Chứng khoán ngày 29/4: Bối rối trước kỳ nghỉ

Hôm nay là một phiên giao dịch khá bối rối của nhóm cổ phiếu lớn trong khi khá nhiều mã penny tiếp tục một ngày “hoành tráng”…

Quy mô giao dịch tăng khá mạnh và ở mức sáng nay là kết quả ít thấy trước các kỳ nghỉ trong lịch sử thị trường.

Hôm nay là một phiên giao dịch khá bối rối của nhóm cổ phiếu lớn trong khi khá nhiều mã penny tiếp tục một ngày “hoành tráng” trước kỳ nghỉ. VN-Index dao động khá lộn xộn mà không có những sóng tăng giảm đáng kể.

Biên độ giữa mức cao nhất và thấp nhất của VN-Index phiên này chỉ khoảng 1,55 điểm, hẹp nhất trong gần 12 tháng qua. Gần như toàn bộ thời gian chỉ số dập dình đi ngang do ảnh hưởng của nhóm cổ phiếu lớn. Diễn biến giao dịch không có đột biến và hoạt động đảo hàng cũng kém sôi động.

Có lẽ tâm lý chùng xuống của phiên cuối cùng trước kỳ nghỉ dài làm thị trường hơi thiếu lửa dù mức tăng cuối ngày vẫn khoảng 0,58%. VN-Index tiếp tục đóng cửa trên mức 540 điểm và nếu nhìn theo xu thế thì diễn biến khá tích cực.

Nỗ lực vượt qua vùng kháng cự quan trọng rất chậm rãi nhưng được ủng hộ bởi khối lượng. Về mặt lý thuyết kênh chặn trên khu vực 540 – 545 điểm có thể cần “test” lại nhưng điều này đang diễn ra với nhóm cổ phiếu lớn. Thiếu lực tăng đồng đều của blue-chip khiến mức tăng của chỉ số khá yếu. Một số cổ phiếu trụ cột như SJS, PPC, HPG… đã chững lại.

Nhưng khối lượng giao dịch hôm nay có điểm đáng chú ý. Thanh khoản cả sàn HOSE tăng khoảng 24%, trong đó chủ yếu là đóng góp của nhóm cổ phiếu nhỏ. Nhiều mã xuất hiện khối lượng giao dịch lớn trong điều kiện giá tăng. Đặc biệt một số có hiện tượng xả giá trần.

Chưa thể nói khối lượng giao dịch lớn như vậy đã đủ để tác động đến xu thế hay chưa nhưng việc duy trì một lực cầu lớn và thanh khoản tốt sẽ đem đến câu trả lời sớm. Một điểm đáng chú ý là con số gần 75 triệu đơn vị trên HOSE trước một kỳ nghỉ dài là quy mô hiếm thấy trong lịch sử.

Một đóng góp lớn tiếp tục đến từ khối đầu tư nước ngoài, khi họ duy trì hoạt động mua vào mạnh các cổ phiếu lớn, điển hình như SJS (510.320 đơn vị), PPC (509.210 đơn vị), REE (234.840 đơn vị), BVH (167.500 đơn vị), KBC (123.000 đơn vị)…

Trong nhóm blue-chip, những mã tăng nóng phiên trước cũng đón nhận đợt xả hàng khá mạnh. Khối lượng khớp theo dư mua chiếm tỷ trọng lớn tại PPC, SSI, ITC và chỉ có nỗ lực đánh lên đáng chú ý tại SJS. Cổ phiếu này xuất hiện bán trần sớm và tỷ trọng mua khớp vào dư bán chiếm khoảng 59% tổng lượng giao dịch.

Nhìn chung sàn HOSE xét theo chỉ số vẫn đang diễn biến tích cực. Xu hướng tăng vẫn được củng cố nhưng mức tăng khá thấp. Vai trò của nhóm cổ phiếu lớn vẫn mờ nhạt sau phiên đột biến ngày 22/4 vừa qua.

Trong khi đó, HNX sáng nay khởi động khá mạnh bạo. Có sự chùng xuống vào giữa phiên trước áp lực bán ra mạnh, nhưng chỉ số HNX-Index đóng cửa sát với mức cao nhất trong ngày, 179,69 điểm.

Một điểm tương đồng với HOSE là khá nhiều cổ phiếu trên HNX có hiện tượng xả hàng giá cao, điển hình như tại PVA với khối lượng đột biến so với hai phiên liền trước và cao nhất kể từ phiên 8/4 đến nay, hay tại cú bật cả khối lượng và giá tại PVX… Hoạt động thoát hàng với mật độ lệnh lô lớn khá dày tiếp tục xuất hiện tại một số cổ phiếu lớn. Giao dịch tiếp tục sôi động ở nhóm cổ phiếu nhỏ. Những chuyển động này tạo một bước chuyển mạnh về quy mô giao dịch tại HNX so với những phiên đầu tuần.

Tản mạn chuyện ngân hàng và chính sách

Mỹ và Anh đã phải chấp nhận một cái giá trong khủng hoảng để phải tái cấu trúc lại ngành tài chính và nền kinh tế…

Nhân viên bộ phận kinh doanh của Eximbank – Ảnh: Kinh Luân.

Hơn một năm qua, giai đoạn được xem là khó khăn của ngành ngân hàng trong bối cảnh khủng hoảng tài chính toàn cầu, những vấn đề nổi cộm của ngành ngân hàng trở thành thời sự đáng chú ý như việc khó huy động được tiền gửi, chuyện ngân hàng khó bán Đô la Mỹ cho khách hàng…

Đây đều là những chuyện mang tính thời vụ hàng năm của ngành ngân hàng, nhưng lại trở nên nóng và thời sự hơn vì tác động lớn của nó trong thời điểm nền kinh tế “khát vốn”.

Mặc dù hệ thống vẫn được Ngân hàng Nhà nước cố gắng duy trì ở mức “ổn định”, thấp thoáng đâu đó người ta thấy được một số ngân hàng có dấu hiệu chấp nhận nhiều rủi ro hơn mức cho phép. Một điểm đáng chú ý là hình như điều này xuất phát từ cách tiếp cận “đảm bảo an toàn hệ thống” trong điều hành chính sách.

Chính sách “đảm bảo an toàn hệ thống” kiểu Việt Nam: Một cỡ cho tất cả

Có một điều dễ thấy trong hệ thống ngân hàng Việt Nam đó là việc Ngân hàng Nhà nước luôn cố gắng duy trì ổn định các biến số lãi suất và tỷ giá, sẵn sàng cấm các hoạt động kinh doanh có vẻ có rủi ro. Ví dụ gần đây là chuyện Thống đốc Nguyễn Văn Giàu cho biết đang xem xét không cho chuyển đổi vốn huy động bằng vàng sang tiền đồng vì ngại tiềm ẩn rủi ro.

Như vậy, để tránh trước việc một ngân hàng nào đó có thể vượt quá giới hạn an toàn, Ngân hàng Nhà nước xem xét “cấm” tất cả các ngân hàng làm một nghiệp vụ nào đó. Đây là một cách tiếp cận “một cỡ cho tất cả”, bất chấp một ngân hàng nào đó có thật sự vượt quá giới hạn hay không.

Một thể chế kiểu “một cỡ cho tất cả” sẽ khuyến khích hiện tượng ỷ lại nghĩa là một vài ngân hàng cứ thoải mái thực hiện hoạt động kinh doanh có rủi ro, chấp nhận nhiều rủi ro để kiếm lời, bất chấp mình có khả năng quản lý rủi ro đó hay không. Lý do là vì các ngân hàng này nghĩ nếu Ngân hàng Nhà nước phát hiện ra nghiệp vụ này quá rủi ro ở một vài ngân hàng, thì cũng sẽ cấm cả các ngân hàng khác làm. Vậy đâu cần ngân hàng nào phải thực hiện nghiệp vụ đó thật thận trọng và phải áp dụng quản trị rủi ro một cách hợp lý?

Điều này tạo ra một hệ thống chấp nhận rủi ro quá mức (excessive risk-taking) ở một số ngân hàng, nhất là các ngân hàng nhỏ có năng lực tài chính và mạng lưới kinh doanh yếu. Điều đó cũng dần ảnh hưởng tâm lý các ngân hàng lớn, nhất là trong bối cảnh kinh tế phát triển tốt thì ai cũng sẽ lạc quan về tương lai.

Thế là hệ thống ngân hàng Việt Nam hoạt động tương tự như hệ thống giao thông Việt Nam: người ta đôi khi chỉ nhìn người xung quanh đang làm gì, chứ không nhìn xem đèn giao thông đang xanh hay đỏ, và nếu không có cảnh sát nhiều khi… đèn gì cũng chạy! Trong bối cảnh đó, Ngân hàng Nhà nước phải chọn cách điều hành: bắt các xe phải chạy chung một tuyến đường, cấm xe chạy nhanh hơn một tốc độ nhất định, bất kể đó là xe đạp hay xe hơi!

Công bằng mà nói, việc nhiều ngân hàng chấp nhận rủi ro quá mức và không quản trị rủi ro một cách đúng đắn thì ở đâu cũng có trong bối cảnh kinh tế phát triển tốt đẹp. Bong bóng cổ phiếu công nghệ, sự phổ biến của các sản phẩm trái phiếu nhiều rủi ro (junk bonds), các sản phẩm phái sinh tín dụng thứ cấp chính là biểu hiện tiêu biểu cho việc các tổ chức tài chính Anh-Mỹ đánh vào thị phần chấp nhận rủi ro quá mức này trên thị trường tài chính trong bối cảnh kinh tế thế giới phát triển mạnh trong những năm cuối thập niên 1990 và những năm đầu thế kỷ 21.

Cuộc khủng hoảng tài chính vừa qua phần nào là kết quả của điều này. Tuy nhiên, cách tiếp cận để giải quyết hậu khủng hoảng thì có sự khác biệt.

Ở Anh và Mỹ, số lượng ngân hàng phá sản nhiều vì những ngân hàng không đảm bảo chất lượng, chấp nhận quá nhiều rủi ro và thanh khoản thật sự có vấn đề thì phải bị phá sản hoặc bị mua lại. Nghĩa là ở các nước này, người ta xử lý hệ thống ngân hàng giống như kiểu phân luồng xe, và những ngân hàng không còn đảm bảo an toàn lưu hành sẽ “bị loại ra khỏi đường đua”.

Cách tiếp cận đó đương nhiên tốn kém cho nền kinh tế. Có người nói nếu Mỹ chấp nhận cứu Lehman Brothers ngay từ đầu, có thể khủng hoảng không tệ như vậy. Nhưng nếu Lehman Brothers được cứu có nghĩa những quả bong bóng nhà đất và những sản phẩm phái sinh tệ hại của ngành tài chính Mỹ vẫn tồn tại. Những tổ chức tài chính chấp nhận quá nhiều rủi ro vẫn tồn tại. Mỹ và Anh đã phải chấp nhận một cái giá trong khủng hoảng để phải tái cấu trúc lại ngành tài chính và nền kinh tế.

Ở Việt Nam, phương thức điều hành là Ngân hàng Nhà nước đóng vai trò người cảnh sát giao thông không cho ai chạy quá tốc độ, và chỉ xây một con đường duy nhất, áp dụng cho tất cả các ngân hàng thương mại. Cứ hễ là ngân hàng thì cứ phải đi một con đường và cùng chịu một giới hạn về tốc độ giao thông.

Nói một cách nào đó, Ngân hàng Nhà nước phòng ngừa rủi ro giúp cho cả hệ thống ngân hàng vì lo sợ hệ thống bất ổn. Khi áp lực khủng hoảng đến Ngân hàng Nhà nước lại phải hỗ trợ thanh khoản cho các ngân hàng thương mại gặp khó khăn. Điều này càng làm khuếch đại tâm lý ỷ lại ở những ngân hàng sẵn sàng chấp nhận nhiều rủi ro hơn, trong đó một rủi ro thường thấy là rủi ro thanh khoản.

Áp lực thanh khoản: Vì sao là chuyện thường xuyên?

Gần đây, có thông tin là Ngân hàng Nhà nước sẽ thanh tra những ngân hàng có tỷ lệ vốn huy động trên thị trường liên ngân hàng lớn hơn 20% tổng vốn huy động từ dân cư và tổ chức kinh tế. Vấn đề nhiều ngân hàng lạm dụng nguồn vốn huy động trên thị trường liên ngân hàng không phải chờ đến khủng hoảng mới xảy ra mà từ các năm 2006, 2007 cũng đã có và cũng không phải là không có trong các năm trước đó.

Hiểu một cách đơn giản, do nguồn vốn huy động ổn định từ dân cư và tổ chức kinh tế của một số ngân hàng không đủ cho nhu cầu vay vốn và các nhu cầu khác của khách hàng nên ngân hàng phải đi vay mượn ngắn hạn “đắp đổi qua ngày”. Trong lĩnh vực quản trị rủi ro thanh khoản, điều này cho thấy có thể tồn tại một sự chênh lệch nghiêm trọng trong cấu trúc kỳ hạn (maturity mismatch) của các khoản vốn và tài sản ở một số ngân hàng.

Một số ngân hàng do chỉ có nguồn huy động ngắn hạn nhưng lại chấp nhận cho vay trung dài hạn cho một số dự án có rủi ro, thì dĩ nhiên sẽ gặp rủi ro thiếu thanh khoản tại một số thời điểm và phải lo đi “chạy tiền” trên thị trường liên ngân hàng. Nếu các dự án cho vay của những ngân hàng này quá rủi ro và việc trả nợ của người vay gặp vấn đề thì vấn đề thanh khoản sẽ càng nghiêm trọng hơn.

Vấn đề này cũng không có gì lạ nhưng có một điều là tình trạng này nếu cứ lặp đi lặp lại mãi ở một số ngân hàng thì điều đó có nghĩa là những ngân hàng đó hoàn toàn không hề nhắm tới cải thiện công tác quản trị rủi ro để hoạt động năm sau an toàn hơn năm trước. Họ vẫn luôn ỷ lại vào thị trường liên ngân hàng và nhắm tới những hoạt động cho vay và kinh doanh nhiều rủi ro để kiếm lời, khuếch trương hoạt động, với niềm tin là “thiếu tiền thì lên vay liên ngân hàng”.

Nếu một ngân hàng nào đó gặp khó khăn thanh khoản quá lớn thì có thể lên thị trường liên ngân hàng xin vay với lãi suất cao, hoặc tìm cách lách trần lãi suất huy động để thu hút thêm huy động từ khách hàng cá nhân và tổ chức. Những biểu hiện này dễ nhận thấy trong suốt mấy năm qua, thông qua các cuộc chạy đua lãi suất thường được dẫn đầu bởi một số ngân hàng nhỏ, và thông tin về những giai đoạn lãi suất liên ngân hàng thường xuyên căng thẳng buộc Ngân hàng Nhà nước phải bơm vốn qua thị trường mở, điển hình như vào đầu năm 2010.

Nếu có một giai đoạn những ngân hàng gặp nhiều rủi ro thanh khoản này xin vay khắp nơi trên thị trường liên ngân hàng mà không được, đẩy mặt bằng lãi suất liên ngân hàng lẫn trên thị trường huy động kịch trần mà vẫn không vay được thì họ chỉ có thể cầu cứu Ngân hàng Nhà nước. Không biết Ngân hàng Nhà nước có hỗ trợ chăng? Câu trả lời có lẽ là tùy tình huống.

Nhưng thực tế ở Việt Nam đang tồn tại một sản phẩm hỗ trợ thanh khoản từ Ngân hàng Nhà nước mà ít nước nào có: chiết khấu trên bộ hồ sơ tín dụng. Nghĩa là đối với những ngân hàng “tệ” đến mức không duy trì mua trái phiếu chính phủ để dự phòng trường hợp thiếu thanh khoản phải nhờ đến hỗ trợ của Ngân hàng Nhà nước qua thị trường mở, thì các ngân hàng này cũng còn cách được “cứu” thông qua tái cấp vốn trên bộ hồ sơ tín dụng.

Vậy phải chăng Ngân hàng Nhà nước đang tạo ra một niềm tin cho các ngân hàng rằng Ngân hàng Nhà nước sẽ luôn đảm bảo vai trò người cho vay cuối cùng trong mọi tình huống?

Nếu Ngân hàng Nhà nước tiếp tục duy trì một niềm tin cho các ngân hàng thương mại và công chúng là Ngân hàng Nhà nước phải “đảm bảo an toàn hệ thống” như thế thì các ngân hàng khác cũng nghĩ trước sau gì Ngân hàng Nhà nước cũng phải “cứu” nếu có chuyện gì xảy ra. Vì vậy, các ngân hàng an toàn khác cũng sẵn sàng cho các ngân hàng chấp nhận rủi ro nhiều vay trên thị trường liên ngân hàng. Vậy là ngân hàng nhiều rủi ro chưa cần cầu cứu Ngân hàng Nhà nước, một số ngân hàng khác cũng đã chấp nhận cho vay cứu giúp với lãi suất cao để kiếm lời.

Điều này càng đúng trong bối cảnh kinh tế phát triển tốt vì rồi mọi sự cũng ổn thỏa cho các bên. Nhưng điều đó sẽ khiến hệ thống ngân hàng đi vào khủng hoảng với một số lượng không nhỏ các ngân hàng có thói quen chấp nhận rủi ro quá khả năng của mình và các ngân hàng an toàn cũng có xu hướng mạo hiểm với một tâm lý ỷ lại vào việc Ngân hàng Nhà nước sẽ không muốn để hệ thống bị bất ổn.

Cách mà Ngân hàng Nhà nước quy định trần lãi suất, rồi cố gắng “ổn định tỷ giá” trong bối cảnh khủng hoảng và nhiều cú sốc từ bên ngoài càng khiến người ta tin rằng không dễ có chuyện Ngân hàng Nhà nước để tình hình bê bối tài chính ở một ngân hàng làm ảnh hưởng đến toàn hệ thống. Và do đó, một số ngân hàng sẽ không cần quan tâm đến việc quản trị rủi ro thanh khoản sao cho năm sau tốt hơn năm trước. Vì vậy, nếu vấn đề căng thẳng thanh khoản hàng năm là chuyện thường xuyên ở một số ngân hàng thì cũng không có gì là lạ.

Cần một phương thức điều hành có tính chọn lọc

Cần phải làm giảm đi tâm lý ỷ lại của ngân hàng thương mại và người dân vào Ngân hàng Nhà nước. Khi người ta thật sự ý thức rằng tình hình có thể bất ổn hơn và không còn dựa dẫm, người ta mới thật sự thận trọng. Đó mới là nền tảng của ổn định thật sự.

Với hoạt động phức tạp của hệ thống ngân hàng mà lỗ hổng còn có thể tồn tại như số máy ATM bị rò rỉ điện ở nhiều nơi như hiện nay, thì cách tiếp cận của Ngân hàng Nhà nước có thể là lựa chọn “ít tệ nhất”, vì trong một nhóm “vàng thau lẫn lộn”, không thể nhất thời mà phân nhóm ra được một cách chính xác. Đó là chưa kể làm sao phân luồng để các ngân hàng có thể chạy đúng tuyến cũng không dễ.

Sự kiện tranh cãi liên quan đến xếp hạng tín nhiệm ngân hàng gần đây của Vietnam Credit cho thấy không dễ gì nói một ngân hàng tốt hơn, an toàn hơn, quản trị đàng hoàng hơn một ngân hàng khác một cách chung chung, chứ nói gì đến việc phân loại cụ thể là ai có khả năng thực hiện những nghiệp vụ nào, chịu rủi ro đến đâu.

Áp dụng việc để tự các ngân hàng tự quản trị rủi ro càng khó hơn (ngay cả cho dù có áp dụng các tiêu chuẩn quản trị rủi ro quốc tế như Basel II thì vẫn có nhiều không gian cho các ngân hàng tự chủ trong xác lập các tiêu chí quản trị rủi ro của mình). Cho nên trước mắt e rằng Ngân hàng Nhà nước vẫn phải chấp nhận thực hiện việc quản lý “cào bằng” số đông và đôi khi phải chấp nhận duy trì một vài cá thể yếu kém để giữ an toàn hệ thống.

Điều này dễ khiến sự phân bổ vốn trong nền kinh tế đi vào những dự án có tính đầu cơ, rủi ro để kiếm nhiều tiền và kết quả là những quả bong bóng giá nhà đất, giá cổ phiếu sẽ thường xuyên bùng phát, mà đáng lo hơn, rủi ro tín dụng trong nền kinh tế cũng sẽ tăng đáng kể khi những quả bong bóng này vỡ. Với việc đánh giá rủi ro tín dụng hiện nay ở các ngân hàng còn chịu ảnh hưởng của sự không thống nhất giữa các phương pháp đồng thời chịu ảnh hưởng chủ quan của người đánh giá (ví dụ như đối với các xếp hạng tín dụng nội bộ).

Vì vậy, về lâu dài, có lẽ Ngân hàng Nhà nước phải nhắm đến thay đổi cách tiếp cận chính sách của mình và phải bắt đầu từ việc phân loại một cách hiệu quả và chi tiết cho các ngân hàng nội địa, từng bước tạo điều kiện để áp dụng những phương thức quản lý cho phép thanh lọc hệ thống. Nếu không, hệ thống ngân hàng của Việt Nam sẽ tiếp tục duy trì một trạng thái ỷ lại vào Ngân hàng Nhà nước và ngày càng sẵn sàng chấp nhận nhiều rủi ro quá mức hơn.

Sau khủng hoảng tài chính lần này có lẽ đã đến lúc cần phân loại những tổ chức tài chính hoạt động trong nền kinh tế và tái cấu trúc thực sự hệ thống ngân hàng. Và tái cấu trúc có lẽ phải bắt đầu từ cách tiếp cận trong quản lý của Ngân hàng Nhà nước và bắt đầu từ những việc tưởng chừng đơn giản nhưng mãi vẫn chưa được thực hiện một cách phù hợp, ví dụ như một mức xếp hạng toàn diện về năng lực của các ngân hàng Việt Nam để có thể tùy vào nhóm ngân hàng mà quản lý. Đồng thời, cần phải làm giảm đi tâm lý ỷ lại của ngân hàng thương mại và người dân vào Ngân hàng Nhà nước.

Khi người ta thật sự ý thức rằng tình hình có thể bất ổn hơn và không còn dựa dẫm, người ta mới thật sự thận trọng. Đó mới là nền tảng của ổn định thật sự. Và để thực hiện sự thay đổi hướng về sự ổn định thật sự, chắc chắn phải tốn một chi phí nhất định vì không có cái gì mà không có giá của nó.

Hồ Quốc Tuấn (TBKTSG)

DPM công bố lãi gần 395 tỷ đồng trong quý 1

Tổng công ty Phân bón và Hóa chất dầu khí (mã DPM-HOSE) vừa công bố kết quả kinh doanh hợp nhất quý 1/2010…

Năm 2010, DPM đặt mục tiêu tổng doanh thu đạt 5.646 tỷ đồng, lợi nhuận trước thuế đạt 1.007 tỷ đồng.

Tổng công ty Cổ phần Phân bón và Hóa chất dầu khí (mã DPM-HOSE) vừa công bố kết quả kinh doanh hợp nhất quý 1/2010.

Theo đó, doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ trong quý 1 của DPM đạt 1.448,5 tỷ đồng; lợi nhuận sau thuế đạt 394,8 tỷ đồng; lãi cơ bản trên mỗi cổ phiếu (EPS) đạt 1.040 đồng.

Trước đó, DPM thông báo ngày 20/5, Tổng công ty sẽ trả cổ tức với tỷ lệ 13%/cổ phiếu (1.300 đồng/cổ phiếu).

Được biết, năm 2010, DPM đặt mục tiêu tổng doanh thu đạt 5.646 tỷ đồng; lợi nhuận trước thuế đạt 1.007 tỷ đồng; tỷ suất lợi nhuận trước thuế/vốn điều lệ là 26,5% và tổng nhu cầu vốn đầu tư trong năm 2010 là 2.158 tỷ đồng.

Theo báo cáo tài chính đã kiểm toán năm 2009, doanh thu thuần của DPM đạt 6.630 tỷ đồng, lợi nhuận sau thuế đạt 1.351 tỷ đồng.