Lao động nữ mất việc được hỗ trợ 3 triệu đồng học nghề

Chính phủ đã phê duyệt Đề án “Hỗ trợ phụ nữ học nghề, tạo việc làm giai đoạn 2010 – 2015″…

Theo mục tiêu của Đề án, mỗi năm sẽ có khoảng 100.000 phụ nữ được giới thiệu việc làm – Ảnh: Việt Tuấn.

Theo Đề án “Hỗ trợ phụ nữ học nghề, tạo việc làm giai đoạn 2010 – 2015” vừa được Chính phủ phê duyệt, lao động nữ khi học nghề sẽ được hưởng nhiều chính sách hỗ trợ.

Cụ thể, lao động nữ thuộc diện được hưởng chính sách ưu đãi, người có công với cách mạng, hộ nghèo, người dân tộc thiểu số, người tàn tật, người bị thu hồi đất canh tác, bị mất việc làm trong các doanh nghiệp được hỗ trợ chi phí học nghề ngắn hạn (trình độ sơ cấp nghề và dạy nghề dưới 3 tháng) với mức tối đa 3 triệu đồng/người/khoá học.

Ngoài ra đối tượng này còn được hỗ trợ tiền ăn với mức 15.000đồng/ngày thực học/người; tiền đi lại theo giá vé giao thông công cộng với mức tối đa không quá 200.000đồng/người/khoá học đối với người học nghề xa nơi cư trú từ 15 km trở lên.

Lao động nữ  thuộc diện hộ có thu nhập tối đa bằng 150% thu nhập của hộ nghèo được hỗ trợ chi phí học nghề ngắn hạn với mức tối đa 2,5 triệu đồng/người/khoá học. Mức hỗ trợ với lao động nữ khác tối đa 2 triệu đồng.

Cũng theo đề án này, lao động nữ học nghề được vay tiền để học theo quy định hiện hành về tín dụng đối với học sinh, sinh viên. Với người làm việc ổn định tại chỗ (nơi cư trú) sau khi học nghề được ngân sách hỗ trợ 100% lãi suất đối với khoản vay học nghề.

Lao động nữ là người dân tộc thiểu số thuộc diện được hưởng chính sách ưu đãi, người có công với cách mạng, hộ nghèo có thu nhập tối đa bằng 150% thu nhập của hộ nghèo học các khoá học trình độ trung cấp nghề, cao đẳng nghề được hưởng chính sách dạy nghề đối với học sinh dân tộc thiểu số nội trú;

Sau khi học nghề, lao động nữ sẽ được vay vốn từ Quỹ quốc gia về việc làm thuộc Chương trình mục tiêu quốc gia về việc làm để tự tạo việc làm.

Đề án cũng nêu rõ, lao động nữ sau khi học nghề tham gia sản xuất kinh doanh, tự tạo việc làm được ưu tiên hỗ trợ hoạt động xúc tiến thương mại, giới thiệu sản phẩm từ các hoạt động hỗ trợ việc làm của Đề án này và các chương trình xúc tiến thương mại hiện hành. Mỗi lao động nữ chỉ được hỗ trợ học nghề một lần theo chính sách của Đề án này.

Mục tiêu của Đề án là tỷ lệ lao động nữ trong tổng số chỉ tiêu tuyển sinh học nghề đạt 40%, tỷ lệ lao động nữ có việc làm sau khi học nghề tối thiểu đạt 70%.

Các cơ sở dạy nghề, giới thiệu việc làm thuộc Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam và các cấp Hội phụ nữ thực hiện tư vấn học nghề, giới thiệu việc làm và tạo việc làm cho khoảng 100.000 phụ nữ hàng năm, trong đó khoảng 50.000 lao động nữ được đào tạo nghề, Đề án nêu rõ.

HNX mở rộng giao dịch trực tuyến: Thận trọng ngừa rủi ro

Tính đến hết tháng 2, đã có 25 công ty chứng khoán kết nối thành công với hệ thống giao dịch trực tuyến của HNX…

Ông Trần Văn Dũng, Tổng giám đốc Sở Giao dịch Chứng khoán Hà Nội.

Sau khi chính thức công bố khai trương, đưa hệ thống giao dịch trực tuyến vào hoạt động, từ tuần đầu tiên của tháng 3 này, Sở Giao dịch Chứng khoán Hà Nội (HNX) sẽ đẩy mạnh việc kiểm tra và mở rộng kết nối với các thành viên còn lại.

Sau 3 tháng công bố lộ trình triển khai chương trình thử nghiệm hệ thống giao dịch trực tuyến (ngày 6/11/2009), từ ngày 1-7/2/2010, HNX đã tiến hành kiểm tra cơ sở vật chất của các công ty chứng khoán đạt yêu cầu trước khi đưa vào triển khai chính thức.

Ngày 8/2/2010, hệ thống giao dịch mới bắt đầu khai trương. Tính đến hết tháng 2, đã có 25 công ty chứng khoán kết nối thành công với hệ thống giao dịch trực tuyến của HNX.

Thận trọng và kiểm tra chặt chẽ

Ông Trần Văn Dũng, Tổng giám đốc HNX, cho biết, từ tuần đầu tiên của tháng 3, Sở sẽ tiếp tục kiểm tra và thực hiện kết nối với 45 công ty chứng khoán để mở rộng hệ thống giao dịch này. Tiến độ này được đánh giá là khá nhanh nhưng cũng có không ít trở ngại trong quá trình triển khai. Quan điểm của HNX là quyết liệt, thận trọng và kiểm tra chặt chẽ.

Theo ông Dũng, giao dịch trực tuyến là một bước tiến mới về công nghệ của HNX, đã tiến gần tới thông lệ và tiêu chuẩn quốc tế, xét về khả năng khớp lệnh, khả năng quản lý rủi ro, an toàn giao dịch.

Tiến độ triển khai nhanh được giải thích là do HNX đã làm chủ được công nghệ, hệ thống đã được xây dựng ngay từ đầu. Mặt khác, phương án triển khai đã được nghiên cứu, đề ra chi tiết để các công ty chứng khoán chuẩn bị. Hàng ngày, HNX vẫn mở cửa từ 9h – 23h để tạo điều kiện cho các công ty chứng khoán chủ động thử nghiệm kết nối và kiểm tra kỹ thuật.

Ông Dũng cũng thừa nhận, giao dịch trực tuyến tuy là phương thức giao dịch hiện đại, thuận lợi, nhưng cũng rủi ro. Rủi ro phát sinh tại sở giao dịch chứng khoán, các công ty chứng khoán và ở chính các nhà đầu tư.

Ở sở giao dịch chứng khoán, theo ông Dũng, tất nhiên là phụ thuộc vào hệ thống, nhưng hệ thống của sở có an toàn hay không thì lại phụ thuộc vào các công ty chứng khoán, bởi họ kết nối vào hệ thống và nhận lệnh và đưa thẳng lệnh đó của nhà đầu tư vào hệ thống.

Trước đây, khi chưa trực tuyến, giao dịch ngắt quãng, giờ thì liên tục lỗi ở công ty chứng khoán khó tránh. Ví dụ như lỗi phát sinh như mất điện, máy chủ “treo” thì khả năng kiểm soát lệnh như thế nào, trường hợp đó giả sử công ty chứng khoán lại nhập lại lệnh, hay lỗi phần mềm tạo lệnh quay vòng liên tục thì sao khi ở chế độ tự động đẩy vào.

“Trong quá trình thử nghiệm kết nối với công ty chứng khoán, chúng tôi cũng đã gặp trường hợp đó, lệnh quay trở lại cả trăm lần vào hệ thống. Nếu mỗi lệnh như vậy mua bán khoảng hàng chục nghìn cổ phiếu chẳng hạn thì sẽ rất nguy hiểm. Với chế độ tự động, nếu không kiểm soát được, để xảy ra rồi mới kiểm tra thì rất nguy hiểm. Chính vì vậy, chắc chắn khi triển khai chúng tôi rất thận trọng, phải kiểm tra chắc chắn, phải đủ điều kiện thì mới làm”, ông Dũng nói.

Giao dịch trực tuyến không phân biệt

Trong quá trình kiểm tra và thực hiện kết nối với các công ty chứng khoán vừa qua, HNX cho biết không có trường hợp nào chuẩn bị tốt 100% các yêu cầu. Mặt khác, quá trình thử nghiệm cho thấy có những lỗi phát sinh ngoài kịch bản dự kiến, trong khi hạ tầng công nghệ, sự chuẩn bị và phương án xử lý ở mỗi công ty chứng khoán lại có thể khác nhau.

Những khó khăn trên nguyên nhân chính là do HNX không thể cùng lúc kiểm tra và thực hiện kết nối cho tất cả các công ty chứng khoán, nhất là với quy mô của các công ty hiện nay trong khi nhân lực của Sở lại có hạn. Theo đó, HNX sẽ tiến hành kiểm tra và kết nối với các trường hợp đã đảm bảo các yêu cầu đặt ra.

Ông Dũng khẳng định: “Trong quá trình này không có chuyện ưu tiên hay phân biệt công ty chứng khoán lớn hay nhỏ. Quá trình kết nối vừa qua cho thấy có những công ty chứng khoán nhỏ họ đã hoàn thành, hay có những công ty lớn làm vẫn chưa xong. Ở đây chúng tôi không phân biệt. Việc công ty  chứng khoán triển khai trước hay sau cũng không có nhiều ảnh hưởng. Từ tuần tới chúng tôi sẽ tiếp tục đẩy nhanh việc kiểm tra và kết nối những thành viên còn lại”.

Hiện hàng ngày các công ty vẫn thử nghiệm. Kế hoạch dự kiến là việc kiểm tra kết nối ở một công ty chứng khoán trong một buổi, nhưng có những trường hợp phải kéo dài, thậm chí phải là cả đêm.

“Chúng tôi cũng biết là các công ty chứng khoán kỳ vọng vào hệ thống giao dịch này. Chúng tôi sẽ làm liên tục để nhanh chóng mở rộng. Qua đợt kiểm tra vừa qua cho thấy không có công ty chứng khoán nào chuẩn bị được tốt 100%. Trong quá trình triển khai không phải mọi phát sinh đều nằm trong kịch bản, các cơ chế xử lý của mỗi công ty có thể khác nhau, xử lý khác nhau. Thậm chí có những trường hợp năng lực công nghệ chưa thể đáp ứng được, hay có trường hợp chủ quan và chưa chủ động trong việc chuẩn bị cho hệ thống giao dịch này”, ông Dũng nói.

Trong báo cáo kết quả triển khai bước đầu, HNX cho biết đề án giao dịch trực tuyến đã được các thành viên đặc biệt quan tâm. Sau khi Sở công bố lộ trình thử nghiệm theo kịch bản, đã có 93 công ty chứng khoán đăng ký tham gia. Việc tổ chức thử nghiệm với các thành viên được thực hiện nghiêm túc trên cơ sở công khai các tiêu chí đánh giá kết quả và được trao đổi thường xuyên với các thành viên thông qua diễn đàn, với tên miền forum.hnx.vn.

Tin vắn chứng khoán ngày 1/3

Những thông tin đáng chú ý ngày 1/3/2010 về doanh nghiệp trên thị trường chứng khoán Việt Nam…

Ngày 19/3, 15 triệu cổ phiếu của Công ty Cổ phần Đầu tư Phát triển Cường Thuận IDICO (mã CTI) chính thức giao dịch trên sàn Tp.HCM với giá tham chiếu trong ngày giao dịch đầu tiên là 22.000 đồng/cổ phiếu.

Những thông tin đáng chú ý ngày 1/3/2010 về doanh nghiệp trên thị trường chứng khoán Việt Nam.

* Sở Giao dịch Chứng khoán Tp.HCM đã có quyết định chấp thuận cho Công ty Cổ phần Nhà Việt Nam (mã NVN-HOSE) được 10.656.800 cổ phiếu với tổng giá trị cổ phiếu niêm yết theo mệnh giá là 106.568.000.000 đồng.

* Ngày 3/3/2010, 3.600.000 cổ phiếu phát hành thêm của Công ty Cổ phần Cơ điện và Xây dựng Việt Nam (mã MCG-HOSE) sẽ chính thức giao dịch trên HOSE với tổng giá trị chứng khoán niêm yết là 36 tỷ đồng. Đây là số cổ phiếu phát hành theo thông báo số 641/TB-SGDHCM ngày 30/10/2009 để phát hành cổ phiếu thưởng cho cổ đông hiện hữu và đợt phát hành riêng lẻ.

* Ngày 19/3/2010, 15 triệu cổ phiếu của Công ty Cổ phần Đầu tư Phát triển Cường Thuận IDICO (mã CTI-HOSE) chính thức giao dịch trên HOSE với giá tham chiếu trong ngày giao dịch đầu tiên: 22.000 đồng/cổ phiếu; biên độ dao động giá trong ngày giao dịch đầu tiên: +/- 20% so với giá tham chiếu.

* Từ ngày 1/3/2010 – 26/4/2010, bà Lâm Thúy Hường, vợ ông Trần Minh Thái – thành viên Ban kiểm soát Tập đoàn Bảo Việt (mã BVH-HOSE) đăng ký bán 5.000 cổ phiếu, số cổ phiếu sẽ nắm giữ còn 0 cổ phiếu, nhằm cơ cấu danh mục đầu tư.

* Từ ngày 1/3/2010 – 1/5/2010, ông Trần Văn Thuộc – thành viên Hội đồng Quản trị Công ty Cổ phần Vật tư Kỹ thuật Nông nghiệp Cần Thơ (mã TSC-HOSE) đăng ký mua 10.000 cổ phiếu, nâng số cổ phiếu sẽ nắm giữ lên 10.630 cổ phiếu, chiếm 0,13% vốn điều lệ, nhằm tăng tỷ lệ sở hữu.

* Từ ngày 29/2/2010 – 31/5/2010, ông Bùi Minh Tuấn, em trai ông Bùi Tuấn Ngọc – Chủ tịch Hội đồng Quản trị Công ty Cổ phần Kho vận giao nhận ngoại thương Tp.HCM (mã TMS-HOSE) đăng ký mua 50.000 cổ phiếu, nâng số cổ phiếu sẽ nắm giữ lên 513.136 cổ phiếu, nhằm tăng số lượng cổ phiếu nắm giữ.

* Từ ngày 1/3/2010 – 1/5/2010, ông Nguyễn Tri Bổng – Ủy viên Hội đồng Quản trị Công ty Cổ phần Nước giải khát Sài Gòn (mã TRI-HOSE) đăng ký bán 67.416 cổ phiếu, số cổ phiếu sẽ nắm giữ còn 0 cổ phiếu, nhằm giải quyết nhu cầu tài chính cá nhân.

* Dự kiến ngày 9/4/2010, Công ty Cổ phần Đầu tư Phát triển Thương mại Viễn Đông (mã VID-HOSE) sẽ tổ chức đại hội cổ đông thường niên năm 2009 tại Hội trường Thống Nhất, quận 1, Tp.HCM.

* Ngày 27/3/2010, Công ty Cổ phần Tập đoàn Hoa Sen (mã HSG-HOSE) sẽ tổ chức đại hội đồng cổ đông thường niên năm 2010 tại Hội trường Thống Nhất – số 135 Nam Kỳ Khởi Nghĩa, quận 1, Tp.HCM, nhằm báo cáo kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh niên độ tài chính 2008-2009 và kế hoạch niên độ tài chính 2009-2010; Báo cáo tiến độ thưc jhiện Dự án Nhà máy Tôn Hoa Sen Phú Mỹ; Báo cáo hoạt động tài chính; bầu bổ sung thành viên Hội đồng Quản trị và Ban kiểm sóat nhiệm ký 2008-2012; báo cáo cơ cấu thành viên Ban cố vấn; Phê chuyẩn Chủ tịch Hội đồng Quản trị kiêm Tổng giám đốc niên độ tài chính 2009-2010.

* Ngày 17/2/2010, Tổng công ty Tài chính Cổ phần Dầu khí Việt Nam, cổ đông nội bộ Tổng công ty Cổ phần Vận tải Dầu khí (mã PVT-HOSE) đăng ký mua 3.000.000 cổ phiếu, đã mua 60.520 cổ phiếu, nguyên nhân không mua hết là do giá thị trường của cổ phiếu không phù hợp với chiến lược đầu tư của PVFC, số cổ phiếu nắm giữ còn 11.231.390 cổ phiếu, chiếm 7,61% vốn điều lệ.

* Từ ngày 25/7/2009 – 9/2/2010, bà Phạm Thị Hằng, cổ đông lớn của Công ty Cổ phần Kỹ nghệ Đô Thành (mã DTT-HOSE) đã mua 126.440 cổ phiếu, đã bán 92.010 cổ phiếu, số cổ phiếu nắm giữ còn 865.277 cổ phiếu, chiếm 16,64% vốn điều lệ, số cổ phiếu do nhận cổ tức và mua phát hành thêm là 343.253 cổ phiếu, số cổ phiếu nắm giữ sau khi nhận cổ tức và cổ phiếu phát hành thêm là 1.208.530 cổ phiếu, chiếm 14,83% vốn điều lệ.

*  Từ ngày 29/1/2010 – 23/2/2010, Vietnam Property Holding (VPH), cổ đông lớn của Công ty Cổ phần Xây dựng và Kinh doanh Vật tư (mã CNT-HOSE) đã mua 373.330 cổ phiếu, nâng số cổ phiếu nắm giữ lên 1.741.720 cổ phiếu, chiếm 21,77% vốn điều lệ.

* Ngày 11/2/2010, Công ty Cổ phần Chứng Khoán Sài Gòn, cổ đông lớn của Công ty Cổ phần Bao Bì Nhựa Tân Tiến (mã TTP-HOSE) đã bán 71.240 cổ phiếu, số cổ phiếu sẽ nắm giữ còn 745.104 cổ phiếu, chiếm 4,967% vốn điều lệ.

* Từ ngày 13/1/2010 – 9/2/2010, ông Phạm Đỗ Huy Cương, cổ đông lớn của Công ty Cổ phần Kỹ nghệ Đô Thành (mã DTT-HOSE) đã mua 48.530 cổ phiếu, nâng số cổ phiếu nắm giữ lên 525.810 cổ phiếu, chiếm 10,11% vốn điều lệ.

* Từ ngày 25/1/2010 – 22/2/2010, Công ty TNHH Phát triển Thương mại và Kỹ thuật Hoàn Thiện, cổ đông lớn của Công ty Cổ phần Dược phẩm Viễn Đông (mã DVD-HOSE) đã mua 402.010 cổ phiếu, nâng số cổ phiếu nắm giữ lên 1.615.490 cổ phiếu, chiếm 14% vốn điều lệ.

* Từ ngày 26/1/2010 – 22/2/2010, Công ty Cổ phần Chứng khoán Âu Việt, cổ đông lớn của Công ty Cổ phần Thủy sản MeKong (mã AAM-HOSE) đã mua 81.180 cổ phiếu, đã bán 5.000 cổ phiếu, số cổ phiếu nắm giữ còn 831.600 cổ phiếu, chiếm 7,33% vốn điều lệ.

* Công ty Cổ phần Tập đoàn Hoàng Long (mã HLG-HOSE) thông báo giải thể Chi nhánh Hoàng Vĩnh Long (đơn vị trực thuộc Công ty Cổ phần Tập đoàn Hoàng Long) kể từ ngày 23/2/2010 do sắp xếp lại kế hoạch sản xuất kinh doanh.

* Hội đồng Quản trị Công ty Cổ phần Mía đường Lam Sơn (mã LSS-HOSE) thông qua sản lượng mía nguyên liệu cho vụ ép mía 2010-2011 trên 1.000.000 tấn, đạt 11CCS trở lên; sản lượng đường các lọai đạt: 115.000 tấn; sản lượng cồn: 8-10 triệu lít; doanh thu đạt 1.150 tỷ đồng; vốn điều lệ 400 – 500 tỷ đồng; cổ tức: 17-20%

* Từ ngày 15/1/2010 – 13/2/2010, bà Nguyễn Thị Hồng Nhung, mẹ đẻ bà Đào Thị Tuyết Hồng – thành viên Ban kiểm soát Công ty Cổ phần Sông Đà 8 (mã SD8-HNX) đăng ký bán 1.000 cổ phiếu, đã bán 300 cổ phiếu, số cổ phiếu nắm giữ còn 700 cổ phiếu.

* Từ ngày 25/2/2010 – 25/3/2010, ông Đào Ngọc Hùng – thành viên Hội đồng Quản trị, Phó giám đốc Công ty Cổ phần Chế tạo Kết cấu thép VNECO.SSM (mã SSM-HNX) đăng ký mua 10.000 cổ phiếu, nhằm nâng tỷ lệ nắm giữ.

* 7h30 ngày 31/3/2010, Công ty Cổ phần Cơ khí và Khoáng sản Hà Giang (mã HGM-HNX) sẽ tổ chức Đại hội đồng cổ đông tại Hội trường tầng 3, Công ty Cổ phần Cơ khí và Khoáng sản Hà Giang – số 390 đường Nguyễn Trãi, thị xã Hà Giang, tỉnh Hà Giang.

* Ngày 17/4/2010, Công ty Cổ phần Bột giặt LIX (mã LIX-HNX) sẽ tổ chức đại hội cổ đông thường niên tại Công ty Cổ phần Bột giặt LIX , Khu phố 4 , phường Linh Trung, quận Thủ Đức, Tp.HCM, nhằm thông qua báo cáo của Hội đồng Quản trị và Ban kiểm soát về kết quả sản xuất kinh doanh, phương án phân chia lợi nhuận năm 2009; thông qua kế hoạch sản xuất kinh doanh năm 2010.

* Ngày 3/2/2010, Công ty Cổ phần Quản lý quỹ đầu tư Vỉệt Nam, cổ đông lớn thuộc Công ty Cổ phần Sông Đà 5 (mã SD5-HNX) công bố: Công ty Cổ phần Quản lý Quỹ đầu tư Việt Nam (VFM) đã bán 52.100 cổ phiếu, chiếm 0,58% vốn điều lệ, số cổ phiếu nắm giữ còn 0 cổ phiếu, chiếm 0% vốn điều lệ; Quỹ Đầu tư Chứng khoán Việt Nam (VF1) đã mua trong đợt phát hành cổ phiếu riêng lẻ của SD5 là 1.000.000 cổ phiếu, chiếm 11,1 % vốn điều lệ, nâng số cổ phiếu nắm giữ lên 1.320.700 cổ phiếu, chiếm 14,66% vốn điều lệ; Quỹ Đầu tư tăng trưởng Việt Nam (VF2) đã mua trong đợt phát hành cổ phiếu riêng lẻ của SD5 là 300.000 cổ phiếu, chiếm 3,33 % vốn điều lệ, nâng số cổ phiếu nắm giữ lên 570.000 cổ phiếu, chiếm 6,33 % vốn điều lệ.

* Ngày 23/2/2010, Tổng công ty Cổ phần Xây dựng điện Việt Nam, cổ đông lớn thuộc Công ty Cổ phần Chế tạo Kết cấu thép VNECO.SSM (mã SSM-HNX) đã bán 57.500 cổ phiếu – tương đương với 2,09% trên tổng số cổ phiếu đang lưu hành, số cổ phiếu nắm giữ sau khi bán còn 286.790 cổ phiếu – tương đương với 10,42% trên tổng số cổ phiếu đang lưu hành.

* Từ ngày 5/2/2010 – 23/2/2010, ông Đào Ngọc Hùng – thành viên Hội đồng Quản trị, Phó giám đốc Công ty Cổ phần Chế tạo Kết cấu thép VNECO.SSM (mã SSM-HNX) đã bán 9.700 cổ phiếu, số cổ phiếu nắm giữ còn 60 cổ phiếu.

* Ngày 6/3/2010, Công ty Cổ phần Bia Thanh Hóa (mã THB-HNX) sẽ tổ chức đại hội đồng cổ đông năm 2010 tại Khách Sạn Sao Mai, số 20, đường Phan Chu Trinh, Tp. Thanh Hoá nhằm thông qua báo cáo sản xuất kinh doanh năm 2009 và phương hướng nhiệm vụ năm 2010; thông qua báo cáo công tác tài chính năm 2009; thông qua phương án phân phối lợi nhuận trả cổ tức năm 2009.

* Công ty Cổ phần Đá ốp lát cao cấp VINACONEX (mã VCS-HNX) thông báo bổ nhiệm ông Nguyễn Như Nguyên giữ chức vụ Phó tổng giám đốc Công ty Cổ phần Đá ốp lát cao cấp Vinaconex phụ trách các dự án bất động sản và khai khoáng tại khu vực phía Nam kể từ ngày 19/2/2010.

* Từ ngày 26/1/2010 – 22/2/2010, ông Nguyễn Trọng Tấn – Chủ tịch Hội đồng Quản trị Công ty Cổ phần Xây dựng số 7 (mã VC7-HNX) đã bán 21.900 cổ phiếu, số cổ phiếu nắm giữ còn 93.687 cổ phiếu.

* Hội đồng Quản trị Công ty Cổ phần Viglacera Từ Sơn (mã VTS-HNX) đã thông qua kế hoạch kinh doanh năm 2010 với doanh thu đạt 97 tỷ đồng; lợi nhuận trước thuế đạt 22,5 tỷ đồng và tạm dừng 1 lò nung để sửa chữa lớn. Thời gian dự kiến dừng lò từ ngày 12/2/2010 – 15/3/2010.

* Sở Giao dịch Chứng khoán Hà Nội đã chấp thuận nguyên tắc niêm yết cho Công ty Cổ phần Kỹ thuật điện Sông Đà được niêm yết 1.509.565 cổ phiếu tại Sở Giao dịch Chứng khoán Hà Nội với giá trị chứng khoán niêm yết là 15.095.650.000 đồng.

Phí niêm yết chứng khoán lần đầu là 10 triệu đồng

Bộ Tài chính vừa có Thông tư quy định về phí hoạt động chứng khoán áp dụng đối với việc triển khai hoạt động chứng khoán…

Từ ngày 12/4/2010 sẽ áp dụng mức thu phí mới tại các sàn chứng khoán.

Bộ Tài chính vừa có Thông tư số 27/2010/TT-BTC quy định về phí hoạt động chứng khoán áp dụng đối với các công việc liên quan đến triển khai hoạt động chứng khoán tại sở giao dịch chứng khoán và tại Trung tâm Lưu ký Chứng khoán. Quy định này có hiệu lực từ ngày 12/4/2010.

Theo đó, tại sở giao dịch chứng khoán áp dụng mức thu phí đăng ký niêm yết lần đầu được thu khi chấp thuận niêm yết chứng khoán và không thu trong trường hợp chuyển đăng ký niêm yết giữa các sở giao dịch chứng khoán. Mức phí niêm yết lần đầu là 10 triệu đồng/công ty niêm yết và lần niêm yết bổ sung tiếp theo có phí 5 triệu đồng/1lần niêm yết bổ sung.

Tại Trung tâm Lưu ký Chứng khoán, có mức phí quản lý thành viên lưu ký là 40 triệu đồng/thành viên/năm.

Phí quản lý thành viên giao dịch, thành viên lưu ký hàng năm được tính cho năm đủ 12 tháng và thời điểm bắt đầu được tính từ ngày đầu tiên của tháng sau tháng được chấp thuận là thành viên giao dịch, thành viên lưu ký. Mức thu này được tính là 20 triệu đồng/năm tại sở giao dịch chứng khoán. Các công ty chứng khoán triển khai hoạt động giao dịch trực tuyến thì nộp phí kết nối lần đầu ngay khi được sở giao dịch chứng khoán chấp thuận làm thành viên giao dịch trực tuyến.

Phí chuyển nhượng chứng khoán đối với cổ đông sáng lập đang trong thời gian hạn chế chuyển nhượng theo qui định của pháp luật và trường hợp chuyển nhượng được cơ quan nhà nước có thẩm quyền chấp  thuận thì áp dụng mức thu đối với cả bên chuyển nhượng và bên nhận chuyển nhượng là 0,1% giá trị giao dịch.

Nhà nước cũng thu phí quản lý niêm yết hàng năm đối với cổ phiếu có giá trị niêm yết dưới 100 tỷ đồng là 15 triệu đồng; từ 100 tỷ đến dưới 500 tỷ đồng là 20 triệu đồng và giá trị cổ phiếu niêm yết từ 500 tỷ đồng trở lên được áp dụng mức phí 20 triệu đồng+0,001% giá trị niêm yết nhưng không vượt quá 50 triệu đồng. Tổ chức niêm yết sẽ phải nộp các khoản thu này.

Đối với trái phiếu, chứng chỉ quỹ (giá trị niêm yết theo mệnh giá) có giá trị niêm yết dưới 80 tỷ đồng có mức thu phí là 15 triệu đồng. Giá trị niêm yết từ 200 tỷ đồng trở lên có mức thu là 20 triệu đồng + 0,001%/ giá trị niêm yết nhưng không vượt quá 50 triệu đồng.

Các thành viên giao dịch chứng khoán phải nộp mức phí giao dịch 0,03%/giá trị giao dịch cho cổ phiếu, chứng chỉ quỹ đầu tư; 0,02%/giá trị giao dịch đối với cổ phiếu và 0,0075%/giá trị giao dịch đối với trái phiếu.

Tại Trung tâm Lưu ký Chứng khoán, phí đăng ký chứng khoán lần đầu đối với giá trị dưới 80 tỷ đồng có mức phí là 10 triệu đồng/lần; 15 triệu đồng khi giá trị từ 80 đến dưới 200 tỷ đồng và 20 triệu đồng khi giá trị chứng khoán trên 200 tỷ đồng. Nếu muốn đăng ký bổ sung phải nộp khoản phí 5 triệu đồng cho mỗi lần bổ sung tiếp theo.

Minh Đức (Chinhphu.vn)

Chấm dứt tình trạng không kiểm soát được chất lượng đào tạo đại học

Thủ tướng Chính phủ ra chỉ thị về đổi mới quản lý giáo dục đại học giai đoạn 2010 – 2012…

Theo đánh giá của Chính phủ, giáo dục đại học còn nhiều hạn chế và yếu kém.

“Kiên quyết chấm dứt tình trạng không kiểm soát được chất lượng đào tạo. Cần tạo ra cơ chế và động lực trong quản lý Nhà nước và quản lý của các cơ sở đào tạo để thực hiện mục tiêu đảm bảo và nâng cao chất lượng đào tạo”.

Đây là nội dung được nêu rõ tại chỉ thị số 296/CT- TTG ngày 27/2 của Thủ tướng Chính phủ về đổi mới quản lý giáo dục đại học giai đoạn 2010 -2012.

Tại chỉ thị này, người đứng đầu Chính phủ đánh giá, giáo dục đại học còn bộc lộ nhiều hạn chế và yếu kém, chất lượng đào tạo nhìn chung còn thấp, chưa theo kịp đòi hỏi phát triển kinh tế – xã hội của đất nước.

Nguyên nhân căn bản chính là sự yếu kém trong quản lý về giáo dục đại học và sự yếu kém trong quản lý của bản thân các trường đại học, cao đẳng.

Để đổi mới quản lý giáo dục đại học, Thủ tướng giao Bộ Giáo dục và Đào tạo thực hiện 12 yêu cầu. Theo đó, yêu cầu đầu tiên là tổ chức thảo luận trong tất cả các cơ sở giáo dục đại học: Vì sao phải nâng cao chất lượng đào tạo, làm gì để đảm bảo và nâng cao chất lượng đào tạo trong giai đoạn hiện nay?

Bên cạnh đó, Bộ Giáo dục và Đào tạo phối hợp với Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Tài chính rà soát lại chỉ tiêu rà soát lại các chỉ tiêu phát triển hệ thống giáo dục đại học đến năm 2020. Tăng cường công tác dự báo để các mục tiêu và chỉ số phát triển giáo dục đại học có tính khả thi, làm cơ sở xây dựng chiến lược phát triển giáo dục giai đoạn 2011 – 2020, chỉ thị nêu rõ.

Yêu cầu tiếp theo là ban hành các văn bản về thành lập trường, tuyển sinh, đào tạo, quản lý tài chính, chất lượng, trong đó làm rõ trách nhiệm và chế độ của nhà giáo trong đào tạo và nghiên cứu khoa học… để các trường thực hiện quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm trước xã hội.

Thủ tướng cũng yêu cầu Bộ Giáo dục và Đào tạo hướng dẫn và kiểm tra các trường áp dụng mức trần học phí mới theo hướng tăng học phí phải gắn với nâng cao chất lượng đào tạo.

Bên cạnh đó, Bộ cũng cần phối hợp với Bộ Xây dựng nhanh chóng triển khai quy hoạch xây dựng các trường đại học, ký túc xá sinh viên, đặc biệt tại vùng Thủ đô Hà Nội và vùng Tp.HCM.

Nhiệm vụ quan trọng khác được giao cho Bộ Giáo dục và Đào tạo là tham mưu cho Chính phủ phân công, phân cấp quản lý các trường đại học, cao đẳng theo hướng làm rõ trách nhiệm của các bộ, ngành, địa phương. Cần tăng bộ máy giúp việc cho tỉnh để kiểm tra, giám sát các trường đại học, cao đẳng trên địa bàn. Cùng với đó là tăng cường sự giám sát của xã hội.

Bộ cũng chịu trác nhiệm kiểm tra đôn đốc việc thực hiện các cam kết của các trường đại học, cao đẳng trong đề án thành lập trường về cơ sở vật chất, đội ngũ giáo viên, chương trình học. Có cơ chế xử lý nghiêm khắc với các trường sau ba năm thành lập không đáp ứng yêu cầu. Đẩy mạnh thanh tra hoạt động đào tạo liên kết.

Thủ tướng cũng yêu cầu Bộ Giáo dục và Đào tạo đẩy mạnh việc đánh giá và kiểm định chất lượng giáo dục đại học theo hướng đẩy nhanh tiến độ tự đánh giá của các trường, xây dựng tiêu chuẩn và hình thành một số cơ quan kiểm định chất lượng độc lập.

Một số yêu cầu khác được nêu tại chỉ thị bao gồm việc nâng cao năng lực đội ngũ quản lý, hiệu quả công tác nghiên cứu khoa học, hướng dẫn các  trường xây dựng chiến lược phát triển…

Thủ tướng chỉ thị các bộ, ngành chủ động phối hợp với Bộ Giáo dục và Đào tạo chỉ đạo các cơ sở giáo dục đại học trực thuộc xây dựng và triển khai thực hiện chương trình hành động về đổi mới quản lý giáo dục đại học giai đoạn 2010 – 2012.

Lãi suất ngân hàng có ủng hộ chứng khoán tháng 3?

Chứng khoán tháng 3 nhiều khả năng sẽ tiếp tục biến động giằng co tích lũy nhưng theo xu hướng đi lên nhiều hơn…

Tâm lý lo ngại lạm phát gia tăng và lợi nhuận doanh nghiệp sụt giảm do chi phí sử dụng vốn tăng cao sẽ khiến cho nhà đầu tư tiếp tục giữ thái độ thận trọng – Ảnh: Quang Liên.

Chứng khoán tháng 3 nhiều khả năng sẽ tiếp tục biến động giằng co tích lũy nhưng theo xu hướng đi lên nhiều hơn.

Những thay đổi của nền kinh tế được thị trường phản ánh khá rõ nét trong tháng 2, sự thiếu thanh khoản của hệ thống ngân hàng trong những tuần giáp Tết đã đẩy lãi suất cho vay tăng cao, “bóng ma” lạm phát đang có nguy cơ quay trở lại và điều này đã khiến cho nhà đầu tư giữ thái độ thận trọng.

Thị trường đã có một tháng giao dịch ảm đạm, giá trị giao dịch trên hai sàn đạt mức thấp nhất kể từ tháng 5/2009, tại sàn Tp.HCM giá trị giao dịch trung bình phiên trong tháng 2 đạt 1.047 tỷ đồng/phiên, giảm gần 40% và giảm đến 53% trên sàn Hà Nội, so với tháng 1.

Phản ánh sự quan ngại khi lãi suất cao

Nỗi lo lạm phát leo thang những tháng sau Tết đã khiến nhà đầu tư ngại rủi ro và thực tế sau những phiên tăng điểm ấn tượng trước Tết, thị trường đã chuyển hướng tiêu cực khi chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 2 được công bố. Cả VN-Index và HNX-Index đóng cửa phiên giao dịch cuối cùng của tháng 2 lần lượt giảm 1,67% và 0,5% so với phiên giao dịch trước Tết.

Đúng như các chuyên gia lo ngại, nhu cầu tiêu dùng cao vào dịp Tết đã khiến CPI tháng 2 tăng mạnh. Với mức tăng lên đến 1,96%, CPI hai tháng đầu năm đã tăng 3,35% so với tháng 12 năm ngoái và tăng hơn 8% so với cùng kỳ năm 2009. Như vậy, mục tiêu kiềm chế lạm phát dưới 7% trở nên cực kỳ khó khăn. CPI tăng mạnh khiến một số tổ chức nước ngoài quan ngại Ngân hàng Nhà nước sẽ phải sớm tăng lãi suất cơ bản trong thời gian tới để kiềm chế lạm phát.

Việc điều chỉnh tăng giá của các sản phẩm thiết yếu như xăng dầu, than, điện, nước… đang và sẽ góp phần đẩy giá cả của nhiều mặt hàng khác tăng theo. Bên cạnh đó, Việt Nam còn phải đối mặt với nguy cơ “nhập khẩu lạm phát” do kinh tế thế giới có dấu hiệu hồi phục và việc điều chỉnh tỷ giá lên mức 18.544 đồng/USD gần đây của Ngân hàng Nhà nước đang khiến cho chi phí đầu vào của nhiên liệu và một số nguyên vật liệu nhập khẩu đang có dấu hiệu tăng hoặc vẫn đứng ở mức cao.

Tuy vậy, việc nhập siêu đã có dấu hiệu hạ nhiệt trong tháng 2 khi con số này chỉ có 700 triệu USD, đây là tin khá tích cực vì nó góp phần làm hạ nhiệt tốc độ tăng theo tháng của chỉ số CPI.

Bên cạnh đó, Ngân hàng Nhà nước vẫn tiếp tục duy trì lãi suất cơ bản 8%/năm trong tháng 3 và ban hành thông tư số  07/2010. Theo đó, các ngân hàng được phép áp dụng cơ chế lãi suất thỏa thuận với các khách hàng vay trung và dài hạn nhằm đáp ứng nhu cầu vốn sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và đầu tư phát triển.

Thông tư trên sẽ góp phần khơi thông dòng chảy tín dụng nhằm duy trì tốc độ tăng trưởng kinh tế ở mức cao, tuy nhiên nó cũng sẽ gây khó khăn cho doanh nghiệp khi phải vay vốn với chi phí cao, vì vậy giá thành sản phẩm sẽ tăng và giá cả nhiều mặt hàng cũng sẽ lên theo.

Giữa lúc nhà đầu tư trong nước phân vân trước những yếu tố vĩ mô bất lợi, khối ngoại tiếp tục là người dẫn dắt thị trường trong tháng 2. Thống kê trong 5 phiên giao dịch gần nhất, tỷ trọng giao dịch của khối này chiếm gần 20% giá trị thị trường.

Danh mục mua bán của khối này phần lớn là những blue-chip có sức ảnh hưởng lớn đến thị trường như VNM, BVH, VSH, PPC, SSI…Tuy nhiên, nhìn vào đồ thị ta có thể thấy, giá trị mua ròng của khối này đang có dấu hiệu giảm sút sau khi đạt đỉnh vào tuần giao dịch đầu tiên của tháng 2.

Biểu đồ giá trị mua/bán ròng của nhà đầu tư nước ngoài theo tuần.

Theo thống kê của sàn Tp.HCM, với 5 tháng mua ròng liên tục từ tháng 10/2009, giá trị mua ròng của khối này đạt trên 3.678 tỷ đồng, vì vậy, nhiều khả năng khối này sẽ không còn mua ròng nhiều như những tuần gần đây.

Giằng co tích lũy nhưng theo xu hướng đi lên

Thanh khoản tiếp tục sẽ là một chỉ báo quan trọng cho xu hướng của thị trường, mặc dù có cải thiện trong những phiên giao dịch cuối tháng 2 nhưng nhìn chung khối lượng giao dịch vẫn còn đứng ở mức thấp. Chúng ta có thể kỳ vọng vào một đợt gia tăng vững chắc của thị trường nếu giá trị giao dịch tại sàn Tp.HCM đạt hơn 2.000 tỷ đồng/phiên.

Lãi suất thực tế trở nên đáng quan tâm khi Ngân hàng Nhà nước cho phép các ngân hàng thương mại áp dụng lãi suất cho vay thỏa thuận và giữ nguyên lãi suất cơ bản ở mức 8%. Lãi suất cho vay thực tế đang đứng ở mức cao và phổ biến ở mức từ 16-18% đã khiến cho thị trường chứng khoán diễn biến không mấy tích cực trong thời gian qua.

Có thể cần phải có thêm thời gian để lãi suất giảm dần và đi vào ổn định nhưng có thể thấy lãi suất khó có thể tăng cao hơn nữa và vì vậy, đây chính là giai đọan tích lũy cổ phiếu chờ thị trường bùng nổ khi lãi suất hạ nhiệt.

Tâm lý lo ngại lạm phát gia tăng và lợi nhuận doanh nghiệp sụt giảm do chi phí sử dụng vốn tăng cao sẽ khiến cho nhà đầu tư tiếp tục giữ thái độ thận trọng. Tuy vậy, với sự hạn chế của lực cung giá thấp do tiền đầu tư chủ yếu là tiền tự có cùng với lực cầu mạnh ở vùng giá thấp sẽ khiến cho thị trường khó có khả năng giảm điểm sâu.
 
Với những khó khăn còn hiện hữu của nền kinh tế, khả năng cho sự tăng trưởng mạnh của thị trường chứng khoán trong tháng 3 là có thể xảy ra. Và nhiều khả năng thị trường sẽ tiếp tục biến động giằng co tích lũy nhưng theo xu hướng đi lên nhiều hơn.

Đồ thị kỹ thuật của chỉ số VN-Index cho thấy ngưỡng hỗ trợ tại 480 và ngưỡng kháng cự tại 520 điểm là khá mạnh, bất kỳ một sự phá vỡ các ngưỡng này đều cần phải có thông tin đủ mạnh để tác động. Người viết cho rằng thị trường sẽ còn tiếp tục biến động trong vùng này trong nhiều phiên tới đây.

Tuy vẫn còn thận trọng trong ngắn hạn nhưng có thể khá lạc quan trong trung hạn khi nền kinh tế Việt Nam và thế giới vẫn hứa hẹn một sự tăng trưởng tốt trong năm 2010.

Việc tích lũy cổ phiếu có nền tảng cơ bản tốt thuộc các ngành như: bất động sản, ngân hàng, cao su tự nhiên, điện, khai khoáng… trong những phiên thị trường điều chỉnh xem ra là hành động khá hợp lý trong thời điểm này.

* Tác giả bài viết hiện là Giám đốc Phân tích Công ty Cổ phần Chứng khoán Đại Việt (DVSC).

Giá thuê cột điện: Doanh nghiệp “nhường” các bộ?

“Chuyện giá thuê cột điện” vẫn chưa đến hồi kết và có thể sẽ cần ba bộ phải vào cuộc để tính toán…

Theo EVN, trên mỗi cột điện sẽ chỉ được treo tối đa không quá 5 sợi cáp.

Hạn chót để “tự thỏa thuận” đã đến, song EVN và VNPT vẫn chưa có câu trả lời về giá thuê cột điện.

Tại buổi họp bàn để thống nhất về giá thuê cột điện sáng 26/1, theo ý kiến của 3 bộ Thông tin và Truyền thông, Công Thương và Tài chính, nếu đến ngày 28/2/2010, Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN) và Tập đoàn Bưu chính Viễn thông (VNPT) không thỏa thuận được về giá thuê cột điện để treo cáp thông tin thì 3 bộ sẽ “vào cuộc” để tính giá thuê.

Nhưng đến “sát nút”,  ngày 26/2, VNPT mới gửi được giấy mời EVN để tiếp tục thỏa thuận về chuyện này.

Ông Vũ Thế Dương, Phó trưởng Ban Tiếp thị của VNPT cho biết, do gần Tết VNPT mới nhận được thông báo của Bộ Thông tin và Truyền thông về việc gia hạn thỏa thuận cho các doanh nghiệp, vì thế hai bên chưa thể đàm thuận với nhau sớm hơn được.

“Chúng tôi hẹn EVN tuần sau, nhưng không biết EVN có tham gia hay không”, ông Dương nói.

Tuy nhiên, theo ông Dương, quan điểm của VNPT là chỉ thuê cột điện để treo cáp với giá thuê theo cách tính chi phí giá thành xây dựng cột điện của VNPT, nghĩa là giá thuê cột chỉ bằng khoảng 1/3 – 1/4 so với giá mà phía EVN đưa ra.

Trong khi đó, theo cách tính của EVN, chi phí vận hành khai thác bảo dưỡng sửa chữa cột điện sẽ được phân bổ 50% cho cáp điện và 50% cho cáp thông tin (cáp thuê). Nhưng theo ông Dương, phần 50% chi phí khấu hao cột điện cho doanh nghiệp thuê cáp phải được phân bổ đều cho số các nhà khai thác viễn thông, truyền hình, chứ không thể là phân bổ cho riêng mình VNPT chịu, vì ngoài VNPT, VCTV, Viettel, SPT… cũng thuê.

Còn về phía EVN, trao đổi với VnEconomy ngày 27/2, ông Đinh Quang Tri, Phó tổng giám đốc cho biết, EVN vẫn giữ nguyên giá thuê theo biểu giá của EVN, vì theo quan điểm của EVN đó là mức giá hợp lý so với chi phí giá thành và chi phí vận hành mà EVN phải bỏ ra. “Vì đây không phải là giá độc quyền, cũng không phải là giá đưa ra để đàm phán”, ông Tri khẳng định.

Trước đây, ông Phạm Hồng Hải, Vụ trưởng Vụ Viễn thông (Bộ Thông tin và Truyền thông) cho rằng, do Nhà nước không quyết định về giá thuê cột nên việc xác định mức thuê cứ để hai bên thỏa thuận, hiệp thương. Khi nào hai bên không tự thỏa thuận được thì các bộ mới đứng ra tính toán chi phí giá thành và xác định mức giá thuê.

Dù vậy thì tới đây, việc treo cáp thông tin trên cột điện sẽ còn được thắt chặt hơn, Phó tổng giám đốc EVN Đinh Quang Tri cho biết. Hiện EVN đã gửi thông báo lên Bộ Công Thương về việc kiên quyết chỉ sử dụng cho treo cáp thông tin theo đúng tiêu chuẩn kỹ thuật của ngành điện, đảm bảo an toàn cho người dân và mỹ quan đô thị. Và vì, cột điện dùng để treo cáp điện chứ không thể thay chức năng chính cho việc treo cáp.

Cụ thể, trên mỗi cột điện EVN sẽ chỉ cho treo tối đa không quá 5 sợi cáp. Với những cáp đồng treo trên cột với điện áp trên 1 kV sẽ không được treo, vì những cáp đồng này có khả năng dẫn điện gây nguy hiểm, mất an toàn cho người dân.

Như vậy, “chuyện giá thuê cột điện” vẫn dùng dằng, và rất có thể sẽ cần 3 bộ phải vào cuộc để tính toán.

Việt Nam trong cạnh tranh toàn cầu

Trong tương quan thế giới, Việt Nam ngày nay đang có vị thế ngày càng nổi bật, nhưng cũng đang bị cạnh tranh gay gắt…

Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Tấn Dũng tại Diễn đàn Kinh tế Thế giới năm 2010 – Ảnh: Reuters.

HTML clipboardTrong quá trình hoạch định chính sách phát triển, cần có quan điểm hệ thống, tầm nhìn dài hạn và đối chiếu với các nước trong bối cảnh toàn cầu hóa và cạnh tranh toàn cầu.

Năm 2010, Diễn đàn Kinh tế Thế giới (WEF) lần đầu tiên được đón đoàn đại biểu Việt Nam do đích thân Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Tấn Dũng dẫn đầu. Đoàn Việt Nam đã có nhiều hoạt động sôi nổi, đa dạng và hiệu quả trong một diễn đàn phi chính thức mang tính toàn cầu.

Để cung cấp thêm thông tin về các khía cạnh của diễn đàn này, và cũng để cung cấp thông tin bổ sung trong quá trình xây dựng chiến lược phát triển Việt Nam, người viết xin được tổng thuật ngắn đánh giá của thế giới về Việt Nam trong tương quan toàn cầu và khu vực, theo báo cáo cạnh tranh toàn cầu 2009/2010 được phát hành nhân dịp này.

Trong tương quan thế giới, Việt Nam ngày nay đang có vị thế ngày càng nổi bật, nhưng cũng đang bị cạnh tranh gay gắt.
 

Các tiêu chí cạnh tranh quốc gia Việt Nam Trung Quốc Thái Lan Philippines Singapore Ấn Độ Hàn Quốc Nhật Bản
Dân số (triệu người) 88,50 1.336,30 64,30 89,70 4,50 1.186,20 48,40 127,90
Xếp hạng 13 1 18 12 95 2 23 10
GDP giá thực tế (tỷ USD) 89,80 4.401,60 273,20 168.60 181,90 1.209,70 947,00 4.923,80
Xếp hạng 59 3 34 47 44 12 15 2
GDP bình quân đầu người thực tế (USD/người) 1.040,40 3.315,20 4.115,30 1.866,00 38.972,10 1.016,20 19.504,50 38.599,10
Xếp hạng 109 88 80 98 22 111 37 23
Tỷ trọng GDP các nước theo PPP (%) 0,35 11,40 0,80 0,46 0,35 4,77 1,85 6,37
Xếp hạng 44 2 23 35 45 4 14 3
Kết quả toàn bộ GCI 4,03
(75)
4,74
(29)
4,56
(36)
3,90
(87)
5,55
(3)
4,30
(49)
5,00
(19)

5,37
(8)

Năm 2008/2009 70 30 34 71 5 50 13 9
Tăng giảm thứ bậc -5 1 -2 -16 2 1 -6 1
Nguồn: Báo cáo cạnh tranh toàn cầu 2009/2010 của WEF. Chú thích: PPP (Sức mua tương đương)

Bảng trên cho thấy, với thị trường nội địa to lớn, với dân số đứng thứ 13 thế giới và thứ 3 của khu vực ASEAN, sau Indonesia và Philippines, Việt Nam đang sản xuất quy mô GDP danh nghĩa đứng thứ 59 toàn cầu, nhưng theo sức mua tương đương (loại trừ các yếu tố giá cả và tỷ giá), kinh tế Việt Nam đứng thứ 44, trên cả Singapore.

Tuy nhiên, tính theo GDP danh nghĩa bình quân đầu người thì GDP bình quân đầu người của Việt Nam chỉ đứng thứ 109, vượt mức 1.000 USD/người như Ấn Độ. Hai nước này đều bị xếp loại nước đang phát triển, chủ yếu dựa vào việc đáp ứng các nhu cầu cơ bản, tức cũng là dựa vào các nhân tố tăng trưởng trong giai đoạn khởi động nền kinh tế như thể chế kinh tế được đổi mới, nâng cấp cơ sở hạ tầng, bảo đảm ổn định kinh tế vĩ mô và nâng cao số lượng và chất lượng cung ứng các dịch vụ xã hội cơ bản như y tế và giáo dục phổ thông.
   
Theo sự phân loại 5 giai đoạn phát triển trong báo cáo của WEF, tạm chia các nền kinh tế theo chỉ tiêu GDP bình quân đầu người là chính (nhưng cũng có nước tuy thu nhập cao, nhưng dựa trên khai thác tài nguyên như Brunei Darussalam dù đã đạt hơn 37.000 USD/người năm 2008, nhưng vẫn xếp vào giao đoạn phát triển thấp hơn):
 

Giai đoạn GDP bình quân đầu người Các nước
Giai đoạn 1 phát triển dựa vào các nhân tố phát triển Dưới 2.000 USD/người Campuchia, Lào, Việt Nam, Ấn Độ, Philippines
Giai đoạn chuyển tiếp 1-2 Từ 2.000-3.000 USD/người

Indonesia, Brunei Darussalam

Giai đoạn 2 hướng vào hiệu quả Từ 3.000-9.000 USD/người

Trung Quốc, Thái Lan, Malaysia

Giai đoạn chuyển tiếp 2-3 Dưới 17.000 USD/người Liên bang Nga
Giai đoạn 3 phát triển dựa trên đổi mới công nghệ và trí thức Trên 17.000 USD/người Hàn Quốc, Singapore, Nhật bản
Nguồn: Báo cáo cạnh tranh toàn cầu 2009/2010

Trong giai đoạn 1 khởi động nền kinh tế, hướng đến các nhu cầu cơ bản, các nền kinh tế như Campuchia, Lào, Việt Nam, Ấn Độ và cả Philippines đã phát triển dựa vào các nhân tố tạo động lực như các trụ cột chủ yếu là thể chế; cơ sở hạ tầng; ổn định vĩ mô và phát triển các dịch vụ xã hội cơ bản như giáo dục tiểu học, y tế.

Đối với các nhu cầu cơ bản, sự so sánh của các nền kinh tế như sau:
 

Các tiêu chí cạnh tranh quốc gia Việt Nam Trung Quốc Thái Lan Philippines Singapore Ấn Độ Hàn Quốc Nhật Bản
Nhóm trụ cột nhu cầu cơ bản
(Thứ hạng và chỉ số trên thang 7 điểm)
92
(4.02)
36
(5.09)
43
(4.86)
95
(3.94)
2
(5.99)
79
(4.18)
23
(5.40)
27
(5.27)
Trụ cột 1 : Thể chế 63 48 60 113 1 54 53 28
Trụ cột 2: Hạ tầng 94 46 40 98 4 76 17 13

Trụ cột 3: Ổn định kinh tế vĩ mô

112 8 22 76 35 96 11 97
Trụ cột 4: Y tế và giáo dục tiểu học 76 45 61 93 13 101 27 19
Nguồn: Báo cáo cạnh tranh toàn cầu 2009/2010

Theo thứ hạng này, Việt Nam được xếp vị trí 92, ở giữa Ấn Độ (79) và Philippines (95) là các nước đang phát triển mới ở giai đoạn khởi động nền kinh tế. Tuy nhiên, so với mấy năm trước, vấn đề ổn định kinh tế vĩ mô của Việt Nam đã có bước tụt hậu, chỉ xếp hạng 112 (do tình trạng lạm phát cao gần 20% năm 2008 và các chỉ tiêu vĩ mô khác) so với hạng chung của Nhóm tiêu chí các nhu cầu cơ bản là 92 (trong khi các đổi mới thể chế được đánh giá cao thứ 63, còn các dịch vụ cơ bản y tế, giáo dục được đánh giá thứ 76 và cơ sở hạ tầng được đánh giá thấp hơn nữa là 94) và xếp hạng chung cạnh tranh toàn cầu là 75.

Vì sự tụt hạng này, thứ hạng cạnh tranh toàn cầu (CGI) của Việt Nam cũng bị tụt hậu 5 bậc so với năm trước đó là 70.

Trong giai đoạn 2, các nền kinh tế/các nước như Trung Quốc, Thái Lan, Malaysia hướng đến tăng cường hiệu quả của nền kinh tế, các nền kinh tế thuộc nhóm nước/nền kinh tế này dựa vào 6 trụ cột khác. Theo đó, các trụ cột có sự sắp xếp thứ tự cạnh tranh năm 2009/2010 như sau:
 

Các tiêu chí cạnh tranh quốc gia Việt Nam Trung Quốc Thái Lan Philippines Singapore Ấn Độ Hàn Quốc Nhật Bản
Nhóm trụ cột nâng cao hiệu quả
(Thứ hạng và chỉ số trên thang 7 điểm)
61
(4.08)
32
(4.56)
40 (4.46) 78
(3.91)
2
(5.61)
35
(4.52)
20
(4.92)
11
(5.21)
Trụ cột 5: Đào tạo và giáo dục bậc cao hơn 92 61 54 68 5 66 16 23
Trụ cột 6: Hiệu quả thị trường hàng hóa 67 42 44 95 1 48 36 17
Trụ cột 7: Hiệu quả thị trường lao động 38 32 25 113 1 83 84 12
Trụ cột 8: Sự tinh vi của thị trường tài chính 82 81 49 93 2 16 58 40
Trụ cột 9: Sẵn sàng về công nghệ 73 79 63 84 6 83 15 25

Trụ cột 10: Quy mô thị trường

38 2 21 35 39 4 12 3
Nguồn: Báo cáo cạnh tranh toàn cầu 2009/2010

Trong giai đoạn phát triển cao hơn, các nền kinh tế thuộc Nhóm 3 như Hàn Quốc, Nhật Bản, Singapore củng cố sự phát triển của đất nước theo hướng tăng cường các nhân tố đổi mới và tinh vi hơn như các nhân tố tinh vi hơn trong kinh doanh và đổi mới công nghệ. Ứng dụng các tiêu chí này trong phân loại, sự xếp hạng cạnh tranh toàn cầu 2009/2010 như sau:
 

Các tiêu chí cạnh tranh quốc gia Việt Nam Trung Quốc Thái Lan Philippines Singapore Ấn Độ Hàn Quốc Nhật Bản
Nhóm trụ cột các nhân tố đổi mới
(Thứ hạng và chỉ số trên thang 7 điểm)
55
(3.72)
29
(4.23)
47
(3.83)
74
(3.45)
10
(5.15)
28
(4.24)
16
(4.88)
2
(5.70)
Trụ cột 11: Sự tinh vi của kinh doanh   70 38 43 65 14 27 21 1
Trụ cột 12: Đổi mới công nghệ 44 26 57 99 8 30 11 4
Nguồn: Báo cáo cạnh tranh toàn cầu 2009/2010

Xếp hạng cạnh tranh toàn cầu theo cả ba nhóm trụ cột này đạt thứ hàng 75/133 nền kinh tế toàn cầu như đã trình bày ở trên.

Qua các số liệu trên có thể thấy rằng, Việt Nam đã có những tiến bộ và được đánh giá cao hơn so với đánh giá chung (75) trong đánh giá về quy mô thị trường (38) và hiệu quả thị trường lao động (38), hiệu quả thị trường hàng hóa thuộc Nhóm trụ cột thứ hai, nhưng các yếu tố của nền kinh tế thị trường mới được đánh giá ở mức trung bình (70). Đổi mới công nghệ (44) thuộc Nhóm trụ cột thứ ba cũng có những bước tiến đáng khích lệ, tuy các yếu tố của trụ cột sẵn sàng về công nghệ còn ở mức trung bình (73).

Tuy nhiên, ngay Nhóm trụ cột thứ nhất (các trụ cột 1-4) hiện lại khá khiêm tốn khi có thể chế được đánh giá mức (63), cao hơn mức đánh giá chung, cho thấy cần có những nỗ lực xây dựng nền tảng ban đầu là các vấn đề xã hội (76), cơ sở hạ tầng (94) và ổn định kinh tế vĩ mô (112) đóng góp vào sự phát triển bền vững và nâng cao sức cạnh tranh toàn cầu.

Như vậy, theo cách phân loại này, dường như chúng ta có thể rút ra một kinh nghiệm là đừng bao giờ ngộ nhận về vị thế của nước mình trong bản đồ kinh tế thế giới để có những hoạch định chính sách tương ứng đúng với thế và lực của nước ta.

Đó cũng là vấn đề mà nhiều nhà nghiên cứu đã nói là định vị Việt Nam cho đúng để có chính sách đúng. Trong vấn đề này, việc cung cấp các thông tin chuẩn xác đến các nhà nghiên cứu và hoạch định chính sách, cũng như công khai minh bạch các chính sách phát triển và các thông tin cơ bản về sự phát triển của đất nước, của các ngành và địa phương cũng có ý nghĩa rất quan trọng, vì sự phát triển là công việc chung của cả đất nước, của toàn dân tộc.

Nói như vậy, không có nghĩa là chúng ta phủ định việc “đi tắt, đón đầu”, mà vấn đề là ở liều lượng của các chính sách. Cũng theo báo cáo của WEF đã nêu, liều lượng của các trụ cột phát triển có thể “phân bổ” hợp lý, thích ứng với các giai đoạn phát triển theo tỷ lệ định lượng đại thể như sau:
 

Các giai đoạn phát triển / Các nhân tố phát triển

Giai đoạn chú trọng các nhân tố tạo lực

Giai đoạn cho nền kinh tế tăng cường hiệu quả

Giai đoạn cho kinh tế hướng vào đổi mới

Các nhu cầu cơ bản 60% 40% 20%
Thúc đẩy nâng cao hiệu quả 35% 50%

50%

Các nhân tố đổi mới (công nghệ) và tinh vi 5% 10%

30%

Nguồn: Báo cáo cạnh tranh toàn cầu 2009/2010

Như vậy, ngay trong giai đoạn khởi động nền kinh tế như nước ta, bên cạnh việc dành 60% sự chú ý cho các nhu cầu cơ bản về thể chế, cơ sở hạ tầng, ổn định kinh tế vĩ mô và phát triển xã hội, ngay từ lúc này cũng phải dành đến 40% sự chú ý tới các yếu tố của các giai đoạn phát triển cao hơn (35% cho vấn đề hiệu quả và 5% cho các vấn đề đổi mới công nghệ và phát triển theo hướng tinh vi hơn).

Trong khi, ngay các nền kinh tế đã phát triển cao, thì vẫn không thể bỏ qua từ 20-40% sự chú ý tới sự phát triển dựa vào các nhu cầu cơ bản đã được tập trung trong giai đoạn khởi động nền kinh tế.

Tuy nhiên, cũng thấy rằng, ngay từ lúc này và mãi mãi trong các giai đoạn phát triển, vấn đề nâng cao chất lượng và hiệu quả luôn luôn chiếm vị trí quan trọng bậc nhất (đến 50%, so với các nhân tố khác chỉ chiếm 10-40%) trong hai giai đoạn phát triển cao, và cũng không thể xem thường ngay trong giai đoạn hiện nay.

Khách quốc tế tới Việt Nam tăng bất thường

Chỉ trong vòng hai tháng đầu năm 2010, cả nước đã đón được 877 nghìn lượt khách quốc tế…

Trong tháng 2/2010, lượng khách quốc tế đến Việt Nam đạt khoảng 446 nghìn lượt.

Hai tháng đầu năm 2010, cả nước đã đón trên 877 nghìn lượt khách quốc tế, tăng 27,4% so với cùng kỳ 2009.

Số liệu của Tổng cục Thống kê cho thấy, tháng 1 lượng du khách đến Việt Nam là hơn 431 nghìn lượt. Đến tháng 2, số lượng này tiếp tục tăng thêm 3,5% với khoảng 446 nghìn lượt. So với tháng 2/2009, lượng khách tới nước ta tăng tới 30,2%.

Trong số này, khách đến để nghỉ ngơi là trên 547 nghìn lượt, tăng 35,8% so với cùng kỳ năm trước; khách đến vì công việc là khoảng 152 nghìn lượt, tăng 47%. Riêng khách đến thăm thân và vì các mục đích khác lại giảm tương ứng là 0,6% và 10,6% so với năm 2009.

Cũng trong hai tháng đầu năm, hầu hết các thị trường khách đều tăng. Cụ thể, khách từ thị trường Campuchia tăng 109,6%, Trung Quốc có mức tăng 90,8%, Thái Lan mức tăng là 39,6%, Hàn Quốc tăng 17,8%… Chỉ có thị trường Mỹ lại giảm 0,4% so với cùng kỳ năm ngoái.

Theo đại diện Tổng cục Du lịch, thông thường, vào những năm trước, lượng khách quốc tế đến nước ta vào tháng 1 chỉ đạt khoảng 200 nghìn lượt. Bước sang tháng 2, lượng khách thường giảm xuống. Mặc dù không thể khẳng định chính xác là lượng khách tăng do kinh tế thế giới đã phục hồi hay các chương trình xúc tiến du lịch của nước ta mang lại hiệu quả, nhưng đây là một tín hiệu đáng mừng với ngành du lịch Việt Nam.

Tăng giá: Bài toán khó của Chính phủ

Trong lúc giá cả hàng hóa, tiêu dùng sau Tết đang còn cao thì đồng loạt xăng dầu, điện, than được bật đèn xanh tăng giá…

Các bà nội trợ không khỏi lo lắng khi một số mặt hàng thiết yếu tăng giá sau Tết – Ảnh: HTD.

Trong lúc giá cả hàng hóa, tiêu dùng sau Tết đang còn cao thì đồng loạt xăng dầu, điện, than được bật đèn xanh tăng giá. Vì sao có việc điều hành như vậy? Chính phủ gặp khó khăn gì?

Ông Nguyễn Hoàng Anh, Phó Chủ nhiệm Ủy ban Kinh tế của Quốc hội, phân tích: “Than, xăng dầu, điện là đầu vào của nhiều ngành sản xuất nên tăng giá sẽ ảnh hưởng nhiều. Nhưng ta cũng phải chấp nhận bởi kinh tế thị trường thì không thể để những mặt hàng quan trọng này nằm ngoài quy luật. Tâm lý của người dân, phản ứng của xã hội về việc tăng giá vừa qua cho thấy mặc dù chúng ta cố gắng điều hành kinh tế theo nguyên tắc thị trường nhưng với nhóm năng lượng thì vẫn chưa được thị trường lắm. Việc điều hành giá vẫn hơi thiên cưỡng”.

Lẽ ra đã tăng giá sớm hơn?

Tại sao phải chấp nhận, thưa ông?

Năng lượng là lĩnh vực quan trọng, xương sống của nền kinh tế và cũng là đầu vào cho các hàng hóa, dịch vụ khác. Ta muốn đầu tư mạnh cho năng lượng, huy động các nguồn vốn cho năng lượng nhưng lại kìm giá đến dưới giá thành thì không thể thu hút được. Ai cũng biết điện rất hấp dẫn với các nhà đầu tư nước ngoài nhưng khống chế giá bán thấp quá nên đâu có ai vào?

Chưa kể việc bao cấp giá với than, điện hiện nay và xăng dầu trước kia là kiểu bao cấp tràn lan, không khuyến khích sử dụng tiết kiệm, hợp lý. Thậm chí mặt hàng than còn dẫn tới tiêu cực, trục lợi. Khống chế giá than bán cho điện, xi măng dưới giá thành khiến khó kiểm soát được lượng tiêu thụ thực tế bao nhiêu và bao nhiêu bị đẩy ra ngoài bán kiếm lời.

Đẩy năng lượng vào vận hành theo cơ chế thị trường cần thiết như vậy thì tại sao không tiến hành sớm hơn, mà lại để lúc nền kinh tế vừa vượt qua khủng hoảng lại tăng giá?

Từ năm 2007, Chính phủ đã báo cáo Quốc hội về việc chấm dứt bao cấp giá với xăng dầu, than, điện rồi. Nếu ta thực hiện ngay được lúc ấy thì tốt nhưng khủng hoảng kinh tế thế giới lại ập tới, rồi lạm phát trong nước lên mức cao nên phải hoãn lại.

Tuy nhiên, kinh tế trong nước mới vượt qua đáy, còn nhiều khó khăn, mà tăng giá ngay thế này thì đúng là cũng có thể gây tâm lý bất ổn.

“Nên chia sẻ với Chính phủ”

Chuyên theo dõi công tác điều hành giá của Chính phủ, ông có nghĩ việc tăng giá xăng dầu và vài ngày nữa là điện có quá bất ngờ không?

Tôi không nghĩ là bất ngờ. Vấn đề chuyển sang cơ chế thị trường với những sản phẩm này bàn bạc đã lâu rồi, cũng đã công khai và báo chí nói tới nhiều. Xăng dầu thì từ cả năm trước đã rục rịch tăng giá. Cơ chế điều hành giá điện cũng ban hành và công bố đã lâu… Cho nên với doanh nghiệp thì không có gì là bất ngờ cả. Đầu vào tăng thì đầu ra tăng thôi. Còn với người dân thì sau tết giá hàng tiêu dùng còn đắt đỏ, thế mà xăng dầu, điện lại tăng tiếp thì chắc không tránh khỏi “xao xuyến”.

Tôi nghĩ mọi người và cả Quốc hội cũng vậy, nên chia sẻ khó khăn với Chính phủ.

Nhưng tăng giá như vậy sẽ ảnh hưởng trực tiếp tới đời sống người dân, nhất là những hộ nghèo, vùng khó khăn. Làm thế nào hạn chế tác động đó?

Theo tôi biết thì phương án tăng giá điện của Chính phủ đã tính tới đối tượng này. Như thế, đối tượng này sẽ ít bị ảnh hưởng… Ngoài ra, trong lộ trình thị trường hóa các sản phẩm, dịch vụ quan trọng sẽ đồng thời phải xây dựng các chính sách đồng bộ về xóa đói giảm nghèo, hỗ trợ những địa phương còn khó khăn.

Tăng trưởng và kềm lạm phát: Chỉ có thể chọn một

Hai tháng đầu năm, chỉ số giá tiêu dùng CPI đã hơn 3%, nay lại thêm cú tăng giá xăng dầu, điện thì liệu có khó đạt chỉ tiêu lạm phát cả năm không quá 7% mà Quốc hội giao, thưa ông?

Vấn đề này, mấy ngày qua các nhà kinh tế đã dự báo rồi. Trong tình hình nền kinh tế thế này mà cho tăng giá thì chắc chắn chỉ tiêu CPI sẽ bị ảnh hưởng. Đánh giá đó là có cơ sở.

Có vẻ như Chính phủ đang đứng trước bài toán khó?

Đúng. Để thúc đẩy xuất khẩu, phấn đấu tăng trưởng ở mức cao nhất ngay sau khủng hoảng, vừa rồi Chính phủ đã điều chỉnh tỉ giá ngoại tệ theo hướng làm giảm giá tiền Việt. Cũng để thu hút đầu tư vào năng lượng, hạn chế bao cấp tràn lan thì giá xăng dầu đã được thả theo cơ chế thị trường, giá than, điện cũng được điều chỉnh sát với thị trường hơn. Ngoài ra, tăng trưởng tín dụng đang bị thắt chặt lại để kéo lạm phát xuống, nay lại nới rộng lên mức 25%-30% để thúc đẩy sản xuất kinh doanh… Tất cả đều gây sức ép tới chỉ số giá tiêu dùng.

Và với diễn biến như vậy, Chính phủ đang nghiêng về mục tiêu tăng trưởng hơn là giữ lạm phát ở mức Quốc hội đề ra?

Chúng ta đang ở giai đoạn bắt đầu sau khủng khoảng nên tăng trưởng nhanh là cần thiết. Giờ mà ta hạn chế tín dụng, không nới lỏng đồng nội tệ, không cho tăng giá… thì chắc chắn sẽ kìm hãm nền kinh tế. Hai lựa chọn, buộc phải chọn một thôi nhưng phải cố điều hành hợp lý để lạm phát ở được mức thấp nhất.

Ủy ban Kinh tế của Quốc hội có dự kiến giám sát sát sao hơn việc điều hành giá của Chính phủ?

Chúng tôi vẫn theo dõi sát diễn biến thị trường. Khi cần thiết, Ủy ban sẽ báo cáo, kiến nghị với Ủy ban Thường vụ Quốc hội để tham gia thêm với Chính phủ. Chúng tôi đang lên kế hoạch khảo sát thị trường các mặt hàng thiết yếu, đánh giá lại tình hình phân phối hàng hóa, dòng chảy lưu thông sau ba năm gia nhập WTO.

Nghĩa Nhân (Pháp luật Tp.HCM)