20 quỹ đầu tư chứng khoán có tổng vốn 12.757 tỷ đồng

Tính đến cuối tháng 10/2009, tại Việt Nam có 20 quỹ đầu tư chứng khoán với tổng số vốn huy động là 12.757 tỷ đồng…

Thị trường đã có 46 công ty quản lý quỹ, 20 quỹ đầu tư chứng khoán được cấp phép hoạt động.

Tính đến cuối tháng 10/2009, tại Việt Nam có 20 quỹ đầu tư chứng khoán với tổng số vốn huy động là 12.757 tỷ đồng.

Ủy ban Chứng khoán Nhà nước vừa có báo cáo sơ bộ về tình hình thị trường chứng khoán trong năm 2009; trong đó cập nhật một số dữ liệu về tình hình hoạt động của các tổ chức trung gian trên thị trường.

Theo báo cáo trên, tính đến cuối tháng 10/2009, thị trường đã có 46 công ty quản lý quỹ được cấp phép hoạt động (do 1 công ty đã giải thể tháng 7/2009) với tổng số vốn điều lệ là gần 1.835 tỷ đồng (năm 2009 chỉ có 4 công ty được thành lập mới); có 20 quỹ đầu tư chứng khoán (4 quỹ công chúng và 16 quỹ thành viên) với tổng số vốn huy động là 12.757 tỷ đồng (1 quỹ giải thể và 1 quỹ tăng vốn); và 29 văn phòng đại diện đang hoạt động.

Ủy ban Chứng khoán cũng cho biết, trong năm 2009, hoạt động của các công ty chứng khoán đã có những dấu hiệu khả quan hơn do sự phục hồi của thị trường và giá trị giao dịch trên thị trường ngày càng tăng.

Do nhiều nhà đầu tư quay lại thị trường, số lượng tài khoản tăng lên đáng kể, nên bộ máy nhân sự của các công ty chứng khoán cũng đã tăng lên và đang dần hoàn thiện. Số lượng tài khoản tính đến cuối tháng 10/2009 là 766.725 tài khoản (trong đó nhà đầu tư có tổ chức là 3.147 tài khoản và nhà đầu tư cá nhân là 763.578 tài khoản), tăng khá mạnh so với đầu năm.

Về hoạt động nghiệp vụ của các công ty chứng khoán, tổng giá trị giao dịch 9 tháng đầu năm là 1.085.265 tỷ đồng, bình quân giá trị giao dịch 1 tháng là 108.526 tỷ đổng; tổng phí môi giới 9 tháng đầu năm là 1.950.635 tỷ đồng. Số công ty chứng khoán thua lỗ giảm từ 62 công ty xuống còn trên 20 công ty.

Hà Nội: Thưởng tết cao nhất 337 triệu đồng

Mức thưởng cao nhất dịp Tết Canh Dần thuộc về khu vực doanh nghiệp FDI…

Nhiều doanh nghiệp có mức thưởng tết cao hơn năm trước – Ảnh: Việt Tuấn.

Sở Lao động – Thương binh và Xã hội Hà Nội vừa cho biết, bước đầu đã nắm được tình hình thưởng Tết Canh Dần của những doanh nghiệp đóng trên địa bàn thành phố. Theo đó, mức thưởng cao nhất là 337 triệu đồng.

Đây cũng là mức thưởng cao nhất tại khu vực doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (FDI), trong khi mức thấp nhất của khối này là 100.000 đồng/người. Mức thưởng bình quân của loại hình doanh nghiệp FDI là 3.363.000 đồng/người, tăng 6% so với năm 2008 (3.170.000/người).

Đối với khu vực doanh nghiệp Nhà nước, mức thưởng Tết cao nhất là 25 triệu đồng/người, thấp nhất là 1,1 triệu đồng, bình quân 1.860.000 đồng.

Với loại hình doanh nghiệp hoạt động theo Luật Doanh nghiệp, mức thưởng tết cao nhất là 50 triệu đồng/người, thấp nhất là 200 nghìn đồng/người, bình quân 1.825.000 đồng.

Báo cáo của sở này cũng cho biết, thu nhập bình quân năm 2009 của doanh nghiệp Nhà nước là 2,8 triệu đồng/người/tháng. Trong đó tiền lương chiếm khoảng hơn 90% thu nhập, tăng 11,3 % so với năm 2008. Đối với các doanh nghiệp Nhà nước khoảng cách chênh lệch giữa các doanh nghiệp không lớn, khoảng 3,7 lần.

Doanh nghiệp có mức thu nhập bình quân cao nhất trên 6 triệu đồng/người/tháng (tập trung vào các ngành dịch vụ), doanh nghiệp có mức thu nhập bình quân thấp nhất là 1,6 triệu đồng (tập trung vào doanh nghiệp dệt, sản xuất giấy…).

Người có mức lương cao nhất ở khối doanh nghiệp FDI là 140 triệu đồng/tháng và người có mức lương thấp nhất là 1,1 triệu đồng/tháng.

Tin vắn chứng khoán ngày 31/12

Những thông tin đáng chú ý ngày 31/12/2009 về doanh nghiệp trên thị trường chứng khoán Việt Nam…

Từ ngày 6/1 – 6/4/2010, Tổng công ty Cổ phần Đầu tư Phát triển Xây dựng (mã DIG) đăng ký mua 4 triệu cổ phiếu làm cổ phiếu quỹ.

Những thông tin đáng chú ý ngày 31/12/2009 về doanh nghiệp trên thị trường chứng khoán Việt Nam.

* Ngày 6/1/2010, 12.613.472 cổ phiếu của Công ty Cổ phần Mía đường Nhiệt điện Gia Lai (mã SEC-HOSE) chính thức giao dịch trên HOSE với giá tham chiếu trong ngày giao dịch đầu tiên là18.000 đồng. Biên độ dao động giá trong ngày giao dịch đầu tiên là +/- 20% so với giá tham chiếu.

* Ngày 8/1/2010, 940.329 cổ phiếu phát hành thêm của Công ty Cổ phần Siêu Thanh (mã ST8-HOSE) chính thức giao dịch trên HOSE với tổng giá trị chứng khoán niêm yết là 9.403.290.000 đồng. Đây là số cổ phiếu phát hành để trả cổ tức cho cổ đông hiện hữu theo Thông báo số 629/TB-SGDHCM ngày 28/10/2009.

* Ngày 20/1/2010, 18.450.000 cổ phiếu của Công ty Cổ phần Xây dựng Cotec (mã CTD-HOSE) chính thức giao dịch trên HOSE với giá tham chiếu trong ngày giao dịch đầu tiên là 95.000 đồng/cổ phiếu. Biên độ dao động giá trong ngày giao dịch đầu tiên là +/- 20% so với giá tham chiếu.

* Từ ngày 31/12/2009 – 28/2/2010, Công ty Cổ phần Đầu tư và Thương mại Điện Quang, tổ chức có liên quan đến Hội đồng Quản trị Công ty Cổ phần Bóng Đèn Điện Quang (mã DQC-HOSE) đăng ký mua 50.000 cổ phiếu, nâng số cổ phiếu sẽ nắm giữ lên 509.840 cổ phiếu, chiếm 2,76% vốn điều lệ, nhằm đầu tư tài chính.

* Từ ngày 4/1/2010 – 30/4/2010, bà Hoàng Thị Diễm, vợ ông Thái Văn Can – Trưởng ban kiểm soát Công ty Cổ phần Vận tải và Thuê tàu biển Việt Nam (mã VST-HOSE) đăng ký bán 20.000 cổ phiếu, số cổ phiếu sẽ nắm giữ còn 0 cổ phiếu, nhằm cân đối tài chính gia đình.

* Từ ngày 6/1/2010 – 6/4/2010, Tổng công ty Cổ phần Đầu tư Phát triển Xây dựng (mã DIG-HOSE) đăng ký mua 4.000.000 cổ phiếu làm cổ phiếu quỹ, nâng số cổ phiếu quỹ sở hữu lên 4.000.000 cổ phiếu.

* Từ ngày 31/12/2009 – 26/2/2010, bà Vũ Thị Thu Hà, chị ruột ông Vũ Đức Thịnh – Kế toán trưởng Công ty Cổ phần Dầu Thực vật Tường An (mã TAC-HOSE) đăng ký mua 20.000 cổ phiếu, số cổ phiếu đang nắm giữ là 20.000 cổ phiếu.

* Từ ngày 31/12/2009 – 8/1/2010, ông Nguyễn Phú Cường – Ủy viên Hội đồng Quản trị Công ty Cổ phần Đầu tư Phát triển Đô thị và Khu Công nghiệp Sông Đà (mã SJS-HOSE) đăng ký bán 1.177.120 quyền mua, số lượng cổ phiếu nắm giữ sau khi thực hiện bán quyền mua là 2.354.240 cổ phiếu, chiếm 2,94% vốn điều lệ.

* Tổng công ty Cổ phần Phát triển đô thị Kinh Bắc (mã KBC-HOSE) thông báo ngày 28/12/2009, KBC đã phát hành thành công 5 triệu trái phiếu KBCbond005, với tổng giá trị phát hành là 500 tỷ đồng, nhằm mục đích tài trợ vốn cho Dự án Khu đô thị mới Quang Châu giai đoạn 1 – Bắc Giang.

* Tính đến ngày 18/12/2009, Deutsche Bank Aktiengesellschaf, Deutsche Investment Management Americas Inc, cổ đông lớn của Công ty Cổ phần Phát triển Nhà Thủ Đức (mã TDH-HOSE) thông báo: Deutsche Bank Aktiengesellschaf đã bán 190.910 cổ phiếu; Deutsche Investment Management Americas Inc đã mua 12.000 cổ phiếu, nâng số cổ phiếu nắm giữ lên 1.774.181 cổ phiếu, chiếm 7,03% vốn điều lệ. Trong đó: Deutsche bank Aktiengesellschaf nắm giữ 671.201 cổ phiếu, chiếm 2,66% vốn điều lệ; Deutsche Investment Management Americas Inc nắm giữ 1.102.980 cổ phiếu, chiếm 4,37% vốn điều lệ.

* Công ty Cổ phần Kim khí Tp.HCM (mã HMC-HOSE) thông báo Dự án cao ốc văn phòng 189 Nguyễn Thị Minh Khai đã xây dựng xong phần thô và đang trong quá trình hoàn thiện, dự kiến sẽ bàn giao đưa vào sử dụng trong tháng 10/2010. Dự án cao ốc Đinh Tiên Hoàng đã xây dựng đến sàn tầng 12 (tầng cuối cùng). Dự kiến dự án sẽ hoàn tất và tòa nhà được bàn giao đưa vào sử dụng trong tháng 4/2010.

* Đại hội cổ đông bất thường Công ty Cổ phần Xuất nhập khẩu Lâm thủy sản Bến Tre (mã FBT-HOSE) công bố hoãn thời gian phát hành cổ phiếu thưởng từ nguồn thặng dư vốn và niêm yết bổ sung vốn điều lệ tăng thêm từ việc phát hành cổ phiếu thưởng theo nghị quyết đại hội đồng cổ đông thường niên năm 2009 cho đến đại hội đồng cổ đông thường niên năm 2010 sẽ quyết định.

* Từ ngày 24/11/2009 – 23/12/2009, bà Đặng Thanh Nga – Kế toán trưởng Công ty Cổ phần Đại Châu (mã DCS-HNX) đăng ký bán nhưng không bán được, số cổ phiếu đang nắm giữ là 5.562 cổ phiếu, nhằm mua sắm đồ dùng gia đình.

* Từ ngày 29/12/2009 – 24/1/2010, bà Đặng Thanh Nga – Kế toán trưởng Công ty Cổ phần Đại Châu (mã DCS-HNX) đăng ký bán 5.000 cổ phiếu, số cổ phiếu sẽ nắm giữ còn 562 cổ phiếu, nhằm mua sắm đồ dùng gia đình.

* Từ ngày 29/12/2009 – 29/1/2010, ông Nguyễn Hữu Đường – thành viên Hội đồng Quản trị Công ty Cổ phần Nhựa Đà Nẵng (mã DPC-HNX) đăng ký mua 10.000 cổ phiếu, nâng số cổ phiếu sẽ nắm giữ lên 10.200 cổ phiếu, nhằm giao dịch cổ phiếu trên thị trường.

* Từ ngày 30/12/2009 – 30/1/2010, bà Nguyễn Thị Bình, vợ ông Nguyễn Khắc Dụng – thành viên Hội đồng Quản trị Công ty Cổ phần Kỹ thuật điện Toàn Cầu (mã GLT-HNX) đăng ký bán 30.000 cổ phiếu, số cổ phiếu dự kiến nắm giữ còn 3.290 cổ phiếu, nhằm đáp ứng nhu cầu tài chính cá nhân.

* Từ ngày 30/12/2009 – 30/1/2010, Nguyễn Hải Trường, con ông Nguyễn Khắc Dụng – thành viên Hội đồng Quản trị Công ty Cổ phần Kỹ thuật điện Toàn Cầu (mã GLT-HNX) đăng ký bán 17.000 cổ phiếu, số cổ phiếu dự kiến nắm giữ còn 790 cổ phiếu, nhằm đáp ứng nhu cầu tài chính cá nhân.

* Từ ngày 30/12/2009 – 27/1/2010, ông Nguyễn Khắc Hùng – thành viên Hội đồng Quản trị Công ty Cổ phần Sông Đà 8 (mã SD8-HNX) đăng ký bán 1.800 cổ phiếu, số cổ phiếu sẽ nắm giữ còn 0 cổ phiếu, nhằm giải quyết nhu cầu tài chính cá nhân.

* Ngày 28/12/2009, Sở Giao dịch Chứng khoán Hà Nội đã chấp thuận về nguyên tắc cho Công ty Cổ phần Ống thép Việt – Đức VG PIPE (mã VGS-HNX) được niêm yết bổ sung 25 triệu cổ phiếu phát hành trong năm 2009 với giá trị chứng khoán niêm yết bổ sung theo mệnh giá là 250 tỷ đồng.

* Từ ngày 14/12/2009 – 24/12/2009, Công ty Cổ phần Chứng khoán Sài Gòn, cổ đông lớn của Công ty Cổ phần Xây Dựng và Kinh doanh Địa ốc Tân Kỷ (mã TKC-HNX) đã bán 372.200 cổ phiếu, đã mua 5.000 cổ phiếu (giao dịch sửa lỗi theo thông báo số 2740/TB/VSD ngày 23/12/2009 của Trung tâm Lưu ký Chứng khoán), nâng số cổ phiếu nắm giữ lên 19.050 cổ phiếu, chiếm 6,384%/vốn điều lệ.

* Từ ngày 22/12/2009 – 24/12/2009, ông Phạm Văn Lương – Tổng giám đốc Công ty Cổ phần Tasco (mã HUT-HNX) đã mua 226 cổ phiếu, nâng số cổ phiếu nắm giữ lên 140.226 cổ phiếu, nhằm mua quyền mua cổ phiếu đợt phát hành ra công chúng để tăng số cổ phần sở hữu.

* Từ ngày 22/12/2009 – 24/12/2009, ông Nguyễn Văn Đông – Chủ tịch Hội đồng Quản trị Công ty Cổ phần Tasco (mã HUT-HNX) đã bán 13.725 cổ phiếu, số cổ phiếu nắm giữ còn 13.725 cổ phiếu, nhằm giải quyết tài chính.

* Từ ngày 22/12/2009 – 24/12/2009, ông Phạm Quang Dũng – Chủ tịch Hội đồng Quản trị Công ty Cổ phần Tasco (mã HUT-HNX) đã mua 340.778 cổ phiếu, nâng số cổ phiếu nắm giữ lên 751.730 cổ phiếu, nhằm mua quyền mua cổ phiếu đợt phát hành ra công chúng để tăng số cổ phần sở hữu.

* Từ ngày 17/12/2009 – 23/12/2009, Công ty Cổ phần Chứng khoán Rồng Việt, cổ đông lớn của Công ty Cổ phần Vimeco (mã VMC-HNX) đã mua 61.800 cổ phiếu, nâng số cổ phiếu nắm giữ lên 386.700 cổ phiếu, chiếm 5,94 % vốn điều lệ.

* Từ ngày 23/11/2009 – 16/12/2009, ông Vũ Tiến Dương – Trưởng ban kiểm soát Công ty Cổ phần Dịch vụ Kỹ thuật Viễn thông (mã TST-HNX) đã bán 5.000 cổ phiếu, số cổ phiếu nắm giữ còn 51.500 cổ phiếu.

* Từ ngày 13/11/2009 – 13/12/2009, ông Phan Cao Hiệp – Phó giám đốc Công ty Cổ phần Điện tử Bình Hòa (mã VBH-HNX) đăng ký bán 1.000 cổ phiếu, nhưng không bán được, số cổ phiếu đang nắm giữ là 2.000 cổ phiếu.

* Từ ngày 13/11/2009 – 13/12/2009, bà Lê Thị Dung, vợ ông Phan Cao Hiệp – Phó giám đốc Công ty Cổ phần Điện tử Bình Hòa (mã VBH-HNX) đăng ký bán 1.000 cổ phiếu, nhưng không bán được, số cổ phiếu đang nắm giữ là 1.000 cổ phiếu.

* Ngày 18/12/2009, Công ty Cổ phần Chứng khoán Sao Việt, cổ đông lớn của Công ty Cổ phần Đầu tư và Phát triển Điện miền Trung (mã SEB-HNX) đã mua 140.500 cổ phiếu, nâng số cổ phiếu nắm giữ lên 1.024.100 cổ phiếu, chiếm 8,2% số lượng cổ phiếu lưu hành.

* Ngày 2/1/2010, Công ty Cổ phần Sách giáo dục tại thành phố Hà Nội (mã EBS-HNX) lấy ý kiến về việc bầu bổ sung 2 thành viên Hội đồng Quản trị với tỷ lệ thực hiện: 1 cổ phiếu – 1 quyền biểu quyết.

* Dự kiến tháng 2/2010, Công ty Cổ phần Chứng khoán Kim Long (mã KLS-HNX) sẽ tổ chức họp đại hội đồng cổ đông thường niên với tỷ lệ thực hiện: 1 cổ phần – 1 quyền biểu quyết.

* Từ ngày 26/11/2009 – 22/12/2009, ông Trịnh Đức Tới – thành viên Ban kiểm soát Công ty Cổ phần Dabaco Việt Nam (mã DBC-HNX) đã bán 35.000 cổ phiếu, số cổ phiếu nắm giữ còn 10.000 cổ phiếu.

* Ngày 2/12/2009, ông Phạm Phú Cường – thành viên Hội đồng Quản trị Công ty Cổ phần May Phú Thịnh Nhà Bè (mã NPS-HNX) đăng ký bán 34.000 cổ phiếu, nhưng không bán được, số cổ phiếu đang nắm giữ là 34.870 cổ phiếu, nhằm giải quyết nhu cầu tài chính cá nhân.

Giá vàng tăng 300.000 đồng/lượng

Giao dịch tại một số sàn vàng sáng nay dường như chưa chịu nhiều tác động từ quyết định đóng cửa sàn vàng…

So với giá chốt của năm 2008, giá vàng giao ngay thị trường thế giới hiện đã tăng khoảng 24%, so với mức tăng gần 50% của giá vàng trong nước – Ảnh: AP.

Giá vàng trong nước phục hồi lên mức 26,75 triệu đồng/lượng, dù giá vàng thế giới biến động yếu ớt khi thời điểm kết thúc năm 2009 đang đến gần. So với cuối năm ngoái, giá vàng trong nước hiện đã tăng gần gấp rưỡi.

Lúc 10h30 sáng nay, giá vàng miếng các thương hiệu trong nước đứng phổ biến ở mức quanh 26,60 triệu đồng/lượng (mua vào) và 26,70 – 27,75 triệu đồng/lượng (bán ra), tăng khoảng 300.000 đồng/lượng so với sáng qua.

Công ty Vàng bạc đá quý SJC Hà Nội công bố giá vàng miếng SJC ở các mức 26,60 triệu đồng/lượng (mua vào) và 26,72 triệu đồng/lượng (bán ra). Giá vàng Rồng Thăng Long giao dịch tại Công ty Vàng bạc đá quý Bảo Tín Minh Châu tương ứng lần lượt là 26,66 triệu đồng/lượng và 26,75 triệu đồng/lượng.

Hệ thống Sacombank trên toàn quốc niêm yết giá vàng SBJ ở các mức 26,59 triệu đồng/lượng (mua vào) và 26,73 triệu đồng/lượng (bán ra). Ở thời điểm mở cửa, giá vàng SBJ là 26,35 triệu đồng/lượng và 26,55 triệu đồng/lượng.

Giá vàng SJC do Công ty Vàng bạc đá quý Sài Gòn (SJC) công bố cho thị trường Tp.HCM là 26,60 triệu đồng/lượng (mua vào) và 26,70 triệu đồng/lượng (bán ra).

Đáng chú ý, sự phục hồi sáng nay của giá vàng trong nước diễn ra ở thời điểm giá vàng thế giới ít biến động, lực cầu vàng vật chất trong nước chưa thực sự mạnh. Lý giải về sự tăng giá này, giới kinh doanh vàng vẫn dẫn giải lý do hoạt động mua vàng của người dân đang chiếm ưu thế so với bán ra.

Sau nhiều kỷ lục được thiết lập trong năm, giá vàng trong nước đang khép lại một năm đầy biến động ở mức giá dưới 27 triệu đồng/lượng. Cùng thời điểm này năm ngoái, giá vàng ở mức chưa đầy 18 triệu đồng/lượng. Như vậy, trong 12 tháng qua, giá vàng trong nước đã tăng gần gấp rưỡi. Trong năm 2008, giá vàng thị trường trong nước chỉ tăng 11%.

Giao dịch tại một số sàn vàng sáng nay dường như chưa chịu nhiều tác động từ quyết định đóng cửa sàn vàng (chậm nhất là 90 ngày kể từ 30/12/2009) mà Chính phủ đưa ra hôm qua. Tại sàn SBJ, không khí giao dịch vẫn trầm như những phiên trước đó, với hơn 100.000 lượng vàng được khớp lệnh tính tới thời điểm 11h trưa. Giá khớp lệnh tới thời điểm này trên sàn SBJ dao động trong khoảng 24,39-24,61 triệu đồng/lượng.

Trong khi đó, trên sàn ACB, khối lượng giao dịch sụt giảm mạnh, về mức tển 3.500 lượng tính tới thời điểm gần 12h trưa. Ở thời kỳ đỉnh cao, không ít ngày có tới 500.000-600.000 lượng vàng được khớp lệnh thành công ở sàn này.

Theo Quyết định Thủ tướng Chính phủ yêu cầu không được tổ chức và thực hiện việc kinh doanh vàng trên tài khoản ở trong nước dưới mọi hình thức. Chậm nhất là 90 ngày kể từ ngày 30/12/2009, mọi hoạt động liên quan đến kinh doanh sàn giao dịch vàng và kinh doanh vàng trên tài khoản ở trong nước phải chấm dứt hoạt động (trước ngày 30/3/2010).

Trước thời điểm chuyển tiếp sang năm 2010, giá vàng thế giới đang có những biến động yếu ớt, tính thanh khoản của thị trường cũng ở mức thấp do giới đầu tư bước vào kỳ nghỉ lễ. Kết thúc phiên giao dịch đêm qua tại thị trường New York, giá vàng giao ngay giảm 3,8 USD/oz (0,4%), đóng cửa ở 1.093,1 USD/oz.

Tại thị trường châu Á trong phiên giao dịch sáng nay, giá vàng phục hồi lên mức 1.096-1.098 USD/oz.

So với giá chốt của năm 2008, giá vàng giao ngay thị trường thế giới hiện đã tăng khoảng 24%, so với mức tăng gần 50% của giá vàng trong nước. So với giá vàng trong nước, giá vàng thế giới quy đổi (tính theo giá USD thị trường tự do, đã cộng thêm 1% thuế nhập khẩu và phí gia công khoảng 30.000 đồng/lượng) khoảng 700.000 đồng/lượng.

Theo nhận định của giới phân tích, giá vàng thế giới sẽ khép lại năm tăng giá thứ 9 liên tục này quanh mốc giá 1.100 USD/oz. Tạm thời, đà mạnh lên của USD đang gây áp lực giảm giá ngắn hạn cho vàng, nhưng kim loại quý này có khả năng tăng giá trở lại trong nửa đầu năm 2010, một khi USD trở lại với xu thế mất giá.

Giá dầu thô thế giới sáng nay đã bước sang ngày tăng thứ 7 liên tục. Tại thị trường châu Á sáng nay, giá dầu thô ngọt nhẹ đã tiến sát mốc 80 USD/thùng.

Hãng tin tài chính Bloomberg dẫn một báo cáo của Barclays Capital cho hay, giá dầu thô thế giới năm nay bình quân ở mức 62 USD/thùng. Công ty này dự báo, giá dầu thế giới năm tới có thể tăng thêm 37% theo sự phục hồi của kinh tế thế giới, lên mức trung bình 85 USD/thùng.

Năm nay, giá dầu thô đã tăng gần 80%, đánh dấu năm tăng mạnh nhất trong thập kỷ. So với hồi đầu thập niên, giá “vàng đen” đã tăng gấp 3 lần. Đỉnh cao mọi thời đại của giá dầu hiện là mức 147,27 USD/thùng thiết lập vào năm 2008.

WB cho vay 500 triệu USD cải cách đầu tư công Việt Nam

Lãi suất áp dụng đối với khoản vay là Libor (6 tháng) theo đơn vị tiền vay cộng biên độ vay dao động 0,17%…

Khoản vay từ WB có thời hạn 25 năm, ân hạn 10 năm. Lãi suất áp dụng đối với khoản vay là Libor (6 tháng) theo đơn vị tiền vay cộng biên độ vay dao động 0,17%; phí quản lý 0,25% tổng số tiền vay.

Chiều ngày 30/12, thỏa thuận tín dụng trị giá 500 triệu USD cho khoản vay từ Ngân hàng Thế giới (WB) nhằm hỗ trợ chương trình cải cách đầu tư công tại Việt Nam đã chính thức được hai bên ký kết.

Đây là khoản vay lớn nhất của WB cho Việt Nam từ trước đến nay, cũng là khoản vay đầu tiên từ Ngân hàng Tái thiết và Phát triển quốc tế (IBRD) thuộc nhóm Ngân hàng Thế giới.

Thông cáo báo chí phát đi từ WB cho hay, khoản vay lần này có thời hạn vay 25 năm, ân hạn 10 năm. Lãi suất áp dụng đối với khoản vay là Libor (6 tháng) theo đơn vị tiền vay cộng biên độ vay dao động 0,17%; phí quản lý 0,25% tổng số tiền vay.  

“Chúng tôi khuyến khích Chính phủ tiếp tục thực hiện cải cách và rất vui khi được hỗ trợ họ kịp thời cả về tài chính và kỹ thuật”, bà Victoria Kwakwa, Giám đốc Ngân hàng Thế giới tại Việt Nam nói.

Đây là khoản vay đầu tiên trong hai khoản vay nhằm hỗ trợ hoạt động đầu tư công ở Việt Nam, thông qua việc xây dựng một khuôn khổ pháp lý giúp quản lý đầu tư công hiệu quả; củng cố chu trình của dự án; cải thiện tính minh bạch; giám sát, đánh giá dự án; và hỗ trợ triển khai mô hình đối tác công – tư (PPP) tại Việt Nam…

* IBRD là cơ quan cho vay lãi suất thấp nhằm giảm nghèo ở các nước có thu nhập trung bình, hoặc các quốc gia nghèo nhưng có uy tín tín dụng. Trước đó, tất cả các khoản hỗ trợ của WB cho Việt Nam đều từ nguồn tín dụng ưu đãi không lãi suất (IDA).

Thập kỷ bùng nổ của các thị trường chứng khoán mới nổi

Đối với các nhà đầu tư dài hạn, các thị trường chứng khoán đang nổi lên đem đến cho họ nhiều cơ hội…

Biểu đồ so sánh biến động của thị trường chứng khoán Nga, Brazil, Ấn Độ, Trung Quốc và Mỹ từ năm 2000 đến 2009 – Nguồn: NYT/Bloomberg.

Đối với thị trường chứng khoán Mỹ, thập kỷ đầu tiên của thế kỷ 21 này là một “thập kỷ mất mát”. Tuy nhiên, đối với phần lớn các thị trường đang phát triển, đây lại là một thập kỷ tăng trưởng bùng nổ của các chỉ số và lượng vốn đầu tư.

Sự tăng trưởng quá nhanh và mạnh này của các thị trường chứng khoán đang nổi lên khiến không ít nhà chuyên môn lo ngại rằng, tốc độ tăng trưởng như vậy khó mà duy trì được lâu.

Mặc dù thị trường chứng khoán Mỹ nói chung giảm khoảng 1/5 giá trị trong 10 năm qua, các thị trường đang nổi lên như Brazil, Nga, Trung Quốc và Ấn Độ vẫn tăng trưởng với tốc độ 2 hoặc thậm chí 3 con số.

Sàn chứng khoán PFTS Stock Exchange của Ukraine mới được thành lập vào năm 1997, nhưng trong thập kỷ qua, chỉ số của sàn này đã tăng hơn 1.350%. Tại Peru, thị trường chứng khoán tăng 660% trong cùng thời kỳ. Chỉ số Sensex của thị trường Ấn Độ tỏ ra “khiêm nhường” hơn khi tăng 240%.

Đối với nhiều người, những con số này minh chứng cho những thay đổi sâu sắc đang diễn ra trong nền kinh tế toàn cầu. Trong đó, các khoản đầu tư dễ dàng đi xuyên qua các biên giới và vượt qua các múi giờ chỉ bằng một cú nhấp chuột đơn giản trên máy tính. Thêm vào đó, tiữa lúc chờ đợi sự phục hồi hoàn toàn của kinh tế Mỹ, giới đầu tư trên thế giới đang đổ tiền vào các thị trường có tốc độ tăng trưởng cao ở châu Á, Nam Mỹ, Nga và các nước Liên xô cũ.

Ông Allan Conway, người đứng đầu bộ phận các thị trường cổ phiếu mới nổi tại công ty quản lý tiền tệ Schroders có trụ sở tại London cho rằng, sự nổi lên của nền kinh tế nhóm các nước BRIC (chỉ Brazil, Nga, Ấn Độ và Trung Quốc) hiện nay tương tự như sự nổi lên của kinh tế Nhật thời hậu chiến tranh.

Tuy nhiên, trong “cơn sốt” chứng khoán tại các thị trường đang phát triển này, nhiều người có quan điểm lạc quan vẫn tỏ ra thận trọng. Từ thế kỷ 19 tới nay, các thị trường mới nổi đã trải qua không ít những thời kỳ tăng trưởng bùng nổ, để rồi sau đó bước vào những đợt sụt giảm chóng mặt.

Các thị trường này đã lao dốc kinh hoàng vào năm 1997, khi khủng hoảng tài chính với phản ứng dây chuyền của phá giá đồng tiền, phá sản và suy thoái làm rung chuyển châu Á. Vào năm 1998, thị trường Nga sụt giảm hơn 80% sau khi nước này mất khả năng thanh toán nợ.

Gần đây hơn, vào năm 2008, các thị trường mới nổi cũng đã “chìm” theo các thị trường khác trên toàn cầu khi các quỹ đầu tư ồ ạt tháo chạy khỏi các địa chỉ có độ rủi ro cao. Tuy nhiên, sang năm 2009, các thị trường này lại trở thành điểm sáng, với chỉ số MSCI Emerging Markets tăng 73%, so với mức tăng 25% của chỉ số S&P 500 của thị trường chứng khoán Mỹ.

Sau khi các thị trường mới nổi tăng mạnh trong năm 2009, ít người nghĩ tới việc các thị trường này có thể giảm mạnh trở lại trong thời gian trước mắt. Từ sau khủng hoảng tài chính 1998, một số nước đang phát triển đã tăng dự trữ ngoại hối, khắc phục thâm hụt ngân sách và thương mại. Ngoài ra, cùng với sự tăng trưởng kinh tế, các nhà đầu tư trong nước đã trở thành một lực lượng hỗ trợ lớn trên thị trường chứng khoán tại các nước này.

Với mức lãi suất thấp trên khắp thế giới hiện nay, các công ty được tiếp cận với nguồn vốn giá rẻ. Giá hàng hóa cơ bản khởi sắc sau thời kỳ khủng hoảng cũng giúp hỗ trợ tích cực cho thị trường cổ phiếu và trái phiếu tại các nước xuất khẩu các mặt hàng này.

Mặc dù vậy, những vấn đề về tài chính mà tiểu vương quốc Dubai gặp phải gần đây sau khi tập đoàn đầu tư Dubai World phải tuyên bố hoãn nợ đã nhắc nhở mọi người rằng, tại những nền kinh tế có tốc độ tăng trưởng chóng mặt, thị trường có thể lên và xuống rất nhanh.

Ông Mark Mobius, Chủ tịch kiêm Giám đốc điều hành của quỹ đầu tư Franklin Templeton Investment có trụ sở ở California, Mỹ, đồng thời là một chuyên gia về đầu tư vào các thị trường mới nổi, cho rằng, mặc dù các thị trường này vẫn còn khả năng tăng tiếp, nhưng nửa đầu năm 2010 sẽ là một quãng thời gian không hề dễ dàng. “Xu hướng tăng vẫn sẽ tiếp diễn, nhưng những đợt điều chỉnh lớn với biên độ lên tới 20% có thể xảy ra”, ông Mobius nói.

Một số chuyên gia khác lo ngại rằng, những bong bóng tài sản tương tự như khối bong bóng đã hình thành và vỡ tung trên thị trường địa ốc Mỹ đang dần to lên tại một số thị trường như Trung Quốc và Hồng Kông. Một số khác thì lo lắng trước những rủi ro từ giá hàng hóa cơ bản nhiều biến động, cũng như việc thời kỳ lãi suất siêu thấp hiện nay rồi đến lúc cũng sẽ kết thúc.

Ông Leon Goldfeld, Giám đốc đầu tư tại HSBC Global Asset Management ở Hồng Kông, cho hay, HSBC đã giảm đầu tư vào thị trường chứng khoán châu Á, đồng thời dự báo, thị trường chứng khoán ở khu vực này sẽ giảm 10-15% vào đầu năm 2010. Theo ông Goldfeld, sau khi thị trường điều chỉnh giảm như vậy, những cơ hội tốt để mua vào sẽ xuất hiện.

Đối với các nhà đầu tư dài hạn, các thị trường chứng khoán đang nổi lên đem đến cho họ nhiều cơ hội. Nhìn chung, các nước đang phát triển có mức nợ chính phủ, nợ doanh nghiệp và nợ hộ gia đình thấp hơn ở các nước phát triển. Tốc độ tăng trưởng kinh tế ở đây lại cao hơn ở các nước công nghiệp. Merrill Lynch dự báo rằng, các nền kinh tế mới nổi sẽ tăng trưởng 6,3% trong năm 2010, so với mức tăng 4,4% dự kiến của kinh tế toàn cầu.

Ngoài ra, các thị trường đang phát triển cũng có ưu thế hơn các thị trường phát triển ở một số phương diện khác. Theo Morgan Stanley, giá trị nhập khẩu của các nước BRIC có khả năng đã lần đầu tiên trong lịch sử vượt kim ngạch nhập khẩu vào Mỹ trong năm 2009.

Ở thời điểm hiện nay, các nền kinh tế đang phát triển là đầu tàu tăng trưởng của kinh tế thế giới. Các nền kinh tế này gần như đóng góp toàn bộ sự tăng trưởng trong sản lượng kinh tế toàn cầu năm nay, vì các nền kinh tế phát triển hầu hết đều suy giảm hoặc đi ngang. Theo ông Conway, thậm chí cả khi quá trình phục hồi của các nền kinh tế phát triển được hoàn tất vào năm 2010, thì các nền kinh tế đang nổi lên cũng sẽ chiếm 70-75% sự tăng trưởng sản lượng toàn cầu trong tương lai gần.

Ngoài ra, các nước đang phát triển còn được dự báo là sẽ đóng góp một vai trò lớn hơn trong nền kinh tế toàn cầu. Theo Morgan Stanley, các nền kinh tế này, bao gồm cả Trung Đông, sẽ chiếm 36% GDP toàn cầu trong năm 2010, từ mức 21% trong năm 1999.

Nhưng con số trên tạo ra một sức hấp dẫn lớn đối với giới đầu tư. Theo thống kê của hãng tư vấn EPFR Global, các quỹ tập trung vào thị trường chứng khoán tại các nền kinh tế mới nổi đã thu hút được số tiền kỷ lục 75,4 tỷ USD trong năm nay, vượt xa kỷ lục cũ là 54 tỷ USD thiết lập vào năm 2007.

Tuy vậy, các thị trường mới nổi hiện mới chỉ chiếm một phần nhỏ bé trong danh mục đầu tư của giới đầu tư tại Mỹ và châu Âu, hai trung tâm quản lý tài sản hàng đầu thế giới. Chưa đầy 3% tài sản nằm trong tay các nhà quản lý quỹ tại Mỹ được đầu tư vào các thị trường mới nổi. Theo các chuyên gia, con số này có thể tăng gấp hai lần trong vòng 5 năm tới.

Hiện nay, ngay cả những nhà đầu tư có quan điểm thận trọng cũng muốn nhảy vào các thị trường mới nổi, nhất là khi triển vọng của thị trường Mỹ và châu Âu có phần kém tươi sáng hơn. Sau một thập kỷ ảm đạm của thị trường chứng khoán Mỹ, các thị trường đang phát triển rõ ràng có lực hút không nhỏ, mặc dù các thị trường này có lịch sử đầy biến động.

(Theo New York Times)

Tăng thuế nhập khẩu thức ăn chăn nuôi: Chỉ thiệt nông dân?

Từ ngày 1/1/2010 nhiều loại nguyên liệu làm thức ăn chăn nuôi sẽ đồng loạt tăng thuế nhập khẩu…

Người chăn nuôi lo lắng khi thuế nhập khẩu thức ăn chăn nuôi tăng.

Từ ngày 1/1/2010 nhiều loại nguyên liệu làm thức ăn chăn nuôi sẽ  đồng loạt tăng thuế nhập khẩu, với mức tăng phổ biến khoảng 5%. Cụ thể bắp, bột cá, bột xương thịt, cám mì từ 0% lên 5%; bột mì từ 10% lên 15%, dầu cá từ 5% lên 7%…  

Mặc dù hiện chưa chính thức áp dụng biểu mẫu thuế mới nhưng trên thị trường ở Tp.HCM và các tỉnh miền Đông Nam Bộ giá bán thức ăn chăn nuôi đã bắt đầu rục rịch tăng, đẩy giá một số mặt hàng thực phẩm tiêu dùng tăng theo. Nông dân bắt đầu lo lắng, người tiêu dùng cũng lo ngại.

Hiện tại các chợ ở trên địa bàn Tp.HCM, giá các loại thực phẩm như thịt heo, thịt gà, thịt bò, giò chả… đã bắt đầu tăng rõ rệt dù Tết Nguyên đán vẫn còn hơn 1 tháng nữa mới tới.

Cần điều chỉnh lại mức thuế

Năm 2009 đã là một năm khó khăn đối với người chăn nuôi trong nước. Hầu hết số hộ chăn nuôi nhỏ lẻ ở  các quận, huyện ngoại thành Tp.HCM đều lỗ, nếu có lời thì là do lấy công làm lợi hoặc nhờ thức ăn thừa của các tiệm ăn cung cấp. Ông Hai Nhật Bổn, một hộ chăn nuôi heo ở KP2, phường Thạnh Xuân, quận 12 cho biết: “Nếu giá thức ăn chăn nuôi mà còn tăng nữa thì nuôi khoảng vài chục con thì lỗ ít, còn nuôi tập trung từ vài trăm con heo, vài ngàn con gia cầm trở lên đều phải lỗ từ 5% đến 10%. Khỏi cần phải tính toán vì hiện giá thức ăn chăn nuôi như lúc này phải nuôi số lượng rất lớn mới có lời”.

Ông Nguyễn Thanh Sơn, Phó cục trưởng Cục Chăn nuôi (Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn) cho rằng: “Thời gian vừa rồi, các doanh nghiệp của chúng ta đã nhập khẩu nguyên liệu thức ăn chăn nuôi đúng vào thời điểm giá nguyên liệu trên thế giới đang tăng cao, thị trường ngoại tệ lại đang biến động, do đó đã lập tức làm giá thức ăn chăn nuôi trong nước tăng lên. Đó là chưa kể tình trạng một số doanh nghiệp biết trước việc tăng thuế suất nhập khẩu đã gom hàng và cố tình đẩy giá lên”.

Theo Cục Chăn nuôi, hiện giá thức ăn chăn nuôi trong nước đã tăng tới 20% so với tháng trước. Với mức tăng thuế nhập khẩu theo biểu mới cộng với mức 5% thuế VAT, nhiều mặt hàng thức ăn chăn nuôi dự báo sẽ tiếp tục biến động vào tháng tới theo chiều hướng tăng. Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn cho biết ngành chăn nuôi ở nước ta phụ thuộc lớn vào nguồn nguyên liệu nhập khẩu, vì nguyên liệu trong nước chỉ đáp ứng được 30% nhu cầu.

Theo ông Lê Bá Lịch, Chủ tịch Hiệp hội thức ăn chăn nuôi, quyết định của Bộ Tài chính về tăng giá nguyên liệu thức ăn chăn nuôi là hết sức vô  lý. Đáng lẽ trước khi ban hành quyết định này, Bộ nên khảo sát, tham khảo ý kiến nông dân, ý kiến của Hiệp hội. Bộ Tài chính làm như vậy chỉ gây thiệt hại cho nông dân. Hiệp hội sẽ sớm trao đổi với Bộ về đề nghị đưa mức thuế này về 0% như năm 2009”.

Ông Lịch cũng cho biết giá thực phẩm trong nước đã ở mức cao so với thực phẩm nhập ngoại. Bởi vậy, nếu giá thực phẩm tiếp tục tăng cao thì sức mua của người tiêu dùng sẽ giảm, nguồn thịt ngoại nhập sẽ lại vào nhiều, nguy cơ về mất an toàn thực phẩm tăng trở lại, người nông dân lại rơi vào vòng luẩn quẩn là không cạnh tranh được với thịt ngoại, lại nhanh chóng bỏ chuồng trại, các doanh nghiệp bán thức ăn chăn nuôi cũng bị ảnh hưởng theo.

Chỉ có nông dân là thiệt

Việc Bộ Tài chính quyết định tăng thuế nhập khẩu đối với nguyên liệu chế biến thức ăn chăn nuôi sẽ tác động ngay lập tức đến người chăn nuôi. Ông Nguyễn Thành Tươi, chủ trang trại chăn nuôi gia súc ở huyện Bến Cát tỉnh Bình Dương bức xúc: “Một câu hỏi được đặt ra, tăng thuế nhập khẩu như thế ai bị thiệt. Doanh nghiệp chế biến thức ăn chăn nuôi hay nông dân chăn nuôi?.

Theo ông Tươi, doanh nghiệp sẽ không bị lỗ mà chỉ có nông dân chăn nuôi là bị thiệt. Bởi nếu giá thành sản xuất thức ăn chăn nuôi bị đội lên do giá nguyên liệu tăng thì các doanh nghiệp sẽ tìm mọi cách đổ hết các khoản thiệt thòi lên đầu nông dân, và cách tốt nhất, nhanh nhất và an toàn nhất không gì hơn là tăng giá bán thức ăn chăn nuôi lên. Nếu thuế nhập khẩu tăng 5% thì số nguyên liệu này về đến trại sẽ tăng lên 10%, như vậy số đầu heo trong trại tôi nuôi chỉ có lỗ và lỗ…”.

Năm 2009, thuế nguyên liệu thức ăn chăn nuôi chỉ là 0% mà rất nhiều doanh nghiệp đã nhập khẩu thịt gia súc, gia cầm và phủ tạng không bảo đảm vệ sinh an toàn thực phẩm gây phản ứng gay gắt trong dư luận xã hội. Năm 2010 thuế nguyên liệu thức ăn chăn nuôi tăng, chắc chắn các doanh nghiệp sẽ tiếp tục nhập khẩu thịt gia súc, gia cầm kém chất lượng, quá thời gian sử dụng.

Như thế, quyết định của Bộ Tài chính không chỉ gây khó khăn cho ngành chăn nuôi trong nước, mà còn tạo điều kiện cho tình trạng vi phạm vệ sinh an toàn thực phẩm phát triển, gây ảnh hưởng sức khỏe người dân.

Thêm tổ chức bảo vệ doanh nghiệp xuất khẩu

Hiệp hội Chủ hàng Việt Nam (VNSC) vừa được thành lập với hơn 200 doanh nghiệp đăng ký tham gia…

Đại hội lần thứ nhất Hiệp hội Chủ hàng Việt Nam.

Đáp ứng mong mỏi của các doanh nghiệp, hiệp hội ngành hàng trên cả nước, Hiệp hội Chủ hàng Việt Nam (VNSC) chính thức được thành lập ngày 30/12/2009 với hơn 200 doanh nghiệp, tổ chức đăng ký tham gia.

Tại Đại hội lần thứ nhất, nguyên Thứ trưởng Bộ Thương mại Trần Đức Minh đã được bầu làm Chủ tịch Hiệp hội. Đồng thời, Phòng Thương mại và công nghiệp Việt Nam (VCCI) đã trao giấy chứng nhận VNSC là thành viên tập thể của VCCI.

Ông Nguyễn Đức Thanh, Chủ tịch Hiệp hội Điều Việt Nam chia sẻ, hàng năm các doanh nghiệp xuất khẩu điều có nhu cầu vận chuyển từ 500 – 550 nghìn tấn bằng container để xuất khẩu đi nhiều thị trường lớn. Tuy nhiên, nếu không có tổ chức đứng ra hậu thuẫn thì các doanh nghiệp trong ngành sẽ gặp rất nhiều khó khăn, bởi các chủ tàu có thể đơn phương áp đặt, tự ý nâng phí lưu kho bãi, cước vận chuyển, hơn nữa, việc vận chuyển còn liên quan đến thời gian giao hàng, uy tín của doanh nghiệp với đối tác.

Giảm thiệt hại cho doanh nghiệp

Theo phản ánh của nhiều doanh nghiệp, khi hợp đồng vận tải bị tăng giá thì lợi nhuận của người xuất nhập khẩu tất yếu giảm. Nhưng điều quan trọng hơn là việc tăng chi phí vận tải ảnh hưởng đến kế hoạch kinh doanh của doanh nghiệp, bởi các phụ phí được áp đặt ở thời gian này một mức, thời gian khác một mức… khiến các chủ hàng rất bị động trong các hợp đồng ngoại thương.

Mà thông thường, doanh nghiệp muốn ký hợp đồng thực hiện cho năm sau thì phải ký từ năm trước hoặc hợp đồng thực hiện vào giữa năm, cuối năm thì phải ký từ đầu năm. Lúc đó, cơ cấu giá trong hợp đồng ngoại thương đã có một mức cố định cho vận tải. Đến thời gian vận chuyển chính thức thì hãng vận tải đột ngột áp dụng thêm hoặc tăng giá một số phụ phí, vì vậy, tính toán của người xuất nhập khẩu lúc đó đã bị thay đổi, thông thường bị thiệt hại nhiều hơn.

Một thành viên của VNSC cũng cho biết, trong 5 năm trở lại  đây, thường thì quý 1, quý 2 chi phí vận chuyển ổn định, còn từ quý 3, quý 4 thì giá luôn tăng lên. Ví dụ như năm 2009, trong quý 1 và 2, các doanh nghiệp được áp phí 5.000 USD/tấn, nhưng đến quý 4/2009 đã tăng lên thêm 1.000 USD/tấn.

Đáp ứng yêu cầu rất bức xúc hiện nay, VNSC ra đời sẽ tập hợp toàn bộ sức mạnh của các chủ hàng để làm đối trọng với các Hiệp hội chủ tàu nước ngoài, liên kết bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ hàng Việt Nam và làm cơ sở để giải quyết các vấn đề liên quan tới hoạt động xuất nhập khẩu, ông Phan Thông, Phó tổng giám đốc Công ty Cổ phần đại lý vận tải SAFI khẳng định. Bởi mỗi chủ hàng riêng lẻ khi muốn làm việc với các hãng tàu, các hãng vận tải đã là một điều rất khó khăn, chứ chưa nói đến cơ hội làm việc với cả một hiệp hội vận tải.

Thực tế  cho thấy, cứ theo chu kỳ 5 năm một lần, lượng hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam lại tăng gấp 2 lần, nhưng cơ sở hạ tầng giao thông, logistics lại không phát triển song song nên rất bất cập, gây ách tắc trong bốc dỡ, xếp hàng hóa xuất nhập khẩu. Đây cũng là nguyên nhân khiến các hãng vận tải nước ngoài đòi áp phí cao.

“Khi chi phí vận chuyển hàng hóa tăng, đồng nghĩa với cơ hội cạnh tranh của hàng hóa Việt Nam thấp hơn”, ông Nguyễn Thành Biên, Thứ trưởng Bộ Công Thương nhấn mạnh. Chính vì vậy, VNSC được thành lập đáp ứng mong đợi từ lâu của nhiều doanh nghiệp, Hiệp hội ngành hàng, cũng như các cơ quan quản lý Nhà nước.

Thời gian qua, đã có nhiều Hiệp hội ngành hàng đại diện cho các thành phần kinh tế, các ngành nghề kinh doanh bảo vệ được quyền lợi chính đáng của các hội viên nhưng trong lĩnh vực xuất  nhập khẩu vốn đang liên quan tới hàng vạn doanh nghiệp thì đến nay mới hình thành được một tổ chức đại diện.

Trong khi thừa nhận công tác quản lý Nhà nước đã tạo ra một lỗ hổng, ông Nguyễn Thành Biên cho biết, trước đây, Bộ Thương mại đã có Vụ Kho vận và giao nhận phục vụ cho công tác xuất nhập khẩu, nhưng trong quá trình đổi mới Vụ Kho vận và giao nhận đã được sáp nhập với Vụ Xuất nhập khẩu và ngày càng bị thu hẹp lại, đến nay không còn một bộ phận nào chuyên trách về giao nhận kho vận. Cho nên nhiều vấn đề nảy sinh như bị ép về giá cước, chi phí, điều kiện vận chuyển, áp đặt phí THC (là các chi phí do hãng tàu trả để nhận container tại bến container, lưu và giao container đó lên tàu đối với hàng xuất khẩu hoặc để nhận container đó từ tàu, lưu và giao container đó cho người nhận hàng đối với hàng nhập khẩu) không được giải quyết một cách bài bản, có hiệu quả.

Phá thế độc quyền của các hãng vận tải

Theo ông Vũ  Tiến Lộc, Chủ tịch VCCI thì hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam bị ách tắc nhiều và chi phí  vận tải cao không phải chỉ do cơ sở hạ  tầng không đáp ứng, cũng không phải chỉ do khối lượng hàng hóa xuất nhập khẩu ít mà do thủ tục giao nhận, vận tải hàng hóa chưa hợp lý, và đặc biệt là do trong lĩnh vực vận tải hàng hóa xuất nhập khẩu của Việt Nam chưa thực sự có một môi trường cạnh tranh bình đẳng. Hiện nay, phần lớn hàng xuất nhập khẩu của Việt Nam đang được vận chuyển bởi các hãng vận tải nước ngoài. Thế độc quyền tương đối của các hãng vận tải này đã được xác lập trong quan hệ đối với các doanh nghiệp xuất nhập khẩu của Việt Nam.

Với vai trò  Chủ tịch Hiệp hội, ông Trần Đức Minh cho biết, 4 nhiệm vụ trước tiên của VNSC là nắm bắt tình hình khó khăn của các thành viên trong việc vận tải hàng hóa xuất nhập khẩu; gặp gỡ các hiệp hội chủ tàu, chủ hàng để phối hợp hành động bảo vệ quyền lợi của hội viên trước những chi phí bất hợp lý và thế độc quyền của chủ tàu; cung cấp thông tin về thị trường, cảng biển cho các doanh nghiệp; tăng cường hợp tác với các Hiệp hội chủ hàng quốc gia láng giềng, tham gia vào liên đoàn các hiệp hội chủ hàng khu vực và quốc tế nhằm tăng cường thế mạnh trong nước và gắn kết mạng lưới chủ hàng toàn cầu.

Một số đại biểu đề nghị rằng quy mô của VNSC thời gian tới đây không nên chỉ dành cho các nhà xuất nhập khẩu mà phải mở rộng kết nạp cả những thành viên là các nhà vận tải hàng hóa, trước mắt chủ yếu là các hãng vận tải hàng hóa xuất nhập khẩu.

Đằng sau con số tăng trưởng GDP năm nay

Góc nhìn của chuyên gia kinh tế Bùi Bá Cường về những cân đối vĩ mô liên quan đến GDP…

Các công trình xây dựng cơ sở hạ tầng đóng góp lớn vào mức tăng trưởng GDP.

Năm 2009, tăng trưởng GDP đạt 5,32% với lạm phát được kiềm chế dưới 7%. Những con số này có thể cho cảm nhận  kinh tế vĩ mô đang ở tình trạng khá ổn định.

Tuy nhiên, tăng trưởng được dẫn dắt bởi đầu tư đã khiến bội chi và thâm hụt ngân sách tăng cao. Thêm vào đó, mức tăng cung tiền lớn liệu có đẩy rủi ro lạm phát sang năm tới?

Vụ trưởng Vụ Hệ thống tài khoản quốc gia (Tổng cục Thống kê) Bùi Bá Cường lưu ý một vài con số khác trong các cân đối liên quan đến GDP, bên lề buổi họp báo công bố số liệu thống kê kinh tế – xã hội năm 2009 sáng 31/12.

Ông Cường nói:

– GDP tính theo tổng cầu thì tiêu dùng cuối cùng tăng 4,19%, trong đó tiêu dùng của nhà nước tăng 7,6%, tiêu dùng của hộ gia đình tăng 3,85%; tích lũy tài sản tăng 4,31%; xuất khẩu tăng 11,08%, nhập khẩu tăng 6,66%.

Lưu ý khi sử dụng con số xuất nhập khẩu là về mặt giá trị, xuất khẩu giảm 9,7%, nhưng sau khi loại trừ yếu tố giá, mà năm nay giá xuất khẩu giảm trên 10%, về mặt lượng xuất khẩu tăng, nhập khẩu cũng tăng.

Ở đây có một diễn biến rất đáng quan tâm. Trong quý 1/2009, tiêu dùng cuối cùng tăng trưởng âm. “Sâu” nhất là tiêu dùng cuối cùng của hộ gia đình, âm đến 9,3%, nhưng sang quý 2 bắt đầu tăng lên 3,8%; quý 3 lên 8,4%; và quý 4 tăng 9,3%. Vì thế, cả năm tiêu dùng cuối cùng hộ gia đình mới giữ được 3,85%.

Tuy nhiên, mức tăng này vẫn thấp hơn tăng trưởng GDP. Năm trước, tiêu dùng của hộ gia đình tăng tới 9,6%, cao hơn rất nhiều mức tăng 6,18% của GDP năm 2008.

Thứ hai, tích lũy tài sản quý 1 cũng giảm rất sâu, âm 3,1% chủ yếu do lượng tồn kho cuối năm ngoái lớn, khoảng 5% GDP. Nhưng, đến quý hai bắt đầu tăng lên 1,9%; quý 3 tăng 9,6%; và quý 4 tăng 13,1%. Tính chung lại cả năm tăng 4,3%.

Trong các con số kể trên, đâu là nhân tố có đóng góp lớn nhất cho tăng trưởng GDP của năm nay, thưa ông?

Đóng góp vào mức tăng 5,32% GDP của năm nay, tiêu dùng cuối cùng là nhiều nhất, tới 49%; sau đó đến tích lũy tài sản 29,7%; và cuối cùng là chênh lệch xuất nhập khẩu đóng góp 21,3%.

Tính theo USD, năm nay GDP của Việt Nam đạt khoảng 91 tỷ USD, bình quân đầu người 1.055 USD. Trong khi đó, năm ngoái là 89 tỷ USD; bình quân là 1047 USD/người. Như vậy mức tăng là không đáng kể.

Cũng phải lưu ý ở đây là tỷ giá VND/USD cũng có điều chỉnh trong năm nay.

Khả năng cạnh tranh của nền kinh tế đang giảm

Nói về mức tăng trưởng 5,32%, Tổng cục Thống kê đánh giá rằng, khả năng cạnh tranh của nền kinh tế và của nhiều ngành, nhiều sản phẩm còn thấp. Vậy cụ thể chỉ tiêu năng suất các yếu tố tổng hợp (TFP) thể hiện như thế nào trong năm nay?

Năng suất các yếu tố tổng hợp phải đến cuối quý 1/2010 mới có tính toán chính thức, nhưng khái quát chung, TFP có xu hướng giảm.

Theo tính toán của chúng tôi, giai đoạn 2004 – 2009, TFP khoảng 15,1%. Trong khi đó giai đoạn 2003 – 2008 là 15,53%. Như vậy là đóng góp vào tăng trưởng có giảm.

Tăng đầu tư có đóng góp đáng kể làm tăng GDP năm nay. Tuy nhiên, có ý kiến cho rằng hệ số ICOR khu vực nhà nước năm 2009 có thể lên đến 10. Tính toán của ông?

Cách tính ICOR (hệ số sinh lời từ đồng vốn đầu tư – PV) hiện nay, nhiều người chưa sử dụng đúng phương pháp, vẫn dùng tử số là đầu tư thực tế, trong khi đó mẫu số lại lấy tăng trưởng GDP theo giá so sánh năm 1994. Vì thế, vừa rồi có ý kiến cho rằng ICOR năm 2009 cỡ khoảng 8,6 là không đúng. Chúng tôi tính là 5,16.

Theo quy định quốc tế, ICOR phải tính bằng giá trị thuần vốn tài sản tại thời điểm cuối năm nghiên cứu (không kể khấu hao), trừ đi con số tương ứng thời điểm cuối năm trước, chia cho chênh lệch GDP năm trước so với năm sau, chứ không phải dùng con số tổng vốn đầu tư.

Nhưng đến hiện giờ, chưa có thông tin kiểm kê tài sản của cả nước đến thời điểm 31/12/2009, nên vẫn phải dùng tích lũy tài sản để thay thế.

Lưu ý là vốn đầu tư chỉ là nguồn tài chính bỏ ra để hình thành tài sản, còn tài sản là kết quả hình thành từ việc đầu tư đó. Ví dụ, vốn đầu tư toàn xã hội năm nay là 42,8% GDP, không có nghĩa là  704,2 nghìn tỷ vốn đầu tư là thành tài sản hết.

Năm nay, theo giá thực tế, tích lũy tài sản so với vốn đầu tư chưa đến 90%. Những năm trước còn thấp hơn. Có nghĩa là bỏ ra một đồng không có nghĩa là hình thành 1 đồng tài sản.

Nhưng trong trường hợp của Việt Nam, dùng tích lũy tài sản cũng không ổn, vì tích lũy tài sản nhiều khi bị ảnh hưởng bởi tồn kho. Tồn kho càng lớn thì tích lũy tài sản càng lớn, nhưng thực chất tồn kho là sản xuất của những thời kỳ trước tồn lại do không bán được.

Năm ngoái, tồn kho so với GDP là 5,2% thì năm nay chỉ còn trên 3%. Cho nên, khi dùng tích lũy tài sản thì có sai lệch đó.

Dự kiến trong quý 1, khi thông tin tương đối đầy đủ, chúng tôi sẽ đưa số liệu chính thức về hệ số ICOR và TFP, đồng thời nêu rõ phương pháp tính của quốc tế.

Như ông nói, đầu tư đem về gần 90% tài sản tích lũy, cao hơn các năm trước. Có nghĩa là hiệu quả đầu tư đã cao hơn trước?

Điều đó chưa thể khẳng định, vì về mặt tài sản có khi chẳng tăng gì.

Ví dụ một cơn bão vào Việt Nam phá sập nhiều nhà cửa. Người dân không thể sống ngoài trời được, buộc lòng phải bỏ tiền ra xây dựng, dù là nhà tạm. Nhà nước cũng có thể bỏ tiền ra hỗ trợ, xây dựng lại cầu, cống, đường xá… Khi đó, vốn đầu tư bỏ ra chỉ là tạo lại tài sản đã có, mà chỉ tạo được một phần thôi.

Hay là con đường đang tốt, anh đào lên thì công sức và tiền của đổ ra đã làm tăng GDP rồi. Khi lấp thì động tác ấy cũng tốn tiền tốn của, cũng làm tăng GDP. Nhưng con đường đó có khi không còn tốt như con đường cũ.

Hiện giờ, tăng trưởng của ta vẫn dựa vào đầu tư. Cho nên phải làm sao cho hiệu quả đầu tư tăng lên.

Rất lưu ý lạm phát

Tổng cục Thống kê đưa con số thâm hụt ngân sách năm nay tới 7% GDP, cao hơn nhiều so với các năm trước. Theo ông, điều này dẫn tới nguy cơ gì?

Con số 7% nói trên mới chỉ là ước thôi.

Có mấy lưu ý với con số thâm hụt 7% chúng tôi đưa ra. Thứ nhất, thâm hụt ngân sách được tính toán từ con số bội chi 115,9 nghìn tỷ đồng mà Bộ Tài chính báo cáo Quốc hội tháng 11/2009, đến nay chúng tôi chưa có con số điều chỉnh.

Thứ hai, con số này lúc trước so với GDP thực tế ước tính từ tháng 9 có cao hơn so với hiện nay. Cho nên, nếu vẫn giữ con số 115,9 nghìn tỷ đồng thì bội chi ước tính là 7,04%, cao hơn chỉ tiêu Quốc hội thông qua. Nếu Bộ Tài chính tới đây điều chỉnh con số bội chi thì kết quả sẽ còn thay đổi.

Trong bối cảnh cung tiền và tín dụng tăng cao, việc GDP tăng 5,32% có tạo áp lực lạm phát?

Một trong những yếu tố làm tăng lạm phát trở lại là tăng trưởng cung tiền M2.

Nếu theo logic con số, so với năm trước tổng phương tiện thanh toán năm 2007 tăng 46,1%; tín dụng cho vay nền kinh tế tăng 53,9%; nhưng GDP theo giá thực tế chỉ tăng 17,4%.

Tức là, lượng tiền cung ra không tương xứng với lượng hàng hóa dịch vụ sản xuất của cả nước, thể hiện qua giá trị sản lượng hoặc giá trị GDP như nói trên, cho nên độ trễ lạm phát đẩy sang năm sau, tương ứng là 23% trong năm 2008.

Sang năm 2008, chính sách tiền tệ bắt đầu thắt chặt thì M2 tăng 20,3%, tín dụng tăng 23,4%; nhưng GDP thực tế tăng tới 29,2%, lạm phát năm 2009 chỉ còn 6,9%. Năm 2009, M2 tăng 28,7%; tín dụng tăng 37,7% và GDP thực tế chỉ còn tăng 11,4%.

Như vậy, theo tôi khả năng lạm phát năm sau không dưới 7%. Chúng ta rất phải lưu ý chính sách tiền tệ và bội chi. Tuy nhiên, bội chi ngân sách và tăng trưởng cung tiền cũng chưa nói hết được. Vấn đề nữa là phải tính được vòng quay của tiền tệ.

Năm 2010 CPI sẽ ở mức 7%?

Sang năm tới, mục tiêu tăng trưởng GDP 6,5%, CPI ở mức 7% có thành hiện thực?…

Năm 2010, lương tối thiểu tăng sẽ làm tăng sức mua của một bộ phận dân cư.

Năm 2009, Việt Nam là nước có tốc độ phát triển đứng thứ hai trong khu vực Đông Nam Á và đã thành công khi khống chế lạm phát ở mức một con số. Sang năm tới, mục tiêu tăng trưởng GDP 6,5%, chỉ số giá tiêu dùng (CPI) ở mức 7% có thể thành hiện thực?

Đó là câu hỏi đã được đặt ra tại hội thảo “Thị trường, giá cả và lạm phát năm 2009 – dự báo năm 2010”, do Viện Nghiên cứu khoa học Thị trường Giá cả (Bộ Tài chính) tổ chức sáng 31/12.

Lạm phát được kiểm soát

Phát biểu đề dẫn, Phó viện trưởng, TS Vũ Đình Ánh cho rằng, thị trường giá cả, lạm phát năm 2009 được đặc trưng bởi sự đan xem hòa quyện của các yếu tố mang tính quy luật và cả không ít yếu tố bất thường, vượt ra khỏi những dự tính ban đầu.

Nếu cuối năm 2008, mục tiêu giữ lạm phát dưới 15% đã là lý tưởng cho năm 2009, sau một năm lạm phát xấp xỉ tới 20%, thì đến giữa năm nay chúng ta đã hoàn toàn có thể yên tâm là CPI sẽ dưới 7%. Trên thực tế con số đó là 6,52% so với tháng 12/2008 và bình quân cả năm chỉ tăng 6,88% so với năm trước.

“Có thể nói lạm phát năm 2009 nằm trong dự tính và kiểm soát được lạm phát là một thành công của Việt Nam”, TS Ánh nhìn nhận.

Không chỉ kìm chế tốt mức lạm phát, tốc độ tăng trưởng kinh tế trong năm 2009 nước ta vẫn đạt trên 5% và thất nghiệp cũng không tới mức nguy hiểm như dự đoán những tháng đầu năm.

Thêm vào đó, để đối phó với khủng hoảng kinh tế toàn cầu, nước ta đã thực hiện nới lỏng cả chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ. Lãi suất cơ bản đã được điều chỉnh giảm từ 8,5% xuống 7%, bằng 1/2 mức đỉnh của năm 2008 và duy trì liên tục tới cuối tháng 11/2009. Theo đó, tổng phương tiện thanh toán đã tăng 28,7% và tổng tín dụng cho nền kinh tế tăng 37,7% so với năm trước.

Ngoài ra, tỷ giá hối đoái cũng được điều chỉnh mạnh trong năm 2009, trước sức ép của thâm hụt cán cân thương mại và cán cân thanh toán tổng thể. Đặc biệt, tổng chi an sinh xã hội đã lên tới gần 22,5 nghìn tỷ đồng

Tuy nhiên, bên cạnh những thành công cơ bản trên, thị trường giá cả năm qua cũng đã chứng kiến không ít “cú sốc”, từ đột biến của giá vàng, giá USD, mất cân đối thị trường ngoại hối, giá gạo, giá đường… đến chênh lệch quá lớn giữa giá trong nước và giá thế giới đối với ô tô, sữa bột…

CPI  dưới 7% có khả thi?

Từ những thành công này, Viện Nghiên cứu Khoa học Thị trường Giá cả đặt ra câu hỏi: liệu mục tiêu CPI tăng dưới 7% khi mục tiêu tăng GDP là 6,5% trong năm 2010 có được hiện thực hóa.

Ông Nguyễn Tiến Thỏa, Cục trưởng Cục Quản lý giá (Bộ Tài chính) cho rằng: Năm 2010, theo dự báo của nhiều tổ chức kinh tế có uy tín như Ngân hàng Thế giới (WB), Quỹ tiền tệ Quốc tế (IMF) nhiều khả năng kinh tế thế giới sẽ có những chuyển biến tích cực hơn.

Kinh tế thế giới phục hồi sẽ làm nhu cho nhu cầu đối với các loại nguyên nhiên liệu, vật liệu tăng dần. Thêm vào đó, sang năm mới, nhiều nước đã quyết định tiếp tục duy trì gói kích thích kinh tế, lượng tiền tiếp tục được bơm thêm ra lưu thông sẽ tạo sức ép khá mạnh đến lạm phát. IMF dự báo mức lạm phát của Việt Nam trong năm tới sẽ là khoảng 7%. Còn bộ phận nghiên cứu chiến lược hàng hóa và kinh tế toàn cầu của Tập đoàn Goldman Sachs thì dự báo lạm phát của Việt Nam sẽ là 10,8%.

Về tăng trưởng GDP 6,5%, ông Thỏa cho rằng có thể đạt được nhưng sẽ phải đối mặt với nhiều khó khăn. Trong đó đáng chú ý là lạm phát có nguy cơ tăng cao trở lại. Đầu tiên là do tác động của lượng tiền trong lưu thông tăng lên từ sự nới lỏng chính sách tiền tệ, tài khóa từ năm trước.

Năm mới, lương tối thiểu cũng sẽ tăng từ 650.000 đồng/tháng lên 730.000 đồng/tháng, cộng thêm kế hoạch tiếp tục đẩy nhanh chính sách an sinh xã hội, chương trình hỗ trợ giảm nghèo… sẽ làm tăng sức mua có khả năng thanh toán của một bộ phận dân cư.

Thêm nữa, theo tinh thần chỉ đạo của Chính phủ năm 2010, nhiều mặt hàng như điện, than, nước sạch..sẽ tiếp tục thực hiện theo cơ chế thị trường. Điều này cũng sẽ làm cho mặt bằng giá tiêu dùng tăng lên.

Ngoài ra, còn một số nguyên nhân mang tính quy luật khách quan như thiên tai, dịch bệnh… có thể xảy ra làm ảnh hưởng đến cung cầu, tác động đến giá cả thị trường.

Tán đồng với các phân tích trên, nhưng TS. Võ Trí Thành, Phó viện trưởng Viện Nghiên cứu và Quản lý kinh tế Trung ương lại có quan điểm: các con số cụ thể về tốc độ tăng trưởng cũng như chỉ số lạm phát không phải là quá quan trọng. Vấn đề là cần giữ chúng ở mức có thể chấp nhận được và đảm bảo cho chính sách điều hành kinh tế vĩ mô có sự linh hoạt nhất định.

Lạc quan hơn, PGS.TS Phan Duy Minh, Chủ nhiệm Khoa Tài chính quốc tế, Học viện Tài chính phát biểu: nhìn chung người dân thường có tâm lý sợ lạm phát. Tuy nhiên, đối với các nước đang phát triển, lạm phát ở mức hai con số cũng không phải là điều nghiêm trọng. Vì vậy, để ưu tiên cho sự phát triển, CPI của nước ta ở mức 10% trở xuống là có thể chấp nhận.