Giá vàng bay cao, giá dầu ì ạch nhích lên

Bất ổn kinh tế thế giới tiếp tục đẩy giá vàng tăng mạnh trong phiên giao dịch cuối tháng…

Lo ngại trước những làn sóng dữ liệu kinh tế u ám đổ tới mỗi ngày, giới đầu tư quốc tế tiếp tục đẩy mạnh mua vàng vào để tích trữ.

Bất ổn kinh tế thế giới tiếp tục đẩy giá vàng tăng mạnh trong phiên giao dịch cuối tuần, đồng thời cũng là phiên giao dịch cuối tháng 1. Giá dầu phục hồi nhẹ nhờ kinh tế Mỹ sụt giảm ít hơn dự báo.

Tỷ giá USD so với Euro trên thị trường quốc tế vẫn trên đà tiến lên.

Với phiên hôm qua, giá vàng đã khép lại tháng đầu năm với mức phục hồi khá ngoạn mục là 5% đối với giá vàng kỳ hạn và 5,3% đối với giá vàng giao ngay. Đứng ở mức 1.815.000 đồng/chỉ trước kỳ nghỉ Tết, giá vàng trong nước tháng này tăng khoảng 25.000 đồng/chỉ, tương đương mức tăng 1,4%.

Trong tháng 1, giá vàng nhận được sự hỗ trợ từ tình hình mỗi lúc một xấu đi của viễn cảnh nền kinh tế thế giới. Trong những thời điểm bất ổn kinh tế, vàng thường được xem là một kênh đầu tư an toàn hơn cả. Thêm vào đó, việc chính phủ các nước bơm nhiều ngàn tỷ USD để kích thích tăng trưởng kinh tế càng tạo đà cho sự leo thang của giá vàng. Chính quyền tân Tổng thống Barack Obama của Mỹ hiện đang trong quá trình tung ra một gói hỗ trợ tăng trưởng mới trị giá hơn 800 tỷ USD.

Theo số liệu do hãng tin tài chính Bloomberg cung cấp, nếu tính theo Euro, giá vàng đã tăng tới 15% trong tháng này; còn tính theo Bảng Anh, giá kim loại này đã tăng 5,9% trong tháng.

Hôm qua, kinh tế thế giới tiếp tục đón thêm tin xấu. Bộ Thương mại Mỹ cho hay, GDP quý 4/2008 của nước này tăng trưởng âm 3,8%, mức sụt giảm mạnh nhất từ năm 1982 tới nay. Tuy nhiên, mức sụt giảm này vẫn thấp hơn mức tăng trưởng âm 5,5% mà giới quan sát dự báo trước đó.

Tại châu Âu, tỷ lệ thất nghiệp của khu vực sử dụng đồng tiền chung Euro (Eurozone) trong tháng 12/2008 đã tăng lên mức 8%, cao nhất trong vòng 2 năm qua, trong khi tỷ lệ lạm phát của tháng này đã lùi về mức 1,1%, thấp nhất trong vòng 10 năm.

Lo ngại trước những làn sóng dữ liệu kinh tế u ám đổ tới mỗi ngày, giới đầu tư quốc tế tiếp tục đẩy mạnh mua vàng vào để tích trữ. Lượng vàng mà quỹ đầu tư vàng lớn nhất thế giới SPDR Gold Trust nắm giữ hôm qua đã đạt mức kỷ lục 843,6 tấn. Một số nhà phân tích đã đưa ra dự báo, với tình hình kinh tế tiếp tục xấu đi, giá vàng có thể sớm tái lập mốc 1.000 USD/oz.

Chốt phiên giao dịch hôm qua tại New York, giá vàng giao ngay tăng 18,8 USD/oz (2,1%) so với giá đóng cửa phiên liền trước, đạt mức 928,1 USD/oz. Giá vàng giao kỳ hạn tháng 4 tại Sở Giao dịch Hàng hóa New York (NYMEX) tăng 21,9 USD/oz (2,4%), đạt 928,4 USD/oz.

Lấy tỷ giá USD của ngân hàng Vietcombank niêm yết trước khi nghỉ Tết là 1 USD = 17.484 VND để quy đổi, giá vàng giao ngay thế giới đóng cửa phiên hôm qua tương ứng với mức 1.955.000 đồng/chỉ*.

Sự đi lên của giá vàng trong tháng 1 nói chung và phiên này nói riêng diễn ra bất chấp sự tăng giá của đồng USD so với Euro. Đóng cửa hôm qua tại New York, tỷ giá USD tăng 1,3%, lên mức 1 Euro đổi được 1,2794 USD so với mức 1 Euro tương đương 1,2954 USD cách đó một ngày.

Đà tăng giá của USD càng mạnh lên sau khi dữ liệu cho thấy lạm phát của Eurozone giảm mạnh như đã nêu ở trên. Tháng này, đồng USD lên giá 9% so với Euro. Trong năm 2008, USD phục hồi 4,4% so với Euro.

Do GDP của Mỹ giảm nhẹ hơn dự kiến, giá dầu phiên cuối tháng phục hồi nhẹ. Giá dầu thô ngọt nhẹ giao tháng 3 tại NYMEX hôm qua tăng 0,24 USD/thùng (0,6%), đạt mức 41,68 USD/thùng.

Trong tuần này, giá dầu đã giảm 10%, còn trong tháng 1, giá dầu giảm 6,5%. Tháng nay đã là tháng thứ 7 giá dầu giảm liên tục, thời kỳ đi xuống dài nhất của giá nhiên liệu này kể từ khi hoạt động giao dịch kỳ hạn dầu thô bắt đầu tại NYMEX vào năm 1983.

So với kỷ lục 147,27 USD/thùng hôm 11/7/2008, giá dầu tại New York hiện đã giảm 72%.

* Công thức quy đổi giá vàng thế giới: Giá vàng thế giới / 8,3 * Tỷ giá USD/VND (1 ounce = 8,3 chỉ).

Tháng 1 tồi tệ nhất trong lịch sử Phố Wall

Ngày 30/1, chứng khoán Mỹ tiếp tục giảm điểm sau thông báo về sự suy thoái mạnh của nền kinh tế trong quý 4/2008…

Chứng khoán Mỹ mất gần 9% giá trị trong tháng 1 – Ảnh: Reuters.

Ngày 30/1, chứng khoán Mỹ tiếp tục giảm điểm sau thông báo về sự suy thoái mạnh của nền kinh tế trong quý 4/2008.

Hôm thứ Sáu, Bộ Thương mại Mỹ cho biết GDP của nước này trong quý 4/2008 đã tăng trưởng âm 3,8% – mức giảm mạnh nhất trong vòng 27 năm qua, đưa kinh tế Mỹ chìm sâu hơn vào suy thoái. Quý 3/2008, GDP của Mỹ tăng trưởng âm 0,5%.

Trong quý 4, sản xuất công nghiệp ở Mỹ đã tăng trưởng âm 6,4%; chi tiêu dùng – vốn chiếm 2/3 GDP của Mỹ, đã giảm 3,5% sau khi giảm 3,8% trong quý 3/2008; mức đầu tư của doanh nghiệp đã giảm 19,1%.

Như vậy, GDP của Mỹ trong cả năm 2008 đã tăng 1,3% – thấp hơn mức tăng 2% trong năm 2007, đưa kinh tế Mỹ có mức tăng trưởng thấp nhất kể từ năm 2001.

Cùng ngày, trường Đại học Michigan và hãng tin Reuters đã công bố kết quả thăm dò về chỉ số lòng tin người tiêu dùng Mỹ trong tháng 1/2009. Theo đó, chỉ số này đã tăng lên 61,2 điểm từ mức 60,1 điểm trong tháng 12/2008.

Chứng khoán Mỹ giảm gần 9% trong tháng

Ngày 30/1, Tập đoàn Exxon Mobil đã công bố doanh thu của hãng trong quý 4/2008 giảm 27% xuống 84,7 tỷ USD; lợi nhuận sau thuế đạt 7,8 tỷ USD – giảm 33% so với cùng kỳ năm trước, tương đương 1,55 USD/cổ phiếu (vượt 10 cent/cổ phiếu so với dự báo của giới phân tích).

Như vậy, lợi nhuận ròng trong năm 2008 của Exxon Mobil đã 45,2 tỷ USD, tăng cao hơn so với mức lợi nhuận 40,6 tỷ USD trong năm 2007.

Liên quan đến kết quả kinh doanh của một tập đoàn năng lượng hàng đầu khác ở Mỹ, Tập đoàn Chevron vừa công bố doanh thu trong quý 4/2008 của hãng giảm 28% xuống 43 tỷ USD; lợi nhuận sau thuế đạt 4,9 tỷ USD, tương đương 2,44 USD/cổ phiếu – tăng cao hơn so với mức lợi nhuận 4,88 tỷ USD (2,32 USD/cổ phiếu) trong quý 4/2007.

Kết thúc ngày giao dịch, cổ phiếu Exxon Mobil (XOM) đã giảm 0,68% xuống 76,48 USD/cổ phiếu. Trong khi đó cổ phiếu của Chevron (CVX) đã trượt 0,14% xuống 70,52 USD/cổ phiếu.

Cùng ngày, Tập đoàn Procter & Gamble (PG) đã cho biết doanh thu của hãng trong quý 2 năm tài khóa 2009 (bắt đầu từ tháng 10/2008-12/2008) giảm 3% xuống 20,37 tỷ USD; lợi nhuận sau thuế tăng 53% lên 5 tỷ USD, tương đương 1,58 USD/cổ phiếu – cao hơn so với mức 3,27 tỷ USD (98 cent/cổ phiếu) trong quý 4/2007. Cổ phiếu PG kết thúc phiên đã giảm 6,39% xuống 54,5 USD/cổ phiếu.

Chứng khoán Mỹ đã kết thúc ngày giao dịch cuối tuần và cũng là cuối tháng 1 bằng một phiên giảm điểm với biên độ khoảng 2%, đưa thị trường có tháng 1 giảm điểm mạnh nhất trong lịch sử.

Tăng trưởng kinh tế quý 4/2008 giảm mạnh nhất trong 27 năm là nguyên nhân cơ bản nhất kéo thị trường đi xuống. Bên cạnh đó, thị trường cũng bị tác động bởi thông tin kế hoạch hình thành một ngân hàng (bad bank) nhằm giải cứu khối tài chính đang vấp phải những rào cản khó vượt qua.

Chính bởi sự không chắc chắn trong kế hoạch giải cứu các khoản nợ xấu của khối ngân hàng nên đã đẩy chỉ số S&P Tài chính giảm 2,5% giá trị, trong đó cổ phiếu của Citigroup giảm 9% xuống 3,55 USD/cổ phiếu, cổ phiếu Bank of America hạ 3% xuống 6,58 USD/cổ phiếu.

Trong tuần, chỉ số Dow Jones giảm 0,95%, chỉ số S&P 500 hạ 0,73% và chỉ số Nasdaq trượt 0,06%.

Trong tháng 1/2009, chỉ số Dow Jones trượt 8,8%, chỉ số S&P 500 mất 8,6% và chỉ số Nasdaq hạ 6,4%.

Diễn biến của ba chỉ số chứng khoán chính ở Mỹ trong tháng 1/2009 – Nguồn: G.Finance.

Điểm qua kết quả ngày giao dịch 30/1: chỉ số công nghiệp Dow Jones giảm 148,15 điểm, tương đương -1,82%, đóng cửa ở mức 8.000,86.

Chỉ số Nasdaq phiên này mất 31.42 điểm, tương đương -2,08%, chốt ở mức 1.476,42.

Cuối cùng, chỉ số S&P 500 hạ 19,26 điểm, tương đương -2,28%, đóng cửa ở mức 825,88.

Khối lượng giao dịch trên sàn New York đạt 1,51tỷ cổ phiếu, thị trường cứ có 3 cổ phiếu mất điểm thì có 1 cổ phiếu lên điểm. Khối lượng giao dịch thành công trên sàn Nasdaq đạt 2,14 tỷ cổ phiếu, thị trường cứ có 9 cổ phiếu giảm điểm thì có 4 cổ phiếu lên điểm.

* Những thông tin đáng chú ý tuần tới:

Thứ Hai: Công bố thông tin về thu nhập của người dân ở Mỹ; chỉ số ISM khối sản xuất của Viện Quản lý Nguồn cung; tổng mức chi tiêu xây dựng.

Thứ Ba: Công bố số liệu về doanh số bán xe ôtô; doanh số nhà chờ bán; kết quả kinh doanh của Merck; Dow Chemical; Motorola; PNC Bank; Disney; Met Life.

Thứ Tư: Công bố thông tin về chỉ số ISM khối dịch vụ của Viện Quản lý Nguồn cung; kết quả kinh doanh của Time Warner; Kraft; Cisco; Prudential; Sunoco và Visa.

Thứ Năm: Báo cáo số liệu về số người nộp đơn xin trợ cấp thất nghiệp lần đầu; các đơn đặt hàng tại các nhà máy ở Mỹ; công bố kết quả kinh doanh của MasterCard; Unilever; Hartford Financial; News Corp.

Thứ Sáu: Báo cáo về tình hình việc làm trong tháng 1/2009 và tổng mức tín dụng tiêu dùng trong tháng 1.

Chứng khoán châu Âu giảm điểm vì khối khai mỏ, năng lượng

Chứng khoán châu Âu tiếp tục mất điểm phiên cuối tuần do sự sụt giảm của cổ phiếu khối hàng hóa cơ bản – bất chấp việc phục hồi của cổ phiếu khối ngân hàng.

Trong ngày giao dịch, cổ phiếu Xstrata đã giảm tới 12%, cổ phiếu BHP Billiton mất 7,5%, cổ phiếu Antofagasta, Anglo American có mức giảm lần lượt là 6% và 5,5%.

Cổ phiếu khối ngăng lượng như BP, Royal Dutch Shell cũng giảm lần lượt là 0,9 và 3,9%.

Điểm đáng chú ý trong ngày giao dịch là sự phục hồi trở lại của khối ngân hàng, trong đó cổ phiếu của BNP Paribas lên 1,7%, cổ phiếu Royal Bank of Scotland tăng 4,8%, cổ phiếu Barclays tiến thêm 5,8%…

Kết thúc ngày giao dịch, chỉ số FTSE 100 của Anh giảm 40,47 điểm, tương đương 0,97%, chốt ở mức 4.149,64.

Chỉ số DAX của Đức mất 2,03%, khối lượng giao dịch đạt 29,9 triệu cổ phiếu. Chỉ số CAC 40 của Pháp trượt 1,19%, khối lượng giao dịch đạt 190 triệu cổ phiếu.

Đón nhiều tin xấu, chứng khoán Nhật giảm mạnh

Hôm thứ Sáu, Bộ Thương mại Nhật cho biết sản xuất công nghiệp ở nước này trong tháng 12/2008 đã giảm 9,6%, trong khi tỷ lệ thất nghiệp lại tăng lên 4,4% – mức tăng cao nhất trong 41 năm qua, từ 3,9% trong tháng 11/2008.

Suy thoái kinh tế ở Mỹ, châu Âu và suy giảm kinh tế ở Trung Quốc là nguyên nhân chính dẫn tới xuất khẩu ôtô, hàng điện tử, máy móc… của nước này suy giảm mạnh.

Nhiều tập đoàn lớn đã công bố kết quả kinh doanh thua lỗ hoặc giảm mạnh. Bên cạnh đó, nhiều tập đoàn đã phải cắt giảm nhân công, cắt giảm sản xuất, hoãn thực hiện các dự án mới…

Kinh tế khó khăn khiến tổng mức chi tiêu dùng giảm 4,6% trong tháng 12 và trở thành tháng giảm chi tiêu thứ 10 trong năm 2008.

Lạm phát cơ bản ở Nhật (không bao gồm thực phẩm tươi) đã tăng 0,2% trong tháng 12/2008 so với cùng kỳ năm trước.

Chứng khoán Nhật đã giảm điểm mạnh trong ngày giao dịch cuối tuần so ảnh hưởng từ những tin xấu liên quan đến sản xuất công nghiệp và tỷ lệ thất nghiệp gia tăng…

Cổ phiếu Toshiba đã giảm 17,4% trước thông tin về khả năng thua lỗ trong năm 2008, đồng thời bị Goldman Sachs khuyến nghị “bán” cổ phiếu từ mức “nắm giữ”…

Cổ phiếu Toyota giảm 4,1%, cổ phiếu Honda Motor trượt 9,2% sau thông tin lợi nhuận hoạt động của hãng có khả năng giảm 63% trong quý 4/2008.

Kết thúc ngày giao dịch, chỉ số Nikkei 225 giảm 257,19 điểm, tương đương -3,12%, chốt ở mức 7.994,05 – tăng 3,2% giá trị trong tuần và mất 9,8% giá trị trong tháng 1/2009.

Khối lượng giao dịch phiên này đạt 1,97 tỷ cổ phiếu, thị trường cứ có 3 mã giảm điểm thì có 1 mã lên điểm.

Liên quan đến thị trường Australia, Ngân hàng Trung ương nước này vừa cho biết, tín dụng cho vay của các ngân hàng và tổ chức tín dụng ở Australia trong tháng 12/2008 đã giảm 0,3% so với tháng 11/2008.

Hoạt động sản xuất kinh doanh của khối doanh nghiệp ở nước này bị tác động mạnh trước khủng hoảng tài chính – kinh tế toàn cầu, nên tổng mức vay của khối doanh nghiệp đã và đang có chiều hướng giảm xuống.

Theo nhận định của giới phân tích, rất có thể Ngân hàng Trung ương Australia sẽ sớm hạ lãi suất cơ bản xuống 3,5% trong phiên họp ngày 3/2 tới.

Trên thị trường chứng khoán, chỉ số ASX phiên này đã tăng 16,8 điểm, tương đương 0,49%, chốt ở mức 3.478,1.

Chuyển qua thị trường khác, cơ quan thống kê Hàn Quốc vừa cho biết sản xuất công nghiệp ở nước này trong tháng 12/2008 đã giảm 18,6% so với cùng kỳ năm ngoái – mức giảm mạnh nhất kể từ năm 1970 và giảm 9,6% so với tháng 11/2008.

Nền kinh tế Hàn Quốc trong quý 4/2008 đã giảm 5,6% so với quý trước, do hoạt động xuất khẩu đi xuống. Hiện nhiều tập đoàn như Hyundai Motor, LG Display, Hynix Semiconductor… đã phải cắt giảm mạnh sản lượng do nhu cầu suy giảm.

Đồng Won đã mất 0,3% giá trị xuống 1.383,35 Won/ 1 USD tại Seoul, trong khi chỉ số KOSPI giảm 0,38% và chốt ở mức 1.162,11.

Điểm qua các thị trường khác: Chỉ số BSE 30 của Ấn Độ tiến thêm 0,57%. Chỉ số Straits Times của Singapore mất 1,29%. Chỉ số Hang Seng của Hồng Kông tăng 0,94%.

* Thị trường Trung Quốc và Đài Loan nghỉ giao dịch nhân ngày lễ.

Thị trường

Chỉ số

Phiên trước Đóng cửa Tăng / giảm (điểm) Tăng / giảm (%)
Mỹ Dow Jones 8.149,01 8.000,86  Down148,15 Down1,82
Nasdaq 1.507,84 1.476,42  Down  31,42 Down2,08
S&P 500 845,14 825,88 Down  19,26 Down2,28
Anh FTSE 100 4.190,11 4.149,64  Down  40,47  Down0,97
Đức DAX 4.428,11 4.338,35  Down  89,76 Down2,03
Pháp CAC 40 3.009,75 2.973,92  Down  35,83 Down1,19
Đài Loan Taiwan Weighted 4.247,97 N/A N/A N/A
Nhật Nikkei 225 8.251,24 7.994,05  Down257,19 Down3,12
Hồng Kông Hang Seng 13.154,43 13.278,21 Up123,78 Up0,94
Hàn Quốc KOSPI Composite 1.166,56 1.162,11 Down    4,45 Down0,38
Singapore Straits Times 1.766,72 1.743,99 Down  22,73 Down1,29
Trung Quốc Shanghai Composite 1.990,66 N/A N/A N/A
Ấn Độ BSE 30 9.236,28 9.289,11 Up 52,83 Up0,57
Australia ASX 3.461,30 3.478,10 Up 16,80  Up0,49
Nguồn:  CNBC, Thomson Reuters, Bloomberg

Giá vàng tăng mạnh, giá dầu trượt dài

Thị trường chứng khoán Mỹ sụt giảm đẩy giới đầu tư ồ ạt tháo chạy sang “vịnh tránh bão” là vàng…

Sự lên xuống thất thường của giá vàng quanh mốc trung tâm 900 USD/oz phản ánh những yếu tố tác động giằng co trên thị trường ở thời điểm hiện nay.

Thị trường chứng khoán Mỹ sụt giảm đẩy giới đầu tư ồ ạt tháo chạy sang “vịnh tránh bão” là vàng, đẩy giá kim loại quý này vượt 900 USD/oz. Giá dầu trượt về mức 41 USD/thùng.

Trong thời gian một số thị trường châu Á, trong đó có Việt Nam, đóng cửa nghỉ lễ năm mới âm lịch, giá vàng tại thị trường Mỹ biến động khá mạnh. Mốc 900 USD đã có lúc được tái lập do giới đầu tư thua lỗ đậm trên thị trường chứng khoán đã đổ vốn sang thị trường vàng để tranh thủ đợt tăng giá này kiếm lời. Nhưng sau đó, giá vàng lại ngay lập tức rớt về mức 880 USD/oz do các nhà đầu tư nhanh chóng bán ra để chốt lãi.

Sự lên xuống thất thường của giá vàng quanh mốc trung tâm 900 USD/oz phản ánh những yếu tố tác động giằng co trên thị trường ở thời điểm hiện nay.

Một mặt, giới đầu tư quốc tế trong tâm trạng e sợ sự bất ổn gia tăng của nền kinh tế toàn cầu đang tăng cường tìm đến vàng như một kênh đầu tư an toàn.

Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (FED) vừa lên tiếng cảnh báo về sự gia tăng của những rủi ro sụt giảm tăng trưởng của kinh tế thế giới. Đây là lần đầu tiên xảy ra khủng hoảng, FED đưa ra một cảnh báo như vậy. Tốc độ tăng GDP quý 4/2008 của kinh tế Mỹ được công bố ngày 29/2 này được dự báo có thể ở mức âm 5,5%.

Suy thoái tại Nhật Bản – nền kinh tế lớn thứ hai thế giới – đang có khả năng trở thành thời kỳ suy thoái tồi tệ nhất ở nước này kể từ Chiến tranh thế giới thứ hai trở lại đây. Số liệu vừa công bố cho thấy, sản lượng công nghiệp của nước này trong tháng 12/2008 đã sụt giảm với tốc độ chưa từng có 9,6%, trong khi tỷ lệ thất nghiệp vọt lên mức 4,4% từ mức 3,9% của tháng trước đó – mức tăng mạnh nhất trong vòng 41 năm. Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) dự báo, GDP của Nhật có thể tăng trưởng âm 2,6% trong năm nay.

Về tăng trưởng kinh tế toàn cầu, IMF dự báo, kinh tế thế giới năm nay chỉ tăng trưởng 0,5%, giảm mạnh so với mức dự báo trước đó là 1,75%.

Một cuộc điều tra do Hiệp hội Thị trường vàng London (LBMA) thực hiện dự báo, cùng với viễn cảnh u ám của kinh tế thế giới, việc chính phủ các nước chi hàng ngàn tỷ USD để khôi phục nền kinh tế và hệ thống ngân hàng sẽ giúp giá vàng tăng ít nhất 17% trong năm 2009 này. Kết thúc năm 2008, giá vàng ở mức trên 880 USD/oz.

Nhưng mặt khác, ở thời điểm hiện nay, sự tăng giá của vàng bị cản lại bởi sự vững giá của đồng USD, bất chấp những dữ liệu xấu của kinh tế Mỹ, do kinh tế châu Âu và châu Á cũng liên tục phát đi những thông tin đáng lo ngại. Những cảnh báo về vấn đề giảm phát, thay vì lạm phát, đối với nền kinh tế thế giới cũng tạo áp lực đẩy giá vàng xuống. Ngoài ra, những áp lực bán vàng ra để thu lời bù lỗ cho các danh mục đầu tư khác vẫn còn khi thị trường chứng khoán toàn cầu chưa thể cắt cơn sụt giảm.

Chốt phiên giao dịch lúc rạng sáng nay theo giờ Việt Nam, giá vàng giao ngay tại New York tăng 21,9 USD/oz (2,5%) so với giá chốt phiên liền trước, đạt mức 909,3 USD/oz. Giá vàng giao kỳ hạn tháng 4 tại Sở Giao dịch Hàng hóa New York (NYMEX) tăng 16,5 USD/oz (1,9%), đạt mức 906,5 USD/oz.

Trong phiên giao dịch, giá vàng trên cả hai thị trường cùng biến động mạnh, có lúc tụt về mức 875 USD/oz. Sau khi một loạt dữ liệu xấu về kinh tế Mỹ được công bố như số lượng đơn đặt hàng lâu bền năm 2008 giảm 5,7% – mức giảm mạnh nhất từ năm 2001; doanh số bán nhà mới xây trong tháng 12/2008 ở nước này giảm 14,7% – tháng giảm mạnh nhất kể từ năm 1994… thị trường chứng khoán Mỹ lao dốc mạnh. Giới đầu tư vì thế đẩy mạnh chuyển vốn sang thị trường vàng, giúp giá kim loại quý này lấy lại ưu thế và vượt mốc 900 USD/oz.

Sáng nay tại châu Á, giá vàng lại quay đầu đi xuống. Ở thời điểm 11h12 giờ Việt Nam, giá vàng giao ngay tại châu Á trên bảng giá trực tuyến Kitco là 903 USD/oz, giảm hơn 6 USD/oz so với giá đóng cửa hôm qua tại New York. Các nhà phân tích nhận định, sự tăng giá của vàng ở thời điểm này nhiều khả năng khó bền vững vì sau mỗi đợt tăng giá mạnh, giới đầu tư sẽ lại bán ra để lấy tiền bù lỗ cho danh mục đầu tư chứng khoán.

Tỷ giá đồng USD so với Euro trên thị trường quốc tế vẫn đang vững vàng quanh mốc 1 Euro tương đương 1,3 USD. Theo dữ liệu của hãng tin Bloomberg, vào lúc 11h31 tại Tokyo, 1 Euro tương đương 1,2901 USD so với mức 1 Euro bằng 1,2954 USD tại cuối ngày hôm qua tại thị trường New York. Tháng này, đồng USD đã lên giá 8,3% so với Euro.

Tại thị trường trong nước, đa phần các công ty vàng bạc đá quý lớn và các điểm giao dịch ngoại tệ hôm nay vẫn chưa mở cửa trở lại.

Lo ngại về sự giảm tốc mạnh của tăng trưởng kinh tế thế giới liên tục đẩy giá dầu đi xuống trong tuần nghỉ tết. Báo cáo hàng tuần của Bộ Năng lượng Mỹ cho thấy, dự trữ dầu thô của nước này tiếp tục tăng thêm 1,9% trong tuần qua, lên mức 338,8 triệu thùng, cao nhất từ tháng 8/2007 tới nay. Đây là một dấu hiệu cho thấy nhu cầu tiêu thụ dầu của nền kinh tế lớn nhất thế giới vẫn trên đà trượt giảm.

Từ mức trên 46 USD/thùng vào cuối tuần trước, giá dầu đã trượt dần về mức 41 USD/thùng. Đóng cửa phiên hôm qua tại NYMEX, giá dầu ngọt nhẹ giao tháng 3 giảm 0,72 USD/thùng (1,7%), còn 41,44 USD/thùng. Sáng nay, giá dầu thế giới phục hồi nhẹ, đứng ở mức 41,7 USD/thùng, tăng 0,26 USD/thùng, ở thời điểm 11h06 giờ Việt Nam.

Giá cả những ngày đầu năm biến động thế nào?

Hàng hóa, dịch vụ trong dịp Tết, giá có tăng hơn so với những ngày thường cuối năm trước, nhưng mức độ tăng không lớn…

Bước sang những ngày chuẩn bị cho Tết về tổng thể giá cả không biến động nhiều.

Hàng hóa, dịch vụ trong dịp Tết, giá có tăng hơn so với những ngày thường cuối năm trước, nhưng mức độ tăng không lớn.

Các dịch vụ, nhất là dịch vụ giao thông, du lịch đã được các doanh nghiệp chuẩn bị khá tốt, bảo đảm nhu cầu đi lại, vui chơi, giải trí cho người dân. Thị trường Tết năm 2009 của cả nước nói chung bình ổn, không xảy ra hiện tượng thiếu hàng, sốt giá.

Đây là nhận định chung của sở tài chính các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương và qua tổng hợp của Bộ Tài chính.

Theo quan sát của chúng tôi, những ngày giáp Tết, tại các siêu thị và trung tâm thương mại hàng sản xuất trong nước chiếm thị phần lớn (80-95%), các loại thực phẩm chế biến sẵn, thực phẩm nguội, bánh, kẹo, đồ uống, trái cây, giỏ quà Tết các loại… sản xuất trong nước được tiêu thụ khá mạnh.

Giá cả thị trường sau khi chỉ số giá tiêu dùng tính từ ngày 15/12/2008 đến ngày 15/1/2009 tăng nhẹ 0,32%, bước sang những ngày chuẩn bị cho Tết về tổng thể không biến động nhiều; trong những ngày giáp Tết (26, 27, 28, 29) giá nhiều nhóm hàng có những biến động trái chiều nhau: có những loại tăng như: thịt lợn, thịt bò, thịt gà, thủy sản tăng khoảng 5% đến 20% (tùy loại); các loại hoa, cây cảnh tăng khoảng 1,5 đến 2 lần so với Tết năm trước; giá một số hàng hóa khác cũng tăng nhẹ như: ga, đồ uống, thuốc lá…

Nhưng một số loại hàng, dịch vụ khác lại có giá ổn định như: xăng, dầu, xi măng, phân bón, cước vận chuyển hàng không, xe buýt nội đô… và có những loại hàng giá giảm như lương thực, hàng điện máy, quần áo, đồ gia dụng…

Tuy nhiên, đến chiều 30 Tết thị trường cây hoa cảnh đột ngột giảm giá từ 50% đến 70%. Ngược lại, dịch vụ rửa xe máy và ôtô lại tăng gấp 2 – 3 lần so với ngày thường.

Giá vàng và tỷ giá USD cũng có biến động nhẹ: giá vàng từ khoảng 17,7 triệu đồng tăng lên hơn 18 triệu đồng/lượng; tỷ giá USD trên thị trường tự do từ khoảng 17.580 đồng lên khoảng 17.700 đồng/USD.

Thị trường chứng khoán không có biến động nhiều, tại phiên giao dịch cuối cùng, chỉ số VN-Index ở mức 303,21 điểm, HASTC Index 99,93 điểm.

Từ ngày mùng 2 Tết, đã có một số cửa hàng dịch vụ mở hàng lấy may. Giá cả các loại rau ở các chợ tăng nhẹ và ít người mua vì đa số đã chuẩn bị từ trước Tết.

Đánh giá về giá cả thị trường đầu năm 2009, ông Nguyễn Tiến Thỏa, Cục trưởng Quản lý giá, Bộ Tài chính cho rằng, Tết năm nay thị trường bình ổn, giá biến động không nhiều chính là do cơ quan chức năng đã triển khai một loạt các chính sách, biện pháp đồng bộ như thực hiện tốt Chỉ thị số 35/2008/CT-TTg ngày 9/12/2008 về tăng cường các giải pháp thúc đẩy sản xuất, kinh doanh, lưu thông hàng hóa và bình ổn thị trường Tết Nguyên đán Kỷ Sửu 2009 của Thủ tướng Chính phủ như đẩy mạnh sản xuất, dự trữ hàng hóa, tăng cung ra thị trường đáp ứng nhu cầu của thị trường.

Bên cạnh đó, Ngân hàng Nhà nước đã thực hiện giảm lãi suất chủ đạo của đồng Việt Nam thêm 1,5%, như lãi suất cơ bản từ 8,5% xuống 7%, lãi suất tái cấp vốn từ 9,5% xuống 8%, lãi suất tái chiết khấu từ 7% xuống 6%, tạo điều kiện cho các ngân hàng thương mại giảm lãi suất cho vay xuống còn khoảng 10,5%.

Đồng thời kiểm tra, kiểm soát thị trường, chống buôn lậu, gian lận thương mại và gian lận thuế, kiểm tra việc chấp hành pháp luật Nhà nước về giá cũng được chú trọng hơn trước…

Nhận định về tình hình kinh tế của những tháng tiếp theo trong năm 2009, nhiều chuyên gia kinh tế cho rằng tuy giá cả ít biến động trong dịp Tết nhưng tình hình sản xuất, kinh doanh sẽ gặp nhiều khó khăn do nhu cầu tiêu thụ giảm so với năm 2008 và thiếu nguồn vốn đầu tư. Sức mua trong nước trì trệ, cầu về hàng hóa dịch vụ thấp, hàng hóa khó tiêu thụ..

Một đặc điểm có thể ảnh hưởng tới việc sản xuất, kinh doanh trong nước là từ 1/1/2009 chúng ta đã mở cửa thị trường bán lẻ Việt Nam cho các doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài.

Theo bà Đinh Thị Mỹ Loan, Tổng thư ký Hiệp hội bán lẻ Việt Nam, thị trường bán lẻ Việt Nam trong năm 2009 thì: “Tình hình kinh tế chung cũng như các ngành kinh tế của Việt Nam, trong đó có ngành bán lẻ sẽ bị ảnh hưởng rất lớn. Cho nên, năm 2009 không phải là một năm mà chúng ta có thể chứng kiến sự sôi động trên thị trường bán lẻ”.

Do vậy các doanh nghiệp bán lẻ Việt Nam phải cố gắng và nỗ lực rất nhiều.

Hiện tại, những nỗ lực cố gắng đó đã được thể hiện ngay trong cuối năm 2008, ví dụ như các doanh nghiệp tìm mọi cách để tiết giảm chi phí để hàng hóa đến tay người tiêu dùng ở mức giá chấp nhận được, cùng chia sẻ với người tiêu dùng hết thời kỳ lạm phát lại sang giảm phát như hiện nay.

Trước tình hình đó, Chính phủ đã đưa 5 nhóm giải pháp trong đó có giải pháp quan trọng là kích cầu bao gồm kích cầu đầu tư và kích cầu tiêu dùng. Theo đó các địa phương cần có các giải pháp tích cực thực hiện chủ trương của chính phủ để sản xuất kinh doanh phát triển.

KBC sẽ trả cổ tức năm 2008 bằng cổ phiếu

Công ty Cổ phần Phát triển Đô thị Kinh Bắc vừa công bố nghị quyết đại hội đồng cổ đông…

Đại hội đồng cổ đông của KBC đã thông qua phương án chào bán riêng lẻ 20 triệu cổ phiếu cho khoảng dưới 100 nhà đầu tư để tăng vốn điều lệ.

Công ty Cổ phần Phát triển Đô thị Kinh Bắc (KBC-HASTC) vừa công bố nghị quyết đại hội đồng cổ đông.

Theo đó, đại hội đồng cổ đông của KBC đã thông qua việc hủy bỏ các kế hoạch tăng vốn đã được đại hội cổ đông thường niên năm 2008 thông qua nhưng chưa được thực hiện cho tới thời điểm hiện tại.

Đại hội đồng cổ đông đã thông qua phương án phát hành cổ phiếu thưởng và trả cổ tức năm 2008 bằng cổ phiếu cho cổ đông hiện hữu, mệnh giá 10.000 đồng với tỷ lệ thực hiện quyền 2:1.

Trong đó, phát hành cổ phiếu thưởng cho cổ đông hiện hữu với tỷ lệ 30%, được lấy từ nguồn thặng dư vốn cổ phần thu được từ giai đoạn 1 của đợt chào bán 20 triệu cổ phần để tăng vốn điều lệ trong tháng 11/2007 và trả cổ tức năm 2008 bằng cổ phiếu cho cổ đông hiện hữu với tỷ lệ 20% được lấy từ nguồn lợi nhuận sau thuế giữ lại của công ty cho tới thời điểm phát hành.

Bên cạnh đó, đại hội đồng cổ đông cũng đã thông qua phương án chào bán riêng lẻ 20 triệu cổ phiếu cho khoảng dưới 100 nhà đầu tư để tăng vốn điều lệ, mệnh giá 10.000 đồng/cổ phiếu với tổng giá trị chào bán theo mệnh giá là 200 tỷ đồng.

Theo KBC, số tiền thu được từ đợt chào bán sẽ được sử dụng để nâng cao năng lực tài chính và tài trợ cho các hoạt động kinh doanh của công ty trong thời gian tới.

Chứng khoán Việt Nam 2009: Khó khăn liệu đã hết?

Đại diện cơ quan quản lý, hiệp hội và lãnh đạo một số công ty chứng khoán chia sẻ những cảm nhận thị trường…

Ông Nguyễn Duy Hưng, Chủ tịch Hội đồng Quản trị SSI.

Năm 2008 được đánh giá là một năm đầy sóng gió đối với thị trường chứng khoán Việt Nam và được xem là xấu nhất trong suốt hơn 8 năm hoạt động, do chịu ảnh hưởng từ những biến động lớn của kinh tế thế giới và trong nước.

Sự sụt giảm mạnh của thị trường chứng khoán thể hiện rõ nhất qua chỉ số giá chứng khoán tại hai sàn niêm yết HASTC và HOSE.

So với thời điểm đầu năm 2008, HaSTC-Index và VN-Index giảm tương ứng 67,2% và 66,9%. Các công ty chứng khoán là những người hơn ai hết hiểu rõ nhất những khó khăn này.

Liệu khó khăn của năm 2008 có còn kéo dài đến năm 2009 không? Đại diện cơ quan quản lý, hiệp hội và lãnh đạo một số công ty chứng khoán đã chia sẻ với chúng tôi những cảm nhận thị trường trong ngày đầu xuân Kỷ Sửu.

“Năm 2008 chưa phải là đáy”

(Ông Nguyễn Duy Hưng – Chủ tịch Hội đồng Quản trị Công ty Cổ phần Chứng khoán Sài Gòn – SSI)

“Theo tôi, năm 2009 sẽ nhiều khó khăn hơn năm 2008. Những vấn đề mà nền kinh tế sẽ phải đối mặt là thiểu phát, thiếu vốn, khó khăn trong việc tìm nguồn tiền cân bằng cán cân thanh toán và thậm chí cả mối đe doạ lạm phát trở lại…

Cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu trong năm 2008 được nhiều người nhìn nhận còn lớn hơn cuộc khủng hoảng năm 1929 và kinh khủng hơn cả năm 1997.

Điều này có nghĩa là những gì diễn ra trong năm 2008 chưa phải là đáy.

Đối với SSI, chúng tôi cũng đang thu thập thông tin để phân tích và xây dựng chiến lược cho riêng mình.

Tuy nhiên, mục tiêu mà chúng tôi hướng tới trong năm 2009 là giữ vững để qua cơn bão hơn là tăng trưởng. Để làm được việc này thì việc đầu tiên là siết lại hệ thống.

SSI cũng xác định khó khăn chỉ là trước mắt, việc lên kế hoạch sẽ ngắn hạn, 3-6 tháng sẽ điều chỉnh chiến lược theo điều kiện và hoàn cảnh. Năm 2009, SSI sẽ tập trung đầu tư vào những doanh nghiệp hàng đầu với giá xoay quanh giá trị sổ sách.

Mua cổ phiếu của các doanh nghiệp loại này với giá trị sổ sách có thể ví như cơ hội góp vốn làm cùng vì người mua không phải trả những chi phí cơ hội để gây dựng doanh nghiệp trước đó.

Bên cạnh đó, trong năm 2009, SSI cũng sẽ trình làng những sản phẩm đầu tư tài chính hoàn toàn mới trên cơ sở kỳ vọng và suy nghĩ của những người có tiền”

“Tin rằng sẽ có thêm cơ hội”

(Bà Josephine Yei, Tổng giám đốc Công ty Chứng khoán SaigonBank Berjaya – SBBS)

“Thị trường chứng khoán Việt Nam hiện tại đang trong giai đoạn bất lợi cho tất cả các công ty chứng khoán, song điều quan trọng nhất là tình hình này ảnh hưởng như thế nào đến từng công ty.

Khi SBBS bắt đầu đi vào hoạt động, Việt Nam và đặc biệt là thị trường chứng khoán trong thời gian đó rất mất ổn định, chỉ số VN-Index giảm hơn 60% so với cùng kỳ đầu năm, bản thân chúng tôi cũng không dám khẳng định liệu thị trường chứng khoán sẽ hồi phục hay còn tuột dốc nặng nề hơn.

Chúng tôi đã từng vượt qua nhiều giai đoạn khủng hoảng tại đất nước của mình, ví dụ như khủng hoảng tài chính đánh vào Malaysia năm 1997.

Bởi thế, chế ngự rủi ro và bảo toàn vốn luôn là nhiệm vụ hàng đầu của chúng tôi trong việc quản lý mọi hoạt động tính theo đơn vị ngày.

Năm 2009 là một năm khó khăn cho thị trường chứng khoán Việt Nam cũng như những thị trường chứng khoán khác trên thế giới. Đây là vấn đề không chỉ của Việt Nam mà còn của toàn thế giới.

Điều này tùy thuộc rất nhiều vào Chính phủ, các cơ quan chức năng và tất cả các tổ chức trung gian trên thị trường chứng khoán trong đó có các công ty chứng khoán, họ phải làm việc cùng nhau để giúp thị trường chứng khoán Việt Nam hồi phục nhanh hơn và thu hút nhiều nhà đầu tư hơn những thị trường khác.

Điều này cần sự hỗ trợ từ nhiều phía và không thể chỉ phụ thuộc vào cá nhân bên nào. Chúng ta phải tích cực thúc đẩy thị trường hồi phục chứ không chỉ khoanh tay ngồi chờ đợi.

Một khi nền kinh tế thế giới đã phục hồi, chúng ta đã phải trong tư thế sẵn sàng cạnh tranh để thu hút nhiều nguồn đầu tư nước ngoài về Việt Nam thay vì vào những nước khác…

Nhìn chung, chúng tôi nhận thấy thị trường Việt Nam có những tiềm năng cực kỳ lớn để phát triển. Số lượng những tài khoản giao dịch chứng khoán được mở hiện nay chỉ chiếm khoảng 0,6% dân số và giá trị vốn hóa thị trường chứng khoán chỉ chiếm khoảng 15% GDP Việt Nam nếu so với thị trường chứng khoán các nước trong khu vực (chiếm bình quân 45% GDP).

Ngoài ra, sẽ có thêm hơn 800 doanh nghiệp Nhà nước được cổ phần hóa trong vòng 3 năm tới. Chúng tôi tin tưởng rằng sẽ có thêm nhiều cơ hội cho hoạt động chứng khoán phát triển và trở nên thịnh vượng tại Việt Nam”.

“Quy trình IPO có nhiều bất cập”

(Ông Nguyễn Ngọc Cảnh, Trưởng ban Hợp tác quốc tế, Ủy ban Chứng khoán)

“Việc cổ phiếu của các công ty niêm yết mất giá đến 70% trên thị trường là kết quả của việc giá cổ phiếu được đẩy lên quá cao, gây ra hiện tượng bong bóng.

Nay tình hình đã ở chiều hướng ngược lại, tuy nhiên việc giá trị cổ phiếu đã bị pha loãng quá nhiều trong thời gian vừa qua vẫn chưa được khắc phục.

Do đó, Ủy ban Chứng khoán Nhà nước có thể yêu cầu các công ty đại chúng thực hiện việc mua lại cổ phiếu của chính mình song song với việc giảm vốn điều lệ chứ không làm cổ phiếu quỹ như trước đây, hạn chế hoặc cấm việc chi trả cổ tức bằng tiền mặt, không khuyến khích các công ty có lợi nhuận thấp trong năm trích quỹ khen thưởng cho nhân viên. Để thị trường chứng khoán hồi phục và tăng trưởng trong thời gian tới, chúng tôi cũng có đề xuất nên có mức độ xử phạt nặng tính theo tỷ lệ doanh thu của doanh nghiệp.

Chúng tôi cũng đồng tình với ý kiến là quy trình thực hiện IPO ở các doanh nghiệp nhà nước đang có nhiều bất cập, cản trở kế hoạch thực hiện cổ phần hóa các doanh nghiệp nhà nước.

Tuy nhiên, cần làm rõ khái niệm thế nào là nhà đầu tư chiến lược, bởi có nhiều nhà đầu tư chiến lược cả nước ngoài lẫn trong nước đều không có nhiều đóng góp cho doanh nghiệp, tức vai trò cũng chỉ như nhà đầu tư nhỏ lẻ.

Vấn đề không phải nằm ở quy trình thực hiện IPO mà nằm ở chiến lược cổ phần hóa doanh nghiệp.

Mục đích chính của cổ phần hóa doanh nghiệp không chỉ nằm ở đa dạng hóa sở hữu, mà là nâng cao hiệu quả hoạt động của chính các doanh nghiệp được cổ phần hóa.

Nhưng với cách làm như hiện nay, bộ máy quản lý của các doanh nghiệp không có gì thay đổi so với trước cổ phần hóa nên đã đánh mất ý nghĩa của việc cổ phần hóa.

Đối với vấn đề này, chúng tôi đề xuất thực hiện bán trọn gói kiểm soát cho một nhà đầu tư chiến lược thông qua phương thức đấu giá công khai, đi kèm với các cam kết đầu tư và phát triển doanh nghiệp.

Sau khi thực hiện bán cổ phiếu cho nhà đầu tư chiến lược, Nhà nước sẽ thực hiện theo từng giai đoạn việc bán cổ phần còn lại của mình cho các nhà đầu tư nhỏ lẻ trên thị trường chứng khoán.

Bên cạnh đó, chúng tôi cũng đề xuất ngừng việc chuyển đổi các doanh nghiệp nhà nước thành các công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên hay chỉ cổ phần hóa một tỷ lệ rất nhỏ dưới 20%. Việc chuyển đổi như thế này đã tạo ra một lỗ hổng trong cơ chế quản lý”.

“Phá sản đối với công ty chứng khoán sẽ dễ hơn sáp nhập”

(Ông Nguyễn Thanh Kỳ, Tổng thư ký Hiệp hội Kinh doanh chứng khoán)

“Vừa qua, Chính phủ đã thông qua gói kích cầu để hỗ trợ nền kinh tế. Nếu việc kích cầu này hiệu quả sẽ giúp ích cho doanh nghiệp rất nhiều. Nếu nền kinh tế khởi sắc sẽ tạo đà cho sự phát triển của thị trường chứng khoán.

Tuy nhiên, nếu chỉ “kích” vào khu vực sản xuất, kinh doanh vẫn là chưa đủ và cần phải “kích” cả tiêu dùng.

Đối với các công ty chứng khoán, theo tôi, với các giải pháp vừa qua (kích cầu sản xuất kinh doanh; giãn, giảm thuế…) các công ty chứng khoán không được hưởng lợi nhiều.

Trong khi, công ty chứng khoán là tổ chức quan trọng trên thị trường chứng khoán.

Và nếu Chính phủ thực sự quan tâm hay quan tâm đầy đủ đến thị trường chứng khoán thì cũng nên kiến nghị, bỏ đánh thuế thu nhập đối với hoạt động kinh doanh chứng khoán.

Ngoài ra, Nhà nước cũng nên có các biện pháp hỗ trợ các công ty chứng khoán như cho phép họ mở ra các nghiệp vụ khác như phái sinh, tất nhiên, điều này cũng sẽ đụng đến chính sách. Tôi cũng nghĩ rằng, vai trò của Ủy ban Chứng khoán cũng cần phải được đề cao hơn nữa.

Năm 2009, theo tôi, nếu gặp khó khăn thì chuyện phá sản đối với công ty chứng khoán sẽ dễ hơn việc sáp nhập bởi đặc thù của văn hóa Việt Nam khác với nhiều nước khác.

Chuyện một công ty chứng khoán trong nước sáp nhập công ty chứng khoán  khác hay mua một phần công ty chứng khoán  là rất khó dù rằng có cơ chế”.

“Không có ai để cùng chịu trách nhiệm tập thể!”

Hai năm làm “doanh nghiệp” đã mang lại những kinh nghiệm gì cho nguyên Phó giám đốc Sở Kế hoạch và Đầu tư Tp.HCM?…

Ông Lương Văn Lý, Chủ tịch Hội đồng Quản trị kiêm Tổng giám đốc Công ty Cổ phần Tư vấn Đại Nam Long (DNL Partners).

Ông Lương Văn Lý, Chủ tịch Hội đồng Quản trị kiêm Tổng giám đốc Công ty Cổ phần Tư vấn Đại Nam Long (DNL Partners) là một trong số người hiếm hoi từ vị trí quản lý Nhà nước nhảy tay ngang ra ngoài làm doanh nghiệp tư nhân từ năm 2007.

Hai năm làm “doanh nghiệp” đã mang lại những kinh nghiệm gì cho nguyên Phó giám đốc Sở Kế hoạch và Đầu tư Tp.HCM cũng như câu hỏi: làm “quan” và làm “doanh nghiệp”, vị trí nào gai góc hơn?

Từ cương vị Phó giám đốc Sở Kế hoạch và Đầu tư Tp.HCM, năm 2007 ông đã từ bỏ chiếc ghế nhiều trách nhiệm tại nhiệm sở Nhà nước để trở thành một doanh nhân. Hai năm chắc đã đủ để ông trải nghiệm và chia sẻ, đó có phải là một trong những quyết định quan trọng nhất đối với ông?

Thực tế, tôi chưa bao giờ tổng kết những quyết định mà mình đã đưa ra. Nhưng nhìn lại những quyết định quan trọng nhất cho đến nay là quyết định đi học nước ngoài năm 1970, quyết định về nước theo Đảng và làm việc cho Nhà nước năm 1977 rồi quyết định ra tư nhân năm 2007 tôi thấy chưa hối tiếc quyết định nào.

Mỗi quyết định đều đáp ứng được những hoài bão to lớn, những nhu cầu bức thiết của từng giai đoạn và cuối cùng đều giúp cho bản thân tôi lớn lên nhiều, phong phú thêm nhiều.

Như hiện nay tôi đang làm công việc tư vấn của mình với những kinh nghiệm và bài học từ thời gian học ở nước ngoài, từ thời gian làm việc trong bộ máy Nhà nước, đặc biệt là thời gian công tác ở Sở Kế hoạch và Đầu tư Tp.HCM.

Nhờ đó mà tôi biết được nhà đầu tư nước ngoài muốn điều gì và ngược lại môi trường kinh doanh ở Việt Nam có thể đáp ứng được đến đâu và nếu chẳng may chưa đáp ứng được thì nói thế nào để ngày sau họ còn quay trở lại.

Còn đương nhiên, mỗi giai đoạn đều có cái khó riêng, không có bài học nào của giai đoạn trước giải được hết tất cả các bài toán của giai đoạn sau. Chính vì thế cuộc sống mới lý thú.

Thử thách lớn nhất hiện nay là mình làm mình chịu trách nhiệm, không ai chịu trách nhiệm thay mà cũng không có ai để cùng chịu trách nhiệm tập thể.

Kể từ khi ra ngoài và thành lập DNL Partners, đâu là khó khăn lớn nhất đối với ông?

Khó khăn lớn nhất là hình dung những khó khăn mà mình sẽ gặp trong công việc mới. Khi thành lập DNL Partners, tình hình kinh tế, tình hình đầu tư ở Việt Nam đang thuận lợi như cánh buồm gặp gió. Khi đó, không ai có thể hình dung được tình hình đột ngột khó khăn như hiện nay.

Nắm giữ nhiều chức vụ quan trọng trong các cơ quan Nhà nước đã giúp ông những gì trong việc điều hành DNL Partners?

Kinh nghiệm lớn nhất sau bao nhiêu năm làm việc ở nhiệm sở Nhà nước, tôi đúc rút lại chỉ vỏn vẹn có mấy chữ: gắn bó, tin cậy và chủ động. Đó là điều mà đi đâu tôi cũng cố thực hiện vì đã kiểm nghiệm.

Nhưng tạo sự gắn bó trong đơn vị với nhau, thể hiện sự tin cậy đối với anh em để anh em phát huy hết sở trường của mình là những việc tương đối dễ còn làm sao để khơi dậy cho được tính chủ động trong công việc của anh em là việc khó hơn nhiều.

Đây là điều mà cho đến nay tôi chưa dám nói tôi đã thành công hoặc thậm chí sắp thành công.

Với quyết định rời cơ quan Nhà nước ra thành lập công ty riêng, phải chăng ông thích sự thử thách?

Đúng. Tôi thích thử thách vì đó vừa là chất cay cay vừa là vị mặn mà cho cuộc sống. Chấp nhận thử thách tức là cũng chấp nhận mạo hiểm nhưng chỉ một phần mạo hiểm nhỏ thôi, phần rủi ro mà lý trí và sự hiểu biết bao giờ cũng hạn chế của mình chưa lường được hết.

Còn mạo hiểm theo kiểu “cứ làm đến đâu hay đến đấy” thì quả thật không nên và tôi cũng chưa bao giờ làm như vậy.

Vậy quan điểm của ông trong cuộc sống và trong công việc như thế nào?

Với tôi, làm việc gì cho ra việc đó, có lúc cũng phải làm ngày làm đêm nhưng không phải lúc nào cũng “làm việc như điên”. Cuộc sống cần có những tĩnh lặng. Nhưng nói “nhiều thời gian rảnh rỗi”, biết thế nào là nhiều. Tôi mê xem phim lắm, thèm được xem một ngày vài phim, nhưng có bao giờ được.

Trước thềm năm mới 2009, ông có tâm tư tình cảm gì cho sự phát triển kinh tế đất nước cũng như sự phát triển của đội ngũ doanh nhân trẻ Việt Nam hiện nay?

Đất nước còn nghèo lắm và đến nay vẫn chưa đủ cơ sở để giàu lên một cách ổn định.

Theo tôi, để phát triển bền vững một đất nước ngày nay nhất thiết phải có hai thứ: kết cấu hạ tầng kỹ thuật và doanh nhân.

Tầm quan trọng của kết cấu hạ tầng kỹ thuật ai cũng thấy, không cần phải nói nhiều nhưng tầm quan trọng của doanh nhân thì nhiều người chưa thấy. Vừa qua, nền kinh tế Mỹ hết sức lao đao, nhiều người trách chính phủ Mỹ nhưng thật ra người phải chịu trách nhiệm chính là các doanh nhân Mỹ.

Tôi thật sự nghĩ rằng ta phải quan tâm nhiều hơn nữa đến việc xây dựng tầng lớp doanh nhân Việt Nam sao cho Việt Nam có được càng nhiều càng tốt những doanh nhân chuyên nghiệp, được đào tạo chính quy, có đủ tài năng và bản lĩnh tận dụng cơ hội, vượt qua thử thách để ngoài việc bình thường là làm giàu cho bản thân còn phải thúc đẩy kinh tế đất nước phát triển.

Đối với giới trẻ, tôi xin phép được khuyên: thời kinh doanh “tay ngang” đã qua rồi. Do đó, đừng vội kinh doanh hãy học đã, học làm người để sống cho tử tế và học kinh doanh để biết kinh doanh. Còn nếu đã lỡ kinh doanh rồi thì đành… vừa kinh doanh vừa học vậy!.

Ông có nhìn nhận như thế nào về những thành quả trong thu hút vốn đầu tư nước ngoài của Việt Nam trong năm 2008?

Hết năm 2008, vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam đã vượt qua ngưỡng 60 tỷ, đây là con số cao kỷ lục từ năm 1987 cho đến nay. Trên thực tế những con số này đã làm nên những báo cáo rất đẹp, những con số cũng chứng tỏ ngày càng có nhiều nhà đầu tư quan tâm đến Việt Nam.

Tâm lý hăm hở vì Việt Nam là điều mà tất cả những người làm công việc xúc tiến đầu tư, thương mại đều mong muốn xảy ra. Tiếc là tâm lý ấy chưa kịp thành trào lưu (như đối với Trung Quốc chẳng hạn) thì đã bị cơn bão tài chính thế giới làm nguội đi. Rồi đây Việt Nam sẽ phải leo trở lại một phần con dốc.

Tuy nhiên, có được sự hăm hở của nhà đầu tư đi nữa thì cũng chỉ mới là bước đầu.

Thứ nhất, cuộc chiến giành giật nguồn đầu tư trên thế giới là một cuộc chiến không có phần kết cục. Dù thành quả của ngày hôm nay có thế nào đi nữa cũng vẫn phải tiếp tục cải tiến, đồng thời tích cực giới thiệu những cải tiến không ngừng ấy cho mọi người biết và ngày càng biết nhiều hơn nữa về Việt Nam.

Thứ hai, người ta thấy đất này làm ăn được, người ta đổ xô đến thì mình cũng phải xem người ta muốn làm ăn kiểu gì. Trong số những người nói sẽ bỏ vào hàng tỷ USD cũng có nhiều loại, vì là chủ nhà ta phải phân biệt.

Thứ ba, thu hút đầu tư nhưng phải giữ quyền chủ động theo chiến lược và kế hoạch của quốc gia. Không nên khi nhà đầu tư đổ nhiều tiền vào tài chính, du lịch, bất động sản thì rất nhiều địa phương đặt mục tiêu là ưu tiên phát triển dịch vụ, đến khi có được một vài dự án hàng tỷ USD trong công nghiệp thì lại “chuyển dịch” trở về công nghiệp. Nếu thế khi gần đây phát hiện có quá nhiều dự án công nghiệp gây ô nhiễm trầm trọng, khó kiểm soát, khó xử lý thì liệu có “chuyển dịch” đi đâu nữa không.

Mặc dù luồng vốn FDI năm 2008 tăng kỷ lục nhưng một số quan điểm lại đang tỏ ra khá lo ngại về luồng vốn này sẽ gây sức ép ngược trở lại đến sự phát triển của kinh tế Việt Nam trong những năm tới. Vậy, quan điểm của ông với vấn đề này như thế nào?

Nhà nước nắm chắc quyền chủ động là nhân tố quyết định thành công cho cả Nhà nước và cả nhà đầu tư. Nguyên lý này đã được kiểm nghiệm không ngừng.

Không chủ động đương nhiên sẽ bị “ép ngược”. Khi bị ép ngược đương nhiên sẽ có phản ứng hoặc của chính quyền hoặc của dư luận, xã hội và khi phản ứng đủ mạnh thì sẽ có sửa sai, chấn chỉnh.

Nhiều lần sửa sai, chấn chỉnh thì… tội nghiệp cho môi trường đầu tư lắm.

Phố Wall: Khủng hoảng, vẫn bộn tiền thưởng

2008 là một năm được xem là “thảm họa” đối với Phố Wall trên gần như mọi phương diện, trừ chuyện tiền thưởng…

Tổng mức tiền thưởng cho Phố Wall năm 2008 lớn thứ sáu trong lịch sử của ngành tài chính Mỹ, ngang với mức tiền thưởng của năm 2004 – khi chỉ số Dow Jones ở mức trên 10.000 điểm và đang trên đà tăng tới kỷ lục – Ảnh: Reuters.

2008 là một năm được xem là “thảm họa” đối với Phố Wall trên gần như mọi phương diện, trừ chuyện tiền thưởng.

Số liệu mới công bố cho thấy, trong năm ngoái, lãnh đạo và nhân viên các công ty tài chính ở đây được thưởng tổng số tiền 18,4 tỷ USD, chưa kể thưởng quyền chọn cổ phiếu.

Thống kê của cơ quan giám sát tiền tệ bang New York cho thấy, tổng mức tiền thưởng cho Phố Wall năm 2008 lớn thứ sáu trong lịch sử của ngành tài chính Mỹ, ngang với mức tiền thưởng của năm 2004 – khi chỉ số Dow Jones ở mức trên 10.000 điểm và đang trên đà tăng tới kỷ lục. Thế nhưng, hiện chỉ số này chỉ còn trên 8.000 điểm.

Con số thống kê về tiền thưởng nói trên được cơ quan giám sát tiền tệ New York thực hiện dựa trên số thuế thu nhập cá nhân thu được trong mùa thưởng cuối năm ở Phố Wall. Con số này chưa bao gồm các khoản thưởng là quyền chọn cổ phiếu. Nếu bao gồm cả mục này, tiền thưởng của Phố Wall còn lớn hơn nhiều.

Người đứng đầu cơ quan giám sát tiền tệ của New York, ông Thomas DiNapoli, cho biết, hiện còn chưa rõ các ngân hàng Mỹ có dùng tiền thuế của dân mà Chính phủ bơm cho để làm tiền thưởng hay không. Ông cho rằng nếu điều này thực sự xảy ra, đó sẽ là một sự xúc phạm lớn đối với người Mỹ, và lên tiếng thúc giục chính quyền Obama kiểm soát chặt chẽ vấn đề này.

Ngay sau khi con số thống kê trên được công bố, tân Tổng thống Barack Obama đã gọi khoản tiền thưởng lớn của Phố Wall năm nay là “đáng xấu hổ” – một động thái cho thấy ông Obama sắp tới có thể đẩy mạnh việc kiểm soát lương thưởng trong ngành tài chính như một điều kiện để các tập đoàn, công ty của ngành này được Chính phủ giải cứu.

Tuần qua, chuyện tiền thưởng ở Merrill Lynch, ngân hàng đầu tư tại Phố Wall vừa bị Bank of America thâu tóm, đã bị các cơ quan chức năng theo dõi chặt chẽ.

Tổng chưởng lý bang New York Andrew Cuomo đã gửi trát hầu tòa tới cựu CEO của Merrill là John Thain và một quan chức của Bank of America để hỏi thông tin về quyết định của Merrill chi 4 – 5 tỷ USD tiền thưởng cho nhân viên và lãnh đạo. Chính khoản tiền thưởng khổng lồ này đã khiến Bank of America lỗ đậm thêm khi mua vào Merrill và phải xin sự cứu trợ tài chính của Chính phủ.

Nhưng dù sao, do tác động khủng khiếp của cơn bão tài chính, so với một vài năm trước, tiền thưởng ở Phố Wall năm 2008 đã ít hơn nhiều. So với năm 2007, mức tiền thưởng đã giảm 44% từ mức 32,9 tỷ USD – một mức giảm lớn chưa từng có.

Tuy nhiên, mức giảm này là rất khiêm tốn so với những con số thua lỗ khổng lồ mà các tập đoàn và công ty Phố Wall gánh chịu trong năm qua. Theo ông DiNapoli, riêng bộ phận môi giới của các công ty tài chính đặt tại New York đã lỗ hơn 35 tỷ USD trong năm 2008, gấp 3 lần mức thua lỗ trong năm 2007.

Không ít người đã tỏ ra bất bình trước khoản tiền thưởng năm vừa rồi của Phố Wall. Giáo sư Lucian Bebchuk thuộc Trường Luật Harvard, một chuyên gia về lương thưởng cho lãnh đạo doanh nghiệp, gọi con số tiền thưởng này là “khó hiểu”. Vị giáo sư này cho rằng, tiền thưởng là để dành cho những trường hợp doanh nghiệp làm ăn hiệu quả và nhằm mục đích giữ chân nhân viên, nhưng Phố Wall năm rồi thua lỗ quá nặng nề và sa thải hàng loạt nhân viên, ngay cả những người tài giỏi.

Tuy nhiên, dù sao, tiền thưởng bình quân cho lãnh đạo Phố Wall năm qua vẫn thấp hơn so với nhiều ở một số doanh nghiệp thuộc các lĩnh vực khác tại Mỹ.

Theo số liệu của công ty nghiên cứu lương thưởng Equilar, thưởng bình quân cho lãnh đạo cao cấp (không tính CEO) tại 132 công ty ở Mỹ có doanh thu từ 1 tỷ USD trở lên đã tăng 14% năm qua lên mức 265.594 USD. Đối với Phố Wall, mức thưởng bình quân này đã giảm 36,7%, còn 112.000 USD.

Trong khi đó, việc tiền thưởng của Phố Wall “co lại” năm 2008 đã khiến bang New York thiệt hại mất 1 tỷ USD thuế thu nhập. Riêng thành phố New York thiệt hại 275 triệu USD.

(Theo New York Times)

Chứng khoán Mỹ giảm mạnh sau nhiều tin xấu

Ngày 29/1, Phố Wall bất ngờ giảm mạnh và quét sạch thành quả của phiên tăng điểm trước đó…

Ba chỉ số chứng khoán Mỹ đã giảm từ 2,7-3,3% trong ngày 29/1 – Ảnh: Reuters.

Ngày 29/1, Phố Wall bất ngờ giảm mạnh và quét sạch thành quả của phiên tăng điểm trước đó.

Hôm thứ Năm, Bộ Lao động Mỹ thông báo, số người nộp đơn xin trợ cấp thất nghiệp lần đầu trong tuần kết thúc vào ngày 17/1/2009 đã tăng 3.000 lên 588.000, từ 585.000 trong tuần trước đó.

Cùng ngày, Bộ Thương mại Mỹ cho biết, số đơn đặt hàng lâu bền của các nhà máy ở Mỹ đã giảm 2,6% trong tháng 12/2008, đưa tổng số đơn đặt hàng trong năm 2008 giảm 5,7% – mức giảm mạnh nhất kể từ năm 2001, sau khi tăng 1,3% trong năm 2007.

Bộ này cũng cho hay, doanh số bán nhà mới xây trong tháng 12/2008 ở Mỹ đã giảm 14,7% – tháng giảm mạnh nhất kể từ năm 1994. Giá trung bình một căn nhà đã giảm 9,3% xuống 206.500 USD/căn, so với cùng kỳ năm trước.

Các chỉ số giảm từ 2,7-3,3%

Ngày 29/1, nhà sản xuất xe ôtô Ford cho biết đã thua lỗ 5,88 tỷ USD, tương đương 2,46 USD/cổ phiếu trong quý 4/2008, từ mức lãi 3,06 tỷ USD (1,13 USD/cổ phiếu) trong quý 4/2007. Kết thúc ngày giao dịch, cổ phiếu của hãng đã giảm 3,94% xuống 1,95 USD/cổ phiếu.

Cùng ngày, Tập đoàn US Airways (NYSE-LCC) cho biết doanh thu của hãng trong quý 4/2008 đã giảm 0,6% xuống 2,76 tỷ USD; lợi nhuận sau thuế lỗ 541 triệu USD, tương đương 4,74 USD/cổ phiếu – cao hơn so với khoản lỗ 79 triệu USD (87 cent/cổ phiếu) trong quý 4/2007. Chốt phiên, cổ phiếu LCC mất 11,37% xuống 6,47 USD/cổ phiếu.

Chuyển qua thông tin về kết quả kinh doanh của một trong 30 tập đoàn lớn nhất trên sàn chứng khoán Mỹ – Tập đoàn 3M (NYSE-MMM) cho biết doanh thu của hãng đã giảm 11,2% xuống 5,5 tỷ USD trong quý 4/2008; lợi nhuận sau thuế đạt 536 triệu USD, tương đương 77 cent/cổ phiếu – thấp hơn so với mức lãi 851 triệu USD (1,17 USD/cổ phiếu) trong quý 4/2007.

Kết thúc phiên, cổ phiếu MMM tăng 2,04% lên 56,55 USD/cổ phiếu.

Liên quan đến lĩnh vực dược phẩm, một ngày sau khi tập đoàn dược phẩm Pfizer (NYSE-PFE) cho biết sẽ mua lại hãng Wyeth với giá 68 tỷ USD, cổ phiếu PFE đã giảm xuống gần tới mức thấp nhất trong 12 năm qua.

Không ít cổ đông của Pfizer đã lo ngại về triển vọng của thương vụ này nên đã đẩy mạnh bán cổ phiếu, đưa giá cổ phiếu PFE mất 2,07% xuống 15,12 USD/cổ phiếu.

Thị trường chứng khoán Mỹ đã giảm mạnh từ 2,7% đến 3,3% chỉ một ngày sau khi Phố Wall tăng vọt nhờ kế hoạch kích thích kinh tế trị giá 825 tỷ USD được thông qua.

Những kết quả không khả quan liên quan đến tình hình sản xuất kinh doanh của nhiều tập đoàn trong chỉ số S&P 500, Nasdaq, cũng như số liệu đáng thất vọng về doanh số bán nhà mới xây ở Mỹ, là nguyên nhân cơ bản đẩy thị trường Mỹ đi xuống.

Đối với chỉ số Dow Jones, chỉ có 3/27 cổ phiếu lên điểm gồm MMM, Merck & Co (MRK) và Procter & Gamble (PG), trong khi đó 27 cổ phiếu còn lại đều giảm từ 0,56-8,3%.

Cổ phiếu khối tài chính dẫn đầu về biên độ giảm điểm, trong đó cổ phiếu Bank of America hạ 8,3%, cổ phiếu JPMorgan Chase mất 8,06%, cổ phiếu Citigroup trượt 7,36%, cổ phiếu Allstate hạ 20,7%…

Cổ phiếu của nhiều hãng xây dựng đã giảm mạnh trong ngày, trong đó cổ phiếu Hovnanian Enterprises (HOV) mất 7,5%, cổ phiếu Toll Brothers (TOL) trượt 10,5%,…

Biểu đồ diễn biến ba chỉ số chứng khoán chính ở Mỹ trong ngày 29/1 – Nguồn: G.Finance

Kết thúc ngày giao dịch: chỉ số công nghiệp Dow Jones giảm 226,44 điểm, tương đương -2,7%, đóng cửa ở mức 8.149,01.

Chỉ số Nasdaq phiên này mất 50,5 điểm, tương đương -3,24%, chốt ở mức 1.507,84.

Cuối cùng, chỉ số S&P 500 hạ 28,95 điểm, tương đương -3,31%, đóng cửa ở mức 845,14.

Khối lượng giao dịch trên sàn New York đạt 1,44 tỷ cổ phiếu, thị trường cứ có 5 cổ phiếu mất điểm thì có 1 cổ phiếu lên điểm. Khối lượng giao dịch thành công trên sàn Nasdaq đạt 1,96 tỷ cổ phiếu, thị trường cứ có 7 cổ phiếu giảm điểm thì có 2 cổ phiếu lên điểm.

Chứng khoán châu Âu giảm điểm vì khối ngân hàng, dược phẩm

Ngày 29/1, Hiệp hội xây dựng Nationwide ở Anh cho biết, giá trung bình một căn nhà ở nước này trong tháng 1/2009 đã được bán với giá 150.000 Bảng (212.000 USD), giảm 1,3% so với tháng 12/2008.

Nền kinh tế Anh đã chính thức rơi vào suy thoái nên viễn cảnh về một thị trường bất động sản sáng sủa hơn trong thời gian tới là gần như không thể.

Hiện tại, hoạt động tịch biên nhà do người mua không có khả năng trả nợ đang gia tăng, sẽ tiếp tục là áp lực lớn đẩy thị trường bất động sản ở nước này trở nên khó khăn hơn.

Chứng khoán châu Âu đã đồng loạt mất điểm trước những diễn biến không khả quan về kết quả kinh doanh ở Phố Wall cũng như ở châu Âu.

Cổ phiếu khối ngân hàng giảm mạnh là nguyên nhân cơ bản đẩy thị trường đi xuống, trong đó cổ phiếu UBS mất 9,8% trước những lo ngại về khả năng ngân hàng này thua lỗ 865,1 triệu USD trong quý 4/2008.

Các cổ phiếu Banco Santander, Barclays, Credit Suisse, Deutsche Bank, HSBC và Lloyds giảm từ 2,5-11,8%.

Cổ phiếu khối dược phẩm cũng giảm điểm mạnh trong ngày giao dịch, trong đó cổ phiếu AstraZeneca mất 6,3%, cổ phiếu GlaxoSmithKline, Roche, Novartis giảm từ 2,7% đến 3,2%.

Kết thúc ngày giao dịch, chỉ số FTSE 100 của Anh hạ 2,45%, chỉ số DAX của Đức mất 2,01%, chỉ số CAC 40 của Pháp trượt 2,15%.

Thị trường

Chỉ số

Phiên trước Đóng cửa Tăng / giảm (điểm) Tăng / giảm (%)
Mỹ Dow Jones 8.375,45 8.149,01  Down226,44 Down2,70
Nasdaq 1.558,34 1.507,84 Down  50,50 Down3,24
S&P 500 874,09 845,14  Down  28,95 Down3,31
Anh FTSE 100 4.295,20 4.190,11  Down105,09 Down2,45
Đức DAX 4.518,72 4.428,11 Down  90,61 Down2,01
Pháp CAC 40 3.076,01 3.009,75 Down  66,26 Down2,15
Đài Loan Taiwan Weighted 4.247,97 N/A N/A N/A
Nhật Nikkei 225 8.106,29 8.251,24 Up144,95 Up1,79
Hồng Kông Hang Seng 12.578,60 13.154,43 Up575,83 Up4,58
Hàn Quốc KOSPI Composite 1.157,98 1.166,56 Up   8,58 Up0,74
Singapore Straits Times 1.766,08 1.766,72 Up   0,64 Up0,04
Trung Quốc Shanghai Composite 1.990,66 N/A N/A N/A
Ấn Độ BSE 30 9.257,47 9.236,28 Down 21,19 Down0,23
Australia ASX 3.435,10 3.461,30 Up 26,20 Up0,76
Nguồn:  CNBC, Thomson Reuters, Bloomberg

“Thiên nga đen”

Tất cả chúng ta đều nhắm mắt làm ngơ trước các biến cố hiếm hoi và cứ ảo tưởng mình có thể tiên đoán mọi rủi ro, mọi cơ hội…

Tất cả chúng ta đều nhắm mắt làm ngơ trước các biến cố hiếm hoi và cứ ảo tưởng mình có thể tiên đoán mọi rủi ro, mọi cơ hội.

Con người có thể tính toán chính xác đến từng giây lúc nào có nhật thực nhưng chịu, không thể dự báo chính xác ngày mai giá chứng khoán sẽ như thế nào. Bởi mọi quy luật kinh tế đều phải chiếu qua lăng kính tâm lý con người để rồi biến đổi khôn lường như chiếc kính vạn hoa.

Dự báo kinh tế bấy lâu nay còn tương đối chính xác do người ta cùng chia sẻ một niềm tin rằng nếu làm như thế này sẽ có kết quả như thế kia. Chẳng hạn, nếu hạ lãi suất, người dân sẽ vay tiền làm ăn nhiều hơn. Nay bỗng khủng hoảng kinh tế tài chính nổ ra, mọi giá trị bị đảo lộn, niềm tin biến mất, và mọi dự báo hóa ra đều trật lất! Lúc giá dầu thô vọt lên đỉnh 147 Đô la/thùng, có ai dám nói nó sẽ rớt xuống dưới mức 50 Đô la chỉ trong vòng bốn tháng?

Chẳng lạ gì khi cuốn “Thiên nga đen” của Nassim Taleb được xuất bản vào tháng 5/2007, có vô số bài điểm sách chê bai tác giả đủ điều và cũng chẳng lạ gì đến cuối năm 2008, hàng chục bài báo nhắc đến nó như một dấu ấn của một thiên tài suýt bị bỏ sót!

Đến nay “Thiên nga đen” bán được trên 370.000 cuốn ở Mỹ và Anh, đang được dịch ra 27 thứ tiếng và liên tục nằm trên danh sách sách bán chạy nhất của tờ New York Times trong 17 tuần liền.

Tư tưởng chủ yếu của Taleb, một giáo sư toán tài chính tại trường New York University, có thể tóm gọn trong một câu: tất cả chúng ta đều nhắm mắt làm ngơ trước các biến cố hiếm hoi và cứ ảo tưởng mình có thể tiên đoán mọi rủi ro, mọi cơ hội.

Taleb tin rằng nhà đầu tư thường bỏ qua nguy cơ thị trường biến động mạnh, đặc biệt trong suốt thời gian dài kinh tế phát triển ổn định. Ông viết: “Chúng ta cứ gán thành công cho sự tài tình của bản thân còn thất bại là do biến cố ngoại lai, nằm ngoài tầm kiểm soát”.

Ông cho rằng các biến cố lớn thường xảy ra trong tài chính hơn ở ngoài đời và đưa ra ví dụ: “Nếu ta lấy ngẫu nhiên từ dân số toàn cầu hai người có chiều cao tổng cộng là 3,4 mét. Xác suất mỗi người cao bao nhiêu? 3 mét và 0,4 mét? Làm gì có, xác suất cao nhất là 1,7 mét và 1,7 mét.

Nhưng trong tài chính, sự việc lại ngược lại. Nếu cũng lấy ngẫu nhiên từ dân số toàn cầu hai người có tổng tài sản là 14 triệu bảng Anh. Không lẽ xác suất dễ xảy ra nhất là mỗi người có 7 triệu bảng? Cũng làm gì có, thông thường là 5.000 bảng một bên và bên kia là 14 triệu bảng trừ bớt 5.000 bảng”.

Vì sao sách có tựa đề là “Thiên nga đen”? Đã có thời ai cũng nghĩ thiên nga toàn màu trắng cho đến lúc các nhà thám hiểm khám phá thiên nga đen ở Úc. “Thiên nga đen” là ẩn dụ chỉ những điều không ai nghĩ sẽ xảy ra nhưng vẫn có khả năng xảy ra.

Sách phát hành chỉ mấy tháng là cuộc khủng hoảng tài chính, bắt đầu từ các khoản nợ dưới chuẩn trên thị trường địa ốc, nổ ra. Chứng khoán toàn cầu chao đảo từ đó đến nay. Và Taleb trở nên nổi tiếng – khủng hoảng càng lan rộng ở mức độ gây kinh ngạc chừng nào, ông càng nổi tiếng chừng đó.

Không chỉ viết sách, Taleb còn thực hành ngay điều mình tin tưởng. Ông hùn hạp mở một quỹ đầu cơ phòng hộ Universa Investment mà chiến lược kinh doanh dựa nhiều vào những điều ông viết, đặc biệt là phải làm gì để “tận dụng cơ hội” khi thị trường tụt dốc. Quỹ này có nhiều quỹ riêng và trong tháng 10/2008 đầy biến động, chúng đều tăng trưởng từ 65-115% trong khi các quỹ khác thua lỗ nặng nề.

Quay trở lại lý thuyết “Thiên nga đen”, Taleb cho rằng con người có xu hướng bỏ qua các biến cố lớn với xác suất thấp bởi “các chuyên gia” thường đưa ra dự báo dựa vào các mối liên hệ đã được quan sát trong quá khứ. Ông chia các hiện tượng thành hai loại và đặt tên chúng là Mediocristan (Bình thường) và Extremistan (Cực độ).

Loại Mediocristan thường có độ ngẫu nhiên thấp như chiều cao, cân nặng, chỉ số IQ, thu nhập của giáo viên; còn loại Extremistan có độ ngẫu nhiên cao có sự phân bổ khác thường không tiên đoán được như tài sản, dân số của các thành phố, thiệt hại do động đất, giá hàng hóa và chứng khoán.

Ví dụ, lấy một nhóm 100 người ngẫu nhiên, thêm vô anh chàng cầu thủ bóng rổ Yao Ming cao kều, chỉ số chiều cao bình quân của nhóm sẽ tăng chút ít nhưng không đáng kể. Cũng nhóm 100 người này, bổ sung thêm tỉ phú Bill Gates thì bỗng nhiên, tài sản bình quân của nhóm sẽ tăng đột ngột. Như vậy chiều cao của Yao Ming là loại Mediocristan còn tài sản của Bill Gates thuộc loại Extremistan.

Tiến bộ xã hội, nhất là do khoa học kỹ thuật, đã làm loại Extremistan xuất hiện nhiều hơn và liên quan đến con người nhiều hơn. Ví dụ, trước khi có công nghệ thu âm, thu nhập của ca sĩ được phân bổ đều hơn bây giờ. Taleb tin rằng bộ não con người phù hợp với một thế giới đơn giản hơn là thế giới phức tạp như ngày nay. Con người vẫn có xu hướng thấy, tin và nhớ lâu những dữ kiện củng cố suy nghĩ của chúng ta, những sự kiện phù hợp với dự phóng của con người về tương lai.

Cũng đúng là các nhà phân tích chứng khoán hành động rất buồn cười. Họ có thể cho rằng chứng khoán tăng giá vì Obama đắc cử và hôm sau nói ngược lại chứng khoán giảm do Obama sắp lên làm tổng thống – tức diễn giải sự kiện theo suy nghĩ chủ quan.

Giả dụ, một phụ nữ có thai đi qua, đối với người quan sát, đứa bé là con trai hay con gái hoàn toàn là điều ngẫu nhiên nhưng đối với bà mẹ (đã đi siêu âm) thì giới tính của con mình đã là chuyện đương nhiên. Ngẫu nhiên và đương nhiên cùng nằm trong một sự việc, chỉ khác ở góc nhìn nhưng không ai chịu nhìn từ nhiều góc độ.

Sự thành công của cuốn “Thiên nga đen” đem đến cho Taleb nhiều “biến cố bất ngờ” – nói theo ngôn ngữ của ông. Trước tiên là một hợp đồng viết tiếp cuốn khác, có thể có tựa đề Tinkering (Chỉnh sửa) với tiền ứng trước lên đến 4 triệu Đô la. Cuốn này bàn về chuyện làm thế nào để sống trong một thế giới chúng ta không hiểu hết.

Hiện nay ai muốn mời Taleb đến nói chuyện, xin trả một buổi như thế chừng 60.000 Đô la. Khách hàng lại không thiếu, kể cả NASA, nhờ Taleb bày cách xác định con “thiên nga đen” trong việc chuẩn bị các chuyến bay vào vũ trụ; Cơ quan phòng chống hỏa hoạn của Mỹ muốn ông nói về xác suất cháy rừng…

Mới tháng 12/2007, Taleb đứng trước chừng 30 viên chức cao cấp của Ngân hàng Société Générale của Pháp và thẳng thừng cảnh báo, việc sáp nhập nhiều ngân hàng trong những năm qua đã đưa đến số lượng ngân hàng ít hơn nhưng quy mô lớn hơn nên độ tập trung rủi ro cũng cao hơn. Như thế xác suất ngân hàng thua lỗ nặng nề vì biến cố không lường trước lại cao hơn chứ không giảm đi.

Chỉ sáu tuần sau đó, Société Générale báo cáo thua lỗ 4,9 tỉ euro, mức thua lỗ cao nhất của một ngân hàng cho đến lúc đó. Có lẽ sự chao đảo của hệ thống ngân hàng toàn cầu càng minh chứng cho tiên đoán này.

Những phê phán của giới học thuật nhắm vào Taleb tập trung vào một số điểm như đã từng có nhiều sách viết về xác suất các biến cố bất thường, chuyện Taleb nói không gì mới, chỉ gặp may là đúng thời.

Một số bài điểm sách chê trách Taleb dùng lối văn trịch thượng, mỉa mai đủ hết mọi giới học giả. Nhiều người trong giới tài chính cho rằng tính toán dự báo tài chính luôn liên tục cập nhật thông số mới để đưa ra dự báo mới chứ không làm lơ như cáo buộc của Taleb. Nhưng cập nhật vẫn là dựa vào quá khứ, nên không dự báo được những cái không bình thường hay cực độ mà Taleb nói tới.

Thật ra, cái thiếu dễ thấy nhất của “Thiên nga đen” là chỉ nói khơi khơi những hiện tượng Taleb quan sát được chứ không đưa ra giải pháp gì, ngoài chiến lược “đánh quả” trên thị trường chứng khoán. Và những quan sát đó, nhiều cái rất bất ngờ và đầy tính thuyết phục, đã làm nên sức hút của cuốn sách.

Thế nhưng ý nghĩa của cuộc sống này là gì nếu không phải là sự ngẫu nhiên của số phận và từ đó mới có sức mạnh của niềm tin. Giả sử lý giải của Taleb là đúng, có lẽ chẳng ai chịu ra sức vì một cái tương lai mà họ cho rằng họ có quyền hướng đến theo ý chí và nỗ lực bản thân của họ.

Cũng đã có nhiều cuốn tiểu thuyết dựa vào ý tưởng có người biết trước được tương lai nhưng tất cả cuối cùng đều muốn từ bỏ khả năng này vì với họ, cuộc sống không còn chút xíu gì ý nghĩa nữa khi ta biết rõ từng giây sau sẽ như thế nào. Ngay cả trong chiến lược làm ăn theo kiểu “Thiên nga đen”, hình ảnh một quỹ đầu cơ cứ chăm chăm đợi thị trường biến động để hưởng lợi cũng chẳng khác gì hình ảnh bầy quạ đen chăm chăm chờ chiến tranh xảy ra.

Thị trường xáo động khi mọi người mất niềm tin – vấn đề niềm tin này có thỏa đáng hay không là chuyện khác-  và cả xã hội toàn cầu cũng sẽ rơi vào bất ổn nếu mọi người không còn tin vào hệ quả của hành vi từng được điều kiện hóa qua mấy ngàn năm tiến hóa. Và sức mạnh của nhân loại nằm ở chỗ họ biết điều chỉnh niềm tin để dần dần hướng đến cái tốt hơn, công bằng hơn và phổ quát hơn.

* Universa phòng hộ như thế nào?

Trong giao dịch chứng khoán, có một hình thức giao kết trong đó một bên được quyền bán (nhưng vẫn giữ quyền không bán) một loại chứng khoán nào đó với giá ấn định có hiệu lực cho đến một thời điểm trong tương lai (put option). Đổi lại, người mua quyền này phải trả phí cho người kia.

Vào thời điểm thị trường ổn định, mức phí này rất thấp nên Universa thu gom chúng và chịu mức lỗ không đáng kể. Lúc thị trường lao dốc như những tháng vừa rồi, Universa hốt bạc vì họ có thể mua chứng khoán với giá thấp trên thị trường để thực hiện quyền bán với giá cao.

Chiến lược này sẽ hòa vốn hay lỗ ít trong hầu hết các tháng trong năm và chỉ chăm chăm tháng có biến động để kiếm lời.

Tất nhiên việc hốt bạc này chỉ xảy ra nếu như có người sẵn sàng bán “quyền bán” trên, tức là họ phải mua vì những người tin ngược lại là giá sẽ lên.

Vấn đề đặt ra hiện nay là liệu những hoạt động trên tạo cho thị trường chứng khoán hoạt động hữu hiệu hơn hay chỉ làm tăng thêm độ biến động trên thị trường, và làm giảm bớt niềm tin vào thị trường, mà có lúc Ủy ban Chứng khoán Mỹ đã tạm cấm quyền bán mà không có chứng khoán trong tay.

Nguyễn Vạn Phú (TBKTSG)