Vàng tái lập mốc 1,8 triệu đồng/chỉ

Giá vàng thế giới tăng, tuy chưa thể lấy lại mốc 900 USD/oz, nhưng cũng đủ để kéo giá vàng trong nước sáng nay (31/5) qua ngưỡng 1,8 triệu đồng/chỉ…

Kết thúc phiên giao dịch cuối tháng tại thị trường Mỹ, giá vàng giao ngay tăng 9,1 USD/oz (1,04%), lên mức 886,1 USD/oz.

Giá vàng thế giới tăng, tuy chưa thể lấy lại mốc 900 USD/oz, nhưng cũng đủ để kéo giá vàng trong nước sáng nay (31/5) qua ngưỡng 1,8 triệu đồng/chỉ.

Kết thúc phiên giao dịch cuối tháng tại thị trường Mỹ, giá vàng giao ngay tăng 9,1 USD/oz (1,04%), lên mức 886,1 USD/oz. Giá vàng giao sau tại Sở Giao dịch Hàng hóa New York (NYMEX) cũng tăng 9,8 USD/oz (1,1%), đóng cửa ở mức 891,5 USD/oz.

Điểm qua thị trường trong nước, giá vàng SJC sáng nay được niêm yết ở mức 1.807.000 đồng/chỉ (mua vào) và 1.814.000 đồng/chỉ (bán ra), tăng 22.000 đồng/chỉ và 19.000 đồng/chỉ so với sáng hôm qua. Giá vàng PNJ của Công ty Vàng bạc đá quý Phú Nhuận tương ứng cũng là 1.807.000 đồng/chỉ và 1.814.000 đồng/chỉ.

Giả sử các doanh nghiệp nhập khẩu vàng mua USD với giá 1 USD = 16.500 VND, giá vàng thế giới hiện tương đương với mức 1.762.000 đồng/chỉ của giá vàng trong nước, chưa tính các chi phí liên quan và lãi cho doanh nghiệp.

Ngoài xu hướng khó dự báo của giá vàng thế giới, những diễn biến khó lường của tỷ giá VND/USD cũng đang khiến việc đầu tư vào vàng càng thêm rủi ro. Những nhà đầu tư mua vàng với giá trên 1.870.000 đồng/chỉ hồi đầu tuần đến thời điểm này đã lỗ mất khoảng 63.000 đồng/chỉ.

Sau ba ngày phục hồi liên tiếp so với Euro, đồng USD trong phiên giao dịch tại thị trường New York đêm qua đã mất giá trở lại, còn 1 Euro tương đương 1,5569 USD ở thời điểm cuối ngày.

Trong ngày giao dịch, đã có lúc USD đã phục hồi tới mức 1 Euro bằng 1,5461 USD sau khi có thông tin về doanh số bán lẻ của Đức trong tháng 4 sụt giảm ngoài dự kiến. Sau đó, USD đã mất giá trở lại khi Bộ Thương mại Mỹ cho biết, chi tiêu của dân Mỹ trong tháng 4 tăng có 0,2%, so với mức tăng 0,4% trong tháng 3.

Tuy nhiên, tháng 5 này đã là tháng thứ hai liên tiếp USD phục hồi so với Euro.

Giá dầu thô sau phiên mất giá nặng nề ngày hôm kia đã quay đầu phục hồi trong phiên giao dịch hôm qua. Giá dầu thô ngọt nhẹ giao tháng 7 lúc chốt phiên tại NYMEX tăng 0,73 USD/thùng (0,6%), đạt mức 127,35 USD/thùng. Giá dầu thô Brent giao tháng 7 tại thị trường London đóng cửa cũng tăng 0,89 USD/thùng (0,7%), lên mức 127,78 USD/thùng.

Hãng tin Bloomberg dẫn lời ông Peter Beutel, Chủ tịch công ty tư vấn năng lượng Cameron Hanover Inc. ở bang Connecticut, nhận định: “Thị trường dầu đang chịu tác động của nhiều yếu tố khác nhau. Nhiều người coi bất kỳ phiên mất giá nào của dầu cũng là cơ hội mua vào. Nhiều người lại coi giá cả là yếu tố là cơ sở để xác định tương quan cung cầu”. Do đó, chuyên gia này cho rằng, cả giá dầu lẫn nhu cầu tiêu thụ năng lượng này rồi sẽ cùng giảm.

Hiện Ủy ban Giao dịch Hàng hóa Kỳ hạn Hoa Kỳ (CFTC) đang tiến hành điều tra xem liệu giá dầu tăng cao hiện nay có phải là kết quả của hành vi gian lận, thao túng thị trường. Tuy nhiên, cơ quan này không công bố tên của những công ty bị điều tra.

Với những số liệu công bố gần đây về kinh tế Mỹ, thị trường đang tin rằng, Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (FED) sẽ tăng lãi suất USD. Tuy nhiên, một số nhà phân tích cho rằng, đồng USD khó có thể phục hồi nhiều, mặc dù những giai đoạn phục hồi ngắn hoàn toàn có thể xảy ra và gây áp lực mất giá cho vàng.

Bloomberg dẫn lời ông Adrian Day, Chủ tịch quỹ quản lý tài sản Adrian Day’s Asset Management ở Maryland cho biết: “Tôi chưa muốn bán vàng ra vào lúc này và sẽ đợi thêm cơ hội để mua vào”. Mặt khác, cũng có ý kiến cho rằng vàng hiện đang rẻ so với dầu thô, do đó nếu có xảy ra một đợt bán tháo trên thị trường hàng hóa, giá vàng sẽ không giảm nhiều.

Giá USD trên thị trường tự do: Có “sóng” nhưng khó “lướt”

Giá USD trên thị trường tự do những ngày gần đây biến động khó lường. “Sóng” liên tiếp được tạo nhưng khó nắm bắt…

Theo Thống đốc Ngân hàng Nhà nước, biến động giá USD thời gian gần đây sẽ chỉ xẩy ra trong ngắn hạn.

Giá USD trên thị trường tự do những ngày gần đây biến động khó lường. “Sóng” liên tiếp được tạo nhưng khó nắm bắt.

Liên tiếp trong các ngày 27, 28, 29 và 30/5, những bước giá đột ngột của đồng USD trên thị trường tự do khiến nhiều quyết định đầu tư thời vụ trở nên “rối”.

Trong ngày 27/5, nhiều người dân đổ xô đi mua đồng tiền này, đẩy lên đỉnh trên 17.500 VND/USD. Nhưng chỉ một ngày sau đó giá đã giảm xuống 16.850 VND và nhiều người lại đổ xô đi bán. Và chỉ một ngày sau đó, mức giá lại được tái lập 17.000 VND/USD.

Cuối ngày 30/5, giá USD bán ra trên thị trường tự do phổ biến ở mức 17.020 VND. Điểm đáng chú ý là chênh lệch giá mua vào – bán ra đã được rút ngắn, chỉ còn chênh 20 VND.

Chênh lệch trên cho thấy cầu mua vào của chính các điểm thu đổi cũng “căng thẳng”. Một số đầu mối đã từ chối bán ra, những quyết định nhập cuộc đầu tư khó tìm được nguồn hàng.

Những diễn biến mới trên tạo cảm giác có vẻ giá USD sẽ tiếp tục “nóng” trên thị trường này, tạo cảm giác hụt hẫng đối với những quyết định bán ra ngày 28/5. Đáng chú ý là có nguồn tin phản ánh trường hợp ngân hàng thương mại bán USD với giá trên 17.000 VND/USD, được một số người xem là cơ sở để có những đỉnh mới, bởi giá USD trên thị trường tự do thường cao hơn chính thống.

“Sóng” liên tiếp được tạo, những cơ hội nối liền hiếm thấy trong nhiều năm trở lại đây khiến khả năng nắm bắt khó khăn. Mặt khác, một số đầu mối ngừng bán ra càng khiến khả năng đó khó khăn hơn.

Ngân hàng Nhà nước cử cán bộ đi thị sát

Dù thị trường tự do có quy mô nhỏ, không tác động lớn đến nền kinh tế và hoạt động doanh nghiệp (theo Vụ trưởng Vụ Quản lý Ngoại hối, Ngân hàng Nhà nước), nhưng đợt biến động này có thể gây xáo trộn nhất định đối với tâm lý người dân.

Đó cũng là băn khoăn mà Đại biểu Nguyễn Lân Dũng đặt ra tại phiên chất vấn chiều 30/5 của Quốc hội. Và có thể đó cũng là một tác động mà Ngân hàng Nhà nước chú ý để cử cán bộ đi thị sát trực tiếp tại một số đầu mối.

Tại phiên chất vấn nói trên, Đại biểu Nguyễn Lân Dũng yêu cầu: “Tôi muốn Thống đốc trả lời tình trạng biến động Đô la gần đây có phải có yếu tố đầu cơ hay không? Và Ngân hàng Nhà nước có giải pháp gì để giải tỏa biến động này, vì nhân dân đồn đại là trong khi thế giới Đô la giảm thì Đô la ở Việt Nam đang tăng và có thể tăng lên 20.000, thậm chí có người nói tăng lên 30.000 thì nhân dân rất hoang mang”.

Câu hỏi này cũng đã được Vụ trưởng Vụ Quản lý Ngoại hối trả lời vào cuối ngày 27/5.

Còn theo Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Nguyễn Văn Giàu, một nguyên nhân chính là do đà tăng của lạm phát tháng 5 vừa công bố khá cao (3,91%), dẫn đến tâm lý một số người dân lo ngại và tìm mua USD.

Trong nguyên nhân đó, Thống đốc đề cập đến yêu cầu thông tin, bởi lạm phát cao do giá lương thực, cụ thể là giá gạo bất thường những ngày đầu tháng 5 và “những thông tin này chuyển tải chưa đầy đủ”.

Cũng theo Thống đốc, biến động giá USD nói trên chỉ xẩy ra trong ngắn hạn. Và những điểm mua – bán ngoại tệ thu hút người dân đến giao dịch trên thị trường tự do vừa qua có giấy phép hoạt động hay không cũng là một vấn đề cần xem xét. Có thể đây cũng là điểm mà các cán bộ Ngân hàng Nhà nước chú ý khi đi thị sát thực tế.

*Ngày 30/5, tỷ giá bình quân liên ngân hàng, do Ngân hàng Nhà nước công bố, tiếp tục tăng thêm 9 VND, lên 16.086 VND/USD. Đặc biệt, giá mua vào – bán ra của các ngân hàng thương mại đã không còn chênh lệch, cùng chung một mức 16.247 VND/USD – một hiện tượng ít thấy.

Ngân hàng Nhà nước đã cung và rút tiền như thế nào?

Thông tin cụ thể về lượng tiền cung vào lưu thông, mua ngoại tệ và kế hoạch rút về của Ngân hàng Nhà nước từ năm 2007 đến nay…

Có ngày lượng chào bán ngoại tệ về Ngân hàng Nhà nước lên đến 739 triệu USD.

Thông tin cụ thể về lượng tiền cung vào lưu thông, mua ngoại tệ và kế hoạch rút về của Ngân hàng Nhà nước từ năm 2007 đến nay.

Con số 9 tỷ USD mà Ngân hàng Nhà nước mua vào trong năm 2007 đến nay vẫn được dư luận quan tâm; đặc biệt ở con số khoảng 150.000 tỷ đồng được đưa ra để mua và kế hoạch rút về cân đối.

Một lần nữa, những kế hoạch trên lại được đại biểu Quốc hội đặt ra chất vấn Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Nguyễn Văn Giàu. Sự quan tâm đó nay tươi mới hơn cả trong năm 2007, khi lạm phát đang dâng cao và có yếu tố tác động của cung tiền.

Thông tin từ Thống đốc cho biết, trong năm 2007, lượng tiền Ngân hàng Nhà nước cung ứng vào lưu thông bằng 82% chỉ tiêu kế hoạch mà Thủ tướng phê duyệt. Lượng tiền mà cơ quan điều phối rút từ lưu thông đã đạt 80% lượng tiền đã cung ứng để mua ngoại tệ.

Các biện pháp chủ yếu được triển khai là tăng tỷ lệ dự trữ bắt buộc, phát hành tín phiếu Ngân hàng Nhà nước, thu hồi các khoản cho vay, tái cấp vốn đến hạn…

Theo Thống đốc, những biện pháp đó bước đầu đã đưa các chỉ tiêu tiền tệ biến động theo hướng góp phần kiềm chế lạm phát; tổng phương tiện thanh toán đến tháng 5/2008 chỉ tăng 3,73% so với cuối năm 2007, thấp hơn so với mức tăng 17,57% cùng kỳ năm trước.

Lượng cung tiền nói trên cũng đứng trước áp lực hỗ trợ các doanh nghiệp xuất khẩu khi gặp khó khăn trong việc bán ngoại tệ tại một số thời điểm. Cao điểm, có ngày các ngân hàng thương mại đăng ký bán cho Ngân hàng Nhà nước lên đến 739 triệu USD. Trong khi đó cơ quan này can thiệp còn ở mức thấp vì mục tiêu kiềm chế lạm phát.

Trước áp lực hai chiều từ giải tỏa “ứ đọng” ngoại tệ và kiềm chế lạm phát, các quyết định cung VND mua USD của Ngân hàng Nhà nước đều phải tuân thủ chỉ tiêu mà Thủ tướng Chính phủ phê duyệt.

Ngoài những áp lực đó, Thống đốc Nguyễn Văn Giàu cho rằng việc mua vào cũng là một cơ hội để gia tăng lượng dự trữ ngoại hối. Còn với sự quan tâm của một số đại biểu Quốc hội, phía những áp lực đó phải là sự nhịp nhàng và kịp thời giữa các bước cung và hút tiền về.

Theo giải trình của Thống đốc, ngay khi nhận nhiệm vụ điều hành chính sách tiền tệ, một trong những công tác mà ông chỉ đạo triển khai ngay là nỗ lực hút tiền trong lưu thông về.

Cụ thể, ngay trong tháng 8/2007, nhận công tác mới, Thống đốc đã chỉ đạo phát hành tín phiếu và hút về 46.000 tỷ đồng; trong tháng 9 tiếp theo là 19.000 tỷ, tháng 10 là 30 nghìn tỷ…

“Chúng tôi cũng làm quyết liệt để góp phần cùng với đất nước kiểm soát lạm phát cũng như tăng giá”, Thống đốc nói.

Một điểm khác mà một số đại biểu Quốc hội nhấn mạnh trong phiên chất vấn chiều 30/5 là Thống đốc nói gì về việc thắt chặt chính sách tiền tệ đột ngột dẫn đến những xáo trộn của hệ thống ngân hàng cũng như khó khăn của nhiều doanh nghiệp?

Về nội dung này, Thống đốc giải thích rằng chính sách thắt chặt tiền tệ đã được “phát tín hiệu” từ trước đó. Cụ thể, ngày 28/5/2007, thấy tín hiệu tiền thừa trong lưu thông, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước đã ra quyết định tăng dự trữ bắt buộc lên gấp đôi. “Có nghĩa từ đây đã phát tín hiệu hoàn toàn thắt chặt chính sách tiền tệ”, Thống đốc nói.

Sau đó, ngày 1/8/2007, Thủ tướng Chính phủ đã ra Chỉ thị 18; đến ngày 31/10/2007, Thủ tướng ra tiếp Chỉ thị số 23 thể hiện định hướng thắt chặt tiền tệ để kiềm chế lạm phát…

Những tín hiệu trên đã tạo một độ trễ nhất định để các ngân hàng và doanh nghiệp chủ động với bối cảnh mới. Trong các quyết định tăng dự trữ bắt buộc, phát hành tín phiếu bắt buộc để hút tiền về, Ngân hàng Nhà nước cũng đã tạo một độ trên từ trễ 1 đến gần 2 tháng để các ngân hàng chuẩn bị.

Và theo khẳng định của người đứng đầu Ngân hàng Nhà nước, hiện tại tính thanh khoản của các ngân hàng, sau loạt kế hoạch rút tiền thắt chặt tiền tệ, vẫn đảm bảo bình thường và không có nguy cơ đổ vỡ hệ thống.

Tuy nhiên, Thống đốc cho biết một số ngân hàng mới chuyển đổi từ mô hình nông thôn lên đô thị chưa chuẩn bị kịp đã gặp phải một số khó khăn; Ngân hàng Nhà nước đã và đang có sự hỗ trợ cần thiết.

Còn với các doanh nghiệp, nhà điều hành chính sách tiền tệ và các ban ngành liên quan đang tiếp tục xây dựng những giải pháp hỗ trợ, bên cạnh việc tiếp tục triển khai các giải pháp kiềm chế tốc độ của lạm phát…

Vàng, dầu đồng loạt tụt sâu

Thông tin khả quan vừa công bố về kinh tế Mỹ và giá dầu thô giảm mạnh đã đẩy giá vàng thế giới rơi sâu dưới ngưỡng 900 USD/oz…

Kết thúc phiên giao dịch lúc rạng sáng nay theo giờ Việt Nam tại thị trường New York, giá vàng giao ngay giảm 22,9 USD/oz (2,5%) so với giá chốt phiên liền trước, còn 877,8 USD/oz.

Thông tin khả quan vừa công bố về kinh tế Mỹ và giá dầu thô giảm mạnh đã đẩy giá vàng thế giới rơi sâu dưới ngưỡng 900 USD/oz.

Giá vàng trong nước sáng nay vì thế lại một lần nữa mất mốc 1,8 triệu đồng/chỉ.

Kết thúc phiên giao dịch lúc rạng sáng nay theo giờ Việt Nam tại thị trường New York, giá vàng giao ngay giảm 22,9 USD/oz (2,5%) so với giá chốt phiên liền trước, còn 877,8 USD/oz.

Giá vàng giao kỳ hạn tháng 6/2008 tại Sở Giao dịch Hàng hóa New York đóng cửa cũng giảm 23,3 USD/oz (2,6%), còn 881,7 USD/oz.

Tại thị trường trong nước sáng nay, giá vàng đồng loạt được điều chỉnh giảm thêm 25.000 – 30.000 đồng/chỉ so với sáng hôm qua.

Giá vàng SJC hiện ở mức 1.785.000 đồng/chỉ (mua vào) và 1.795.000 đồng/chỉ (bán ra), giảm 30.000 đồng/chỉ và 27.000 đồng/chỉ so với sáng hôm qua. Giá vàng Bảo Tín Minh Châu tương ứng là 1.775.000 đồng/chỉ và 1.800.000 đồng/chỉ, giảm 25.000 đồng/chỉ.

Như vậy, ba ngày sụt giảm liên tiếp sau phiên tăng mạnh ngày thứ Ba tuần này đã khiến giá vàng trong nước mất đi từ 750.000 – 800.000 đồng/lượng. Phiên mất giá vừa diễn ra cũng được ghi nhận là “cú ngã ngựa” nặng nhất của giá vàng thế giới trong vòng gần 6 tuần trở lại đây.

Đồng USD trong phiên giao dịch tại thị trường Mỹ đêm qua đã có phiên phục hồi mạnh nhất trong vòng 2 tuần qua sau khi những số liệu mới có vẻ như lạc quan về kinh tế Mỹ được công bố.

Tỷ lệ tăng trưởng GDP quý 1 của Mỹ sau khi được điều chỉnh là 0,9%, cao hơn nhiều so với mức 0,6% như công bố ban đầu. Trong khi đó, tỷ lệ lạm phát trong quý 1 là 3,5% so với cùng kỳ năm ngoái.

Những con số này càng củng cố niềm tin của giới đầu tư cho rằng Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (FED) sắp tăng lãi suất USD để chống lạm phát. Cuối ngày hôm qua tại New York, 1 Euro tương đương 1,5519 USD, còn tại thị trường Tokyo cuối buổi sáng nay, 1 Euro đổi được 1,5516 USD.

Ngoài sự phục hồi mạnh mẽ của USD, đẩy giá vàng đi xuống còn có sự sụt giảm mạnh mẽ của giá dầu thô. Ở thời điểm chốt phiên tại Sở Giao dịch Hàng hóa New York (NYMEX), giá dầu thô ngọt nhẹ giao tháng 7/2008 mất tới 4,41 USD/thùng (3,4%), còn 126,62 USD/thùng. Giá dầu thô Brent tại thị trường London đóng cửa giảm 4,04 USD/thùng (3,1%), còn 126,89 USD/thùng.

Báo cáo hàng tuần do Bộ Năng lượng Mỹ công bố cho thấy, tiêu thụ nhiên liệu tại nước này đạt mức bình quân 20,5 triệu thùng/ngày, giảm 0,7% so với cùng kỳ năm ngoái. Dường như giá dầu và giá xăng liên tiếp lập kỷ lục đang khiến người Mỹ hạn chế tiêu dùng mặt hàng này hơn. Theo thống kê của hãng thẻ MasterCard, nhu cầu tiêu thụ xăng của người Mỹ đã giảm 5,5% trong tuần trước.

Do đó, giá dầu thô trên thị trường vẫn tụt mạnh, bất chấp việc dự trữ dầu thô của Mỹ qua giảm mạnh nhất trong từ giữa tháng 9/2004 trở lại đây. Trong tuần, dự trữ này mất tới 8,88 triệu thùng, còn 311,6 triệu thùng. Tuy nhiên, theo Bộ Năng lượng Mỹ, sự sụt giảm này chỉ xuất phát từ việc trì hoãn việc dỡ hàng xuống từ các tàu chở dầu.

Giá USD bán ra trên thị trường tự do trong nước đã trở lại với mốc 17.000 VND/USD từ chiều qua. Sáng nay, giá USD do Bảo Tín Minh Châu niêm yết là 16.900 VND/USD (mua vào) và 17.150 VND/USD (bán ra). Chiều hôm qua, ông Trần Hữu Đang, phụ trách kinh doanh của Bảo Tín Minh Châu cho biết, công ty này chỉ mua vào chứ không bán ra USD. Tuy nhiên, đến sáng nay, hoạt động mua bán USD tại công ty này lại diễn ra bình thường.

Trên thị trường ngân hàng, tỷ giá VND/USD tăng thêm khoảng 10 VND/USD. Tại Vietcombank, giá mua và bán USD lần lượt là 16.245 VND/USD và 16.247 VND/USD. Tại Eximbank, giá mua và bán USD đều là 16.247 VND/USD.

Tại Sàn Giao dịch Vàng Tp.HCM phiên sáng nay, số lệnh đặt bán chiếm ưu thế. Kết thúc phiên, có 199.200 lượng vàng được khớp lệnh thành công, với giá phổ biến ở thời điểm cuối phiên từ 17,89 – 17,90 triệu đồng/lượng. Ngày hôm qua, lượng giao dịch có giảm khá mạnh so với phiên trước, nhưng vẫn ở mức khá cao là 466.650 lượng, với giá khớp lệnh dao động trong khoảng từ 18,12 – 18,15 triệu đồng/lượng.

Báo cáo ngoại về kinh tế Việt Nam: “Cần nhận định trung tính hơn”

Chuyên gia kinh tế trưởng của UNDP tại Hà Nội cho rằng cần cẩn trọng với báo cáo của các ngân hàng đầu tư về kinh tế Việt Nam…

Ông Pincus cho rằng, lòng tin sẽ được củng cố nếu lạm phát bị khống chế.

Trong lúc lạm phát tại Việt Nam đạt mức kỷ lục, thì ngân hàng đầu tư Morgan Stanley cảnh báo rằng có thể xảy ra “khủng hoảng tiền tệ” tại đây.

>>Merrill Lynch “mổ xẻ” lạm phát ở Việt Nam

Mới đây, ngân hàng Merrill Lynch cũng công bố một báo cáo về tình hình kinh tế Việt Nam, trong đó cho rằng Việt Nam là ví dụ cho sự điều hành kém sau khi đã đạt thành công. Báo cáo của Morgan Stanley cho rằng tỷ giá đồng tiền có thể sẽ trượt dài, dẫn tới khủng hoảng tiền tệ.

Tuy nhiên, trả lời hãng thông tấn BBC trong một cuộc phỏng vấn mới đây, ông Jonathan Pincus, Chuyên gia kinh tế trưởng của UNDP tại Hà Nội cho rằng, cần đánh giá một cách hết sức cẩn trọng báo cáo của các ngân hàng đầu tư như Morgan Stanley, bởi theo ông, VND không bị ấn định giá quá cao so với USD.

Theo ông Pincus, các ngân hàng như Morgan Stanley, Merrill Lynch hay JP Morgan đã tô đậm hình ảnh Việt Nam quá mức vào năm ngoái để rồi năm nay đưa ra đánh giá ảm đạm. “Họ từng nói về một Việt Nam như con hổ mới Á châu, sự kỳ diệu mới trong phát triển kinh tế châu Á, tức là tựa như tâm lý tuổi mới lớn, lúc thì yêu hết mình, lúc thì chỉ như muốn tự vẫn ngay lập tức”.

“Ý tôi muốn nói là họ cần cân bằng hơn trong cách đánh giá tình hình hồi năm ngoái cũng như vào thời điểm hiện nay. Họ nên cẩn thận hơn khi nói về triển vọng đồng Việt Nam bị mất giá hàng chục phần trăm bởi VND không bị định giá quá cao. Họ cần đưa ra nhận định trung tính hơn, bởi đánh giá như vậy chẳng giúp cải thiện được tình hình”, ông Pincus nói.

Tuy nhiên, cũng theo ông, có thể nói một trong những bài học mà Chính phủ Việt Nam cần rút ra, đó là nếu Chính phủ không rõ ràng trong chính sách và các biện pháp thì những lời đồn đoán sẽ đóng vai trò lấn át.

“Có nghĩa là khi người ta không có được thông tin đầy đủ, thì họ sẽ làm những việc có tính bảo vệ cho chính họ một cách rất quyết liệt như chúng ta đã thấy trong những ngày qua: đổ xô đi mua Đô la, không chỉ các hộ gia đình mà thậm chí cả các công ty nữa”, ông giải thích.

Về cách điều hành chính sách của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, ông Pincus cho rằng nếu Ngân hàng Nhà nước muốn đóng vai trò điều tiết, thì không những họ phải nói rõ chính sách và các biện pháp can thiệp lạm phát, mà họ cần phải thu thập thông tin từ giới tài chính, ngân hàng, từng giờ từng phút chứ không thể để sự đồn đoán đóng vai trò thống lĩnh được.

Đồng thời, theo ông, Chính phủ phải mạnh dạn tuyên bố và hành động cương quyết nhằm kéo mức lạm phát xuống. Nếu mức lạm phát bắt đầu giảm, lòng tin sẽ được khôi phục.

Fitch Ratings hạ triển vọng định mức tín nhiệm của Việt Nam

Lý do mà hãng định mức tín nhiệm này đưa ra là Việt Nam đã chậm trễ trong việc chống lạm phát…

Lý do của sự cắt giảm triển vọng này mà Fitch Ratings đưa ra Chính phủ Việt Nam đã chậm trễ trong việc chống lạm phát, khiến tỷ lệ lạm phát so với cùng kỳ năm ngoái hiện đã lên tới 25%.

Hãng định mức tín nhiệm Fitch Ratings có trụ sở tại London (Anh) vừa hạ triển vọng định mức tín nhiệm nợ của Việt Nam từ mức “ổn định” xuống “tiêu cực”.

Lý do mà Fitch Ratings đưa ra là Việt Nam đã chậm trễ trong việc chống lạm phát, khiến tỷ lệ lạm phát tăng cao.

Hiện Fitch vẫn dành cho Việt Nam mức xếp hạng tín dụng ngoại tệ dài hạn ở mức BB-, thấp hơn 3 mức so với hạng đầu tư.

Mới đầu tháng 5 này, hãng định mức tín nhiệm Standard & Poor’s của Mỹ cũng hạ triển vọng định mức tín nhiệm nợ ngoại tệ của Việt Nam từ mức “ổn định” xuống mức “tiêu cực”.

Thông báo của Fitch Ratings về việc hạ triển vọng định mức tín nhiệm của Việt Nam được đưa ra hai ngày sau khi con số lạm phát 25,2% so với cùng kỳ năm ngoái – cao nhất từ năm 1992 trở lại đây – của Việt Nam được công bố.

“Phản ứng chính sách của Việt Nam vừa chậm, vừa không đủ. Những tuyên bố chính thức được đưa ra, nhưng lại không có những hành động ngay sau đó. Lạm phát tăng tốc có thể gây ra những rủi ro đối với sự ổn định của hệ thống ngân hàng”, thông báo của Fitch Ratings viết.

(Theo Bloomberg)

Giao dịch bằng ATM phải trả phí?

Các giao dịch rút tiền, chuyển khoản từ máy ATM có thể sẽ phải trả phí từ ngày 1/7 tới…

Với khoảng 20 triệu giao dịch/tháng, các ngân hàng sẽ thu về nguồn phí đáng kể.

Các giao dịch rút tiền, chuyển khoản từ máy ATM có thể sẽ phải trả phí từ ngày 1/7 tới.

Đây là kế hoạch của Hội Thẻ ngân hàng Việt Nam, theo đó, mức phí được thống nhất tối thiểu là 1.000 đồng/giao dịch. Mức phí tối đa sẽ tùy thuộc theo tính toán và ấn định cụ thể của mỗi ngân hàng.

Hình thức thu phí và thời điểm thu cũng sẽ tùy thuộc vào kế hoạch của mỗi ngân hàng. Nhiều khả năng phí giao dịch sẽ được thu trực tiếp bằng cách trừ vào số dư của tài khoản và báo cáo qua biên lai.

Giải thích về kế hoạch này, Hội Thẻ cho rằng trong thời gian qua và theo định hướng phát triển, các ngân hàng phải dành một khoản đầu tư lớn cho hệ thống ATM. Giá một máy ATM bình quân hiện là 30.000 USD, ngoài ra ngân hàng còn phải duy trì các chi phí bảo trì, nâng cấp, tiền thuê địa điểm đặt máy…

Trong khi đó, thời gian qua các giao dịch qua hệ thống này được miễn phí, phục vụ cho mục đích phổ cập và “công ích”.

Việc thực hiện thu phí này cũng nằm trong yêu cầu có thêm nguồn đầu tư cần thiết cho các ngân hàng tăng cường các dịch vụ tiện ích mới cho hệ thống.

Trước khi thống nhất việc thu phí theo các giao dịch, có ba phương án được đưa ra để các ngân hàng xem xét. Ngoài phương án trên là thu phí thường niên hoặc thu phí giao dịch lần 2.

Với thu phí theo giao dịch, mức tối thiểu là 1.000 đồng/giao dịch. Mức cao nhất dự tính có thể là 3.000 đồng/giao dịch. Tuy nhiên, mỗi ngân hàng sẽ xem xét để có mức thu phù hợp với hệ thống, trong đó không loại trừ yếu tố cạnh tranh.

Phương án thu theo phí thường niên sẽ ấn định một mức cố định trên mỗi tài khoản thẻ, theo thời hạn mỗi tháng.

Với phương án thu theo giao dịch lần 2, được tính từ các giao dịch lần thứ hai trở lên. Ví dụ, với các loại thẻ có hạn mức tối đa mỗi lần rút tiền là 2 triệu đồng, cần rút 10 triệu đồng phải thực hiện 5 lần giao dịch, 4 lần giao dịch sau phải trả phí.

Ở ba phương án trên, thu phí theo mỗi lần giao dịch và theo mức phí phù hợp của mỗi ngân hàng sẽ đảm bảo yếu tố công bằng giữa các chủ thẻ. Đây cũng là cơ sở để các ngân hàng xem xét lựa chọn phương án này.

Hiện tại, có 30 ngân hàng đã triển khai dịch vụ thẻ. Một số thành viên mới cũng chuẩn bị nhập cuộc và triển khai lắp đặt hệ thống ATM, tham gia các liên minh. Thị trường cũng đã đón nhận khoảng 130 thương hiệu thẻ trong và ngoài nước, liên minh, liên kết…

Theo số liệu từ Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam (Vietcombank), thị trường có gần 4.000 máy ATM, hơn 9 triệu chủ thẻ với số lượng giao dịch lên đến 20 triệu giao dịch/tháng. Với lượng giao dịch này, các ngân hàng sẽ có một nguồn phí đáng kể.

Trong giá trị trên, hiện Vietcombank đang dẫn đầu với 25% thị phần, kế đến là Ngân hàng Đông Á (khoảng 20%), Ngân hàng Công thương (khoảng 19%), Ngân hàng Nông nghiệp (khoảng 13%)…

Merrill Lynch “mổ xẻ” lạm phát ở Việt Nam

Merrill Lynch cho rằng, trong cuộc chiến chống lạm phát, Việt Nam có những điểm khác biệt cơ bản so với các nước châu Á khác…

Các chuyên gia Merrill Lynch cho rằng, cuộc chiến chống lạm phát của Việt Nam có hàm chứa nhiều bài học quan trọng cho khu vực.

Ngân hàng đầu tư Merrill Lynch của Mỹ vừa công bố một báo cáo về tình hình kinh tế châu Á, trong đó lấy Việt Nam làm tâm điểm để phân tích tình trạng lạm phát leo thang trong khu vực.

Trong bản báo cáo tựa đề “Vietnam: Anatomy of an inflation shock” (Việt Nam: Giải phẫu cú sốc lạm phát) này, các chuyên gia Merrill Lynch cho rằng, cuộc chiến chống lạm phát của Việt Nam có hàm chứa nhiều bài học quan trọng cho khu vực.

Thấy gì từ các động thái của Ngân hàng Nhà nước?

Báo cáo nhận định, Việt Nam chỉ là một nền kinh tế nhỏ trong khu vực châu Á vì GDP 70 tỷ USD của Việt Nam chỉ tương đương với 1% GDP của toàn khu vực này, trừ Nhật Bản. Trong những năm gần đây, Việt Nam gây ấn tượng bởi tốc độ tăng trưởng kinh tế cao liên tục. Mặc dù vậy, Việt Nam đang chịu tác động từ chính thành công quá lớn và quá nhanh chóng của chính mình.

Theo các số liệu đưa ra trong báo cáo, các dòng vốn FDI đổ vào Việt Nam trong năm 2007 có thể đạt 5,7 tỷ USD (8,1% GDP), còn các dòng vốn khác có thể đạt khoảng 8,9 tỷ USD (12,7% GDP). Cùng với đó, tăng trưởng tín dụng trong năm 2007 đạt mức 54%, thị trường chứng khoán cũng phát triển bùng nổ.

Việc có phải chính sách vĩ mô đã “gây ra” tình trạng lạm phát cao ở Việt Nam hiện nay là một câu hỏi gây tranh cãi. Ở các nước châu Á khác, giá lương thực – thực phẩm tăng cao là nguyên nhân chính gây lạm phát, nhưng ở Việt Nam, giá cả các mặt hàng phi lương thực cũng tăng tới trên 10% so với cùng kỳ năm ngoái do tăng trưởng kinh tế cao, nhu cầu cao và thanh khoản dồi dào.

Để chống lạm phát, Ngân hàng Nhà nước đã áp dụng nhiều biện pháp mạnh trong đó có tăng tỷ lệ dự trữ bắt buộc và tăng lãi suất cho vay cơ bản lên mức 12%. Các chuyên gia của Merrill Lynch bình luận, mức độ phản ứng của Ngân hàng Nhà nước chứng tỏ, để chống lạm phát, tăng trưởng kinh tế của Việt Nam sẽ phải trả một cái giá nhất định.

Đồng thời, những lo ngại ban đầu về lạm phát đã trở thành những lo ngại trên phạm vi lớn hơn về bất ổn kinh tế vĩ mô.

“Cú sốc” lạm phát

Theo báo cáo này, những biểu hiện của một “cú sốc” lạm phát bao gồm:

Thứ nhất, lạm phát tăng mạnh, khiến ngân hàng trung ương phải phản ứng mạnh bằng chính sách tiền tệ.

Thứ hai, thanh khoản thắt chặt, lãi suất cao, triển vọng tăng trưởng xấu đi.

Thứ ba, giá cả của những mặt hàng chịu ảnh hưởng lớn của yếu tố tâm lý, như chứng khoán và bất động sản giảm nhanh; đồng nội tệ có thể lên giá hoặc xuống giá.

Và thứ tư, đồng nội tệ có thể lên giá hoặc xuống giá. Nếu chính sách tiền tệ được thắt chặt từ từ và thị trường vẫn tin tưởng vào chính sách vĩ mô, đồng nội tệ có thể lên giá. Nhưng nếu bất ổn xảy ra, triển vọng tăng trưởng xấu đi và dòng vốn ngoại chảy ra, đồng nội tệ sẽ mất giá mạnh.

Tình hình lạm phát ở Việt Nam hiện nay được coi là một ví dụ về “cú sốc” lạm phát. Một số ví dụ khác bao gồm Trung Quốc hồi mùa xuân năm 2004 và mùa thu năm 2007, Ấn Độ đầu 2008, Indonesia mùa hè 2005…

Báo cáo cho rằng, kinh tế Việt Nam có nhiều điểm giống như kinh tế Trung Quốc, chẳng hạn cả hai nước đều mới gia nhập WTO, tốc độ tăng trưởng cao nhờ xuất khẩu và đầu tư… Tuy nhiên, điểm khác biệt lớn nhất là cuộc chiến chống lạm phát ở Việt Nam căng thẳng hơn nhiều. Vấn đề cốt lõi – theo báo cáo nhận định – là Việt Nam đã tiếp nhận một lượng vốn lớn hơn rất nhiều so với khả năng hấp thụ của nền kinh tế.

Merrill Lynch cho rằng, trong cuộc chiến chống lạm phát, nhìn chung Việt Nam có những điểm khác biệt cơ bản sau so với các nước châu Á khác.

Thứ nhất, Việt Nam đang ở tình trạng thâm hụt cán cân vãng lai, trong khi phần lớn các nền kinh tế đang nổi lên ở châu Á có cán cân vãng lai thặng dư. Thặng dư này có thể tạo ra một tấm nệm cho sự rút lui của các dòng vốn ngoại, đồng thời giúp cho việc tăng giá đồng nội tệ để chống lạm phát trở nên dễ dàng hơn, giảm bớt sự cần thiết phải tăng lãi suất.

Thứ hai, các dòng vốn đổ vào Việt Nam năm ngoái chiếm tỷ trọng khá lớn so với GDP. Trong khi đó, các dòng vốn đổ vào các nước châu Á khác chỉ ở mức khiêm tốn. Do đó, ở các nước này, việc điều hành chính sách tiền tệ ít gặp khó khăn hơn, đồng thời, cũng không có những rủi ro lớn trong trường hợp có sự rút lui đột ngột của các dòng vốn.

Và thứ ba, các nước trong khu vực còn có những yếu tố khác giúp ổn định tốt tình hình kinh tế vĩ mô mà Việt Nam không có, như dự trữ ngoại hối cao, nợ nước ngoài thấp và tình hình ngân sách lành mạnh hơn.

Vàng và tỷ giá VND/USD đồng loạt “hạ cánh”

Giá vàng tại thị trường trong nước sáng nay giảm tương đối sau khi giá vàng thế giới thiếu chút nữa thì mất mốc 900 USD/oz…

Tại thị trường trong nước sáng nay, giá vàng bán ra đồng loạt được điều chỉnh giảm 20.000 – 30.000 đồng/chỉ.

Giá vàng tại thị trường trong nước sáng nay giảm tương đối sau khi giá vàng thế giới thiếu chút nữa thì mất mốc 900 USD/oz. Giá dầu thô lại đảo chiều tăng mạnh, còn tỷ giá VND/USD đang trên đà “xẹp xuống”.

Kết thúc phiên giao dịch lúc rạng sáng nay theo giờ Việt Nam tại thị trường New York, giá vàng giao ngay giảm 4,4 USD/oz (0,5%) so với giá chốt phiên liền trước, còn 900,7 USD/oz. Chiều qua trên thị trường châu Âu, giá vàng giao ngay đã có lúc tụt xuống dưới mức 890 USD/oz.

Giá vàng giao kỳ hạn tháng 6/2008 tại Sở Giao dịch Hàng hóa New York đóng cửa cũng giảm 7,8 USD/oz (0,9%), còn 905 USD/oz.

Tại thị trường trong nước sáng nay, giá vàng bán ra đồng loạt được điều chỉnh giảm 20.000 – 30.000 đồng/chỉ.

Giá vàng SJC hiện ở mức 1.815.000 đồng/chỉ (mua vào) và 1.822.000 đồng/chỉ (bán ra), giảm 17.000 đồng/chỉ và 20.000 đồng/chỉ so với sáng hôm qua. Giá vàng Bảo Tín Minh Châu tương ứng là 1.800.000 đồng/chỉ và 1.825.000 đồng/chỉ, giảm 30.000 đồng/chỉ và 25.000 đồng/chỉ.

Áp lực giảm giá chính đối với giá vàng thế giới trong phiên này chính là sự phục hồi ngày thứ hai liên tiếp của đồng USD so với Euro. Giới đầu cơ quốc tế đang tin rằng, mức giá dầu cao như hiện nay có thể sẽ buộc Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (FED) phải tăng lãi suất USD để chống lạm phát.

Hiện giá USD so với Euro đang ở mức gần cao nhất trong 2 tuần qua. Cuối ngày hôm qua tại thị trường New York, 1 Euro tương đương 1,5638 USD. Còn sáng nay trên thị trường châu Á, 1 Euro ăn 1,5653 USD.

Hãng tin Bloomberg dẫn lời Chủ tịch Leonard Kaplan của quỹ quản lý tài sản Prospector Asset Management ở bang Illinois (Mỹ) cho rằng, giá dầu đang là động lực chính chèo lái diễn biến giá cả của vàng và các loại hàng hóa khác.

Tuy nhiên, tác động của giá dầu cao đối với giá vàng là hai chiều. Một mặt, giá dầu cao chính là “trợ thủ” đắc lực cho giá vàng. Mặt khác, nó cũng khiến những áp lực lạm phát căng thẳng hơn, dẫn tới khả năng FED tăng lãi suất USD, khiến đồng tiền này tăng giá so với Euro, làm giá vàng giảm. Ngân hàng UBS của Thụy Sỹ dự báo, giá vàng sẽ ở mức bình quân 900 USD/oz trong vòng 1 tháng tới và 850 USD/oz trong vòng 3 tháng tới.

Giá dầu thô ngọt nhẹ giao kỳ hạn tháng 7/2008 tại NYMEX lúc chốt phiên này tăng 2,18 USD/thùng (1,7%) lên mức 131,03 USD/thùng. Giá dầu thô Brent tại London đóng cửa ở mức 130,93 USD/thùng, tăng 2,62 USD/thùng (2%).

Sự đảo chiều này của giá dầu xuất phát từ việc thị trường đón nhận một bản báo cáo từ ngân hàng đầu tư Morgan Stanley của Mỹ cho rằng giá dầu thô Brent có thể dễ dàng lên tới mức 150 USD/thùng. Giá dầu sẽ còn tăng do tình hình nguồn cung căng thẳng giữa lúc nhu cầu tiêu thụ dầu toàn cầu vẫn ở mức cao, bản báo cáo nhận xét.

Gần đây, giá dầu liên tục “nhảy lên” trước những báo cáo từ các tập đoàn lớn như Goldman Sachs, Societe Generale, hay Credit Suisse. Ngoài ra, thị trường cũng chịu tác động từ tin xấu về tình hình bạo lực chưa chịu lắng dịu ở Nigeria. Nhóm quân sự chính tại quốc gia sản xuất dầu hàng đầu châu Phi này dự kiến sẽ tổ chức một số vụ tấn công lớn bằng bom nhằm vào khu vực đồng bằng Niger trong ngày hôm nay.

Tỷ giá VND/USD hôm nay trên thị trường tự do tiếp tục giảm mạnh. Tỷ giá do Bảo Tín Minh Châu sáng nay còn 16.500 VND/USD và 16.800 VND/USD. Trên thị trường ngân hàng, cặp tỷ giá này vẫn tiếp tục tăng. Tại Vietcombank, giá mua và bán USD lần lượt là 16.235 VND/USD và 16.238 VND/USD. Tại Eximbank, giá mua và bán USD đều là 16.238 VND/USD.

Sàn Giao dịch Vàng Sài Gòn phiên hôm qua tiếp tục ghi nhận lượng giao dịch ở mức cao, với 587.300 lượng được khớp lệnh thành công và giá đóng cửa 18,16 triệu đồng/lượng. Hôm nay, do các lệnh mua chiếm ưu thế, giá khớp lệnh cuối phiên sáng đã tăng lên mức 18,19 – 18,20 triệu đồng/lượng. Khối lượng giao dịch phiên sáng nay có giảm so với cùng thời điểm hôm qua, cò 189.800 lượng.

Tăng giá “sân sau” cũng góp phần vào lạm phát

Nguy cơ xảy ra các giao dịch nội gián để trục lợi riêng trong các công ty có vốn sở hữu nhà nước là rất lớn…

Tiến sĩ Nguyễn Đình Cung, Trưởng ban Kinh tế vĩ mô (Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương) trong một nghiên cứu của mình đã kết luận rằng, nguy cơ xảy ra các giao dịch nội gián để trục lợi riêng trong các công ty có vốn sở hữu nhà nước là rất lớn.

Chính những giao dịch kiểu này cũng góp phần đáng kể vào việc tăng giá, thậm chí có thể làm cho thị trường bị lũng đoạn.

Còn nhớ cách đây khá lâu, trên báo Pháp luật Tp.HCM có một bài viết đề cập đến những cơn sốt bia giả tạo, hậu quả của mối quan hệ móc ngoặc giữa nhà máy sản xuất bia với các đại lý “sân sau” thân quen ở bên ngoài. Những cơn sốt được tạo ra thường rơi vào các dịp lễ, Tết hoặc vào các thời điểm nhà máy thông báo hết bia với lý do “cúp điện”, trục trặc kỹ thuật…

Thực chất, một số lượng bia lớn trước đó đã được tuồn cho các đại lý thân quen và khi giá bia đã bị đẩy lên cao, chúng được tung ra thị trường, thu về những khoản lợi nhuận kếch xù. Vì giá bán cho đại lý và giá bán lẻ vào lúc thị trường sốt có mức chênh lệch rất cao, 20%, 30%, thậm chí có thể lên tới trên 50% nên xảy ra hiện tượng: tìm mọi cách để được duyệt mua sản phẩm, kể cả việc chung chi.

Ví dụ, giá mua ghi trên phiếu là 100.000 đồng/thùng nhưng thực tế đại lý phải trả cao hơn tùy theo mức độ “sốt” của thị trường. Theo phản ánh của giới kinh doanh bia, cho đến nay tình trạng này vẫn còn tồn tại.

Đề cập đến vấn đề trên, PGS.TS Nguyễn Văn Nam, nguyên Viện trưởng Viện Nghiên cứu thương mại, cho rằng đây là điển hình của hiện tượng giá cả bị móp méo do giao dịch nội gián để trục lợi riêng trong các công ty có vốn sở hữu nhà nước.

Theo ông Nam, thực tế đã có một số trường hợp tương tự như vậy bị phanh phui như vụ Công ty Dệt Long An cách đây mười năm, khi ngành dệt may còn phát triển rất hạn chế, đã tuồn một lượng hàng lớn ra ngoài cho một công ty tư nhân (thông qua một doanh nghiệp thương mại quốc doanh) với mức giá chênh lệch rẻ hơn so với thị trường lên tới hàng chục tỉ đồng.

Sau này, trong quá trình công ty bị đẩy vào bờ vực phá sản, nhiều cán bộ nhân viên đã gửi đơn tố cáo hành vi trục lợi của một số cán bộ lãnh đạo công ty thông qua việc cung cấp những mặt hàng tốt cho những đại lý “sân sau” của mình. Đến lượt mình, khi hàng đã có trong tay những đại lý này thao túng thị trường.

Hoặc một ví dụ khác là vụ điện kế điện tử tại Công ty Điện lực Tp.HCM bị phát hiện vào năm 2005. Từ việc cấu kết với nhà cung cấp thiết bị điện lực, thực chất là các công ty “người nhà”, một số cán bộ có chức quyền thuộc Công ty Điện lực Tp.HCM đã cố tình mua 312.000 chiếc điện kế điện tử kém chất lượng với giá chênh lệch so với giá cho phép lên đến 240.000 đồng/chiếc, gây thiệt hại cho Nhà nước hàng trăm tỉ đồng. Đây cũng là thiệt hại của người tiêu dùng khi họ phải trả tiền mua dịch vụ kém chất lượng với giá cao.

Các giao dịch nội gián dựa vào vị thế đặc quyền, độc quyền trong một số lĩnh vực của doanh nghiệp có vốn sở hữu nhà nước để làm giá, trục lợi càng ngày càng trở nên tinh vi và chằng chịt. Đặc biệt, theo PGS.TS Nguyễn Văn Nam, đối với những lĩnh vực liên quan đến hệ thống phân phối bên ngoài thì nguy cơ móc ngoặc, đi đêm giữa các bên trục lợi, giữa “chân trong” với “chân ngoài” là rất lớn và khó tránh khỏi.

“Giá cả ở một số lĩnh vực như xăng dầu, hàng không, đường sắt, Nhà nước còn có thể nắm nhưng với những lĩnh vực liên quan đến hệ thống phân phối bên ngoài thì nhà nước cực kỳ khó kiểm soát. Hễ lĩnh vực nào có đặc quyền, đặc lợi thì nơi ấy sẽ hình thành vài đầu nậu bên ngoài chi phối”, ông Nam nói.

Thủ phạm của cơn sốt gạo vừa qua cũng được xác định là do hệ thống phân phối bị lũng đoạn. Dư luận đặt câu hỏi, muốn đầu cơ, lũng đoạn lẽ nào không có sự bắt tay giữa các đơn vị kinh doanh, xuất khẩu gạo lớn với những người đầu cơ?

Một thí dụ khác: mặt hàng xi măng. Các doanh nghiệp sản xuất xi măng nói không tăng giá bán nhưng khi hàng đến tay người tiêu dùng giá xi măng đã đội lên tới 40-50% so với giá bán tại nhà máy. “Cả chục ngày nay, chúng tôi không có một bao xi măng Hà Tiên nào trong kho cả. Xe chở hàng phải nằm chết gí. Trong khi đó, nếu cần, vẫn có người đưa tới cả ngàn bao, tất nhiên với giá cao. Hàng này ở đâu ra? Vì sao họ mua được?”, anh Mười, một đại lý xi măng ở quận 12 bức xúc.

Theo PGS.TS Nguyễn Văn Nam, điều kiện để tạo ra các giao dịch nội gián chính là do đặc quyền, đặc lợi trong kinh doanh. Khi có đặc quyền, đặc lợi thì tính cạnh tranh bị triệt tiêu. “Với các doanh nghiệp được hưởng đặc quyền, đặc lợi, hệ thống phân phối hầu như không có tính cạnh tranh.

Trong khi đó, với các doanh nghiệp nước ngoài như Toshiba, Hitachi… hệ thống phân phối của họ luôn phải đảm bảo chất lượng, giá cả của công ty mẹ. “Họ rất có trách nhiệm với người tiêu dùng, chứ không phải muốn tăng lúc nào thì tăng được”, ông Nam nói.

* Giá thành thực chất là bao nhiêu?

Theo chuyên gia Phạm Chi Lan, một trong những vấn đề chưa minh bạch hiện nay là giá của các doanh nghiệp nhà nước, đặc biệt là các doanh nghiệp đang giữ vị thế độc quyền hoặc thống lĩnh thị trường trong một số lĩnh vực như điện, nước, xăng dầu, hàng không…

Thực chất giá thành của những mặt hàng, dịch vụ do các đơn vị này cung cấp bao nhiêu vẫn đang là câu hỏi khó có lời giải đáp. Bà Lan kể cách đây khá lâu, bà có đặt vấn đề tìm hiểu giá điện với một lãnh đạo ủy ban vật giá nhưng vị này cũng lắc đầu “vùng cấm, không thể vào được đâu”.

Vậy, các doanh nghiệp nhà nước thuộc diện phải kìm giá kiến nghị xin được tăng giá có hợp lý không? Cơ sở nào để xác định giá thành thực chất của sản phẩm, dịch vụ? Theo bà Lan, những vấn đề này rất cần được làm rõ.