Vàng “nín thở” chờ diễn biến mới

Đầu tuần, giá vàng trong nước đã liên tục được điều chỉnh theo diễn biến của thị trường vàng thế giới, dù biên độ không lớn…

Thị trường vàng trong nước dịp cuối tuần và cả sáng nay đều đang chờ đợi những diễn biến mới trên thị trường vàng thế giới.

Đầu tuần, giá vàng trong nước đã liên tục được điều chỉnh theo diễn biến của thị trường vàng thế giới, dù biên độ không lớn.

Giới đầu tư vẫn tiếp tục giữ thái độ thăm dò và thận trọng.

Trong sáng nay, Công ty Vàng bạc Đá quý SJC điều chỉnh giá vàng 3 lần, có lúc xuống mức 1.825.000 đồng/chỉ (mua vào) và 1.835.000 đồng/chỉ (bán ra), giảm 5.000 đồng/chỉ so với dịp cuối tuần. Sau đó, khi giá vàng thế giới nhích lên, giá vàng SJC cũng được đưa trở lại ngưỡng 1.830.000 đồng/chỉ và 1.840.000 đồng/chỉ, bằng đúng với giá niêm yết trong hai ngày thứ Bảy và Chủ Nhật.

Giá vàng Bảo Tín Minh Châu lúc 10h30 sáng là 1.825.000 đồng/chỉ (mua vào) và 1.843.000 đồng/chỉ (bán ra), giảm 3.000 đồng/chỉ và 5.000 đồng/chỉ so với thời điểm chiều ngày thứ 7. Nếu tính cả chi phí nhập khẩu, mức giá vàng trong nước hiện ngang với giá vàng thế giới.

Giá vàng thế giới “mở hàng” tuần mới chưa có biến động gì lớn. Giá vàng kỳ hạn giao dịch điện tử ở Mỹ hiện ở trên mức 938 USD/oz, còn giá vàng giao ngay trên thị trường châu Á hiện xấp xỉ mức 934 USD/oz. Các mức giá này chỉ cao hơn mức giá đóng cửa tuần trước khoảng 2 USD/oz.

Thị trường vàng trong nước dịp cuối tuần và cả sáng nay đều đang chờ đợi những diễn biến mới trên thị trường vàng thế giới. Đây là lý do khiến giao dịch trên thị trường “im ắng”. Ngày Chủ Nhật, các đại lý Công ty SJC tại Hà Nội chỉ bán ra được khoảng 500 cây vàng, thấp hơn hẳn mức bình thường.

Ông Chu Văn Học, phụ trách kinh doanh của SJC Hà Nội, nhận xét: “Các nhà đầu tư vàng đã bị lỗ nhiều, mà lỗ vài lần thì họ tỉnh ra ngay”. Cũng theo ông Học, xu hướng mới của giá vàng trong nước, nếu có, sẽ được hình thành vào buổi chiều nay hoặc sáng mai do tác động của những diễn biến tại thị trường châu Âu và nhất là thị trường Mỹ.

Giới phân tích nước ngoài hiện thiên về dự báo giá vàng tuần này sẽ tăng. Cuộc điều tra do hãng tin Bloomberg tiến hành cho thấy, trong số 34 thương gia và nhà phân tích được hỏi thì có 22 người khuyên mua vào, 7 người khuyên bán ra, và 5 người có quan điểm trung tính.

Giá dầu thô trên thị trường châu Á sáng nay tiếp tục đà giảm hôm thứ 6 tuần trước và ở mức xấp xỉ 105 USD/thùng. Giá dầu giảm do giới đầu tư lo ngại kinh tế Mỹ suy thoái sẽ khiến nhu cầu dầu sụt mạnh.

Đồng USD vẫn đang mất giá so với Euro và giá USD trên thị trường châu Á hôm nay đã tụt quá mốc 1,58 USD đổi được 1 Euro. Tại thị trường trong nước, USD tiếp tục vững giá so với VND.

Tỷ giá do Vietcombank niêm yết hôm nay là 16.090 VND/USD (mua vào) và 16.120 VND/USD (bán ra). Tỷ giá của Eximbank là 16.080 VND/USD (mua vào) và 16.120 VND/USD (bán ra). Các ngân hàng hiện đã “niềm nở” hơn rất nhiều đối với khách bán USD, khác hẳn với thời điểm USD tụt xuống dưới mức 16.000 VND/USD trước đây.

Trên thị trường tự do, Công ty Vàng bạc đá quý Bảo Tín Minh Châu sáng nay mua vào USD ở mức 16.100 VND/USD và bán ra ở mức 16.150 VND/USD. Giao dịch ngoại tệ ở cửa hàng của công ty này mấy ngày trở lại đây sôi động hơn giao dịch vàng.

Lập liên doanh bảo hiểm đầu tiên tại nước ngoài

Liên doanh Bảo hiểm Lào – Việt (LVI) trở thành liên doanh bảo hiểm đầu tiên của Việt Nam tại nước ngoài…

Lễ ký hợp đồng thành lập Liên doanh cuối tuần qua.

Liên doanh Bảo hiểm Lào – Việt (LVI) trở thành liên doanh bảo hiểm đầu tiên của Việt Nam tại nước ngoài.

Lễ ký hợp đồng liên doanh chính thức thành lập LVI đã được tổ chức vào cuối tuần qua, tại Thủ đô Viên Chăn, Nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào.

Khi đi vào hoạt động, LVI sẽ là liên doanh bảo hiểm đầu tiên của Việt Nam tại nước ngoài với tổng vốn đầu tư đăng ký là 3 triệu USD, trong đó phía Việt Nam là Công ty Bảo hiểm Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIC) góp 51% vốn điều lệ, phía Lào (Ngân hàng Ngoại thương Lào, Ngân hàng Liên doanh Lào – Việt) góp 49%.

Dự kiến, LVI sẽ chính thức đi vào hoạt động từ tháng 6/2008, đúng vào dịp kỷ niệm 9 năm thành lập Ngân hàng Liên doanh Lào – Việt.

Dự kiến đến năm 2012, LVI sẽ đạt 30% thị phần bảo hiểm tại Lào, trở thành một trong hai nhà bảo hiểm lớn nhất thị trường này và mở rộng đầu tư, các hoạt động kinh doanh khác liên quan đến lĩnh vực tài chính, bất động sản…

LVI sẽ hoạt động trong lĩnh vực bảo hiểm phi nhân thọ và đầu tư tài chính. Trong thời gian đầu, LVI sẽ tập trung cung cấp các sản phẩm bảo hiểm phục vụ cho các dự án và tài sản của các doanh nghiệp Việt Nam đầu tư sang Lào, tận dụng hết lợi thế về mạng lưới và nguồn khách hàng của các đối tác tham gia Liên doanh.

Về lâu dài, LVI sẽ mở rộng đối tượng khách hàng là các doanh nghiệp của Lào cũng như từng bước mở rộng phục vụ các khách hàng cá nhân.

Công ty Bảo hiểm Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam – tiền thân là Liên doanh Bảo hiểm Việt – Úc (BIDV-QBE), một doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ đã hoạt động tại Việt Nam từ năm 1999 và là thành viên 100% vốn của BIDV từ năm 2006 trên cơ sở BIDV mua lại toàn bộ phần vốn góp của phía nước ngoài trong Liên doanh này.

BIC hiện là công ty bảo hiểm phi nhân thọ có số vốn lớn thứ 4 thị trường Việt Nam và đang đứng trong top 10 công ty bảo hiểm lớn nhất Việt Nam.

Đại diện BIC cho biết, trước khi quyết định thành lập liên doanh bảo hiểm tại Lào, từ cuối năm 2006 BIC đã triển khai các hoạt động khảo sát, nghiên cứu thị trường bảo hiểm nước này và giữa năm 2007 đã triển khai ký kết thoả thuận hợp tác với AGL – doanh nghiệp bảo hiểm duy nhất đang hoạt động tại Lào (là liên doanh giữa Allianz Group và Bộ Tài chính Lào).

“Với kinh nghiệm sau nhiều năm hoạt động cũng như quá trình tìm hiểu khá kỹ lưỡng về nền kinh tế, thị trường bảo hiểm của Lào, chúng tôi nhận thấy đây là một thị trường hết sức tiềm năng đối với hoạt động kinh doanh bảo hiểm”, đại diện BIC nói.

Bảy giải pháp chống lạm phát của Chính phủ

Nội dung bài viết của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng về tình hình lạm phát và các giải pháp kiềm chế lạm phát của Chính phủ…

Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng.

Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng vừa có bài viết đánh giá về lạm phát, thực trạng, nguyên nhân và những giải pháp quyết liệt, đồng bộ phấn đấu kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, đảm bảo an sinh xã hội và tăng trưởng bền vững. VnEconomy xin trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc bài viết này. Tựa đề và các tựa nhỏ trong bài do Tòa soạn đặt.

Đất nước ta bước vào thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội năm 2008 trong bối cảnh kinh tế thế giới có nhiều biến động phức tạp và rất khó lường. Kinh tế Mỹ suy giảm nghiêm trọng: GDP quý 4 năm 2007 chỉ tăng 0,6%, thấp hơn rất nhiều so với các quý trước đó. Theo nhiều dự báo, kinh tế Mỹ cả năm 2008 chỉ tăng 1,5%. Thậm chí, có những nhận định cho rằng, kinh tế Mỹ đã bước vào giai đoạn suy thoái.

Đồng Đô la Mỹ (USD) giảm giá so với nhiều đồng tiền khác, giá cả của hầu hết các mặt hàng trên thị trường thế giới tăng cao (1), sự suy giảm của kinh tế Mỹ, nền kinh tế chiếm khoảng 25% tổng GDP toàn cầu và trên 15% tổng giá trị nhập khẩu hàng hoá thế giới, đã tác động mạnh và kéo theo sự suy giảm của nhiều nền kinh tế. Giá tăng cao ở hầu hết các nước, kể cả ở các nước có nền kinh tế mạnh và đã duy trì được mức giá thấp trong nhiều năm (2). Nhiều quốc gia đã phải điều chỉnh giảm mục tiêu tăng trưởng từ 1 đến 2% (3). Nếu kinh tế Mỹ rơi vào chu kỳ suy thoái, tình hình có thể còn phức tạp hơn.

Ưu tiên kiềm chế lạm phát

Đến nay, kinh tế nước ta đã hội nhập sâu, rộng vào nền kinh tế thế giới, độ mở của nền kinh tế là rất lớn với tổng kim ngạch xuất – nhập khẩu tương đương khoảng 160% GDP, trong đó, nhập khẩu gần 90% GDP, thì những biến động bất lợi ngoài tầm dự đoán như vừa qua của kinh tế toàn cầu và giá cả thị trường thế giới đã tác động tiêu cực đến tăng trưởng và đến mặt bằng giá trong nước với mức độ mạnh hơn nhiều so với trước đây và so với nhiều nước khác.

Trong nước, hai năm 2006 – 2007, thiên tai, dịch bệnh gây thiệt hại rất nặng nề (thiệt hại kinh tế khoảng 33.600 tỷ đồng) chưa được khắc phục thì đầu năm nay, đợt rét đậm, rét hại lịch sử kéo dài ở miền Bắc và Bắc Trung bộ đã gây tổn thất lớn về vật chất cho nhân dân và tác động bất lợi đến sản xuất nông nghiệp (4).

Bối cảnh quốc tế, trong nước nêu trên đã làm cho những yếu kém của nền kinh tế và trong cơ cấu kinh tế của nước ta bộc lộ sâu sắc hơn trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế, tạo ra những thách thức gay gắt cho việc quản lý và điều hành phát triển kinh tế.

Trước tình hình này, toàn Đảng, toàn dân, toàn quân và cộng đồng doanh nghiệp nước ta đã nỗ lực phấn đấu, phát huy mọi tiềm năng lợi thế, đối phó và vượt qua những khó khăn thách thức, giữ vững ổn định chính trị – xã hội, cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh, tạo ra những cơ sở để tăng trưởng cao trong trung và dài hạn, đã duy trì được tốc độ tăng trưởng GDP trong quý I đạt 7,4%. Đây là những cố gắng lớn của cả nước.

Tuy nhiên, do những tác động của kinh tế thế giới và những bất cập, yếu kém trong quản lý, điều hành kết hợp với các nguyên nhân nội sinh từ nền kinh tế đã làm cho tình hình kinh tế quý I năm 2008 có những diễn biến bất lợi như: Lạm phát cao, giá tiêu dùng tháng 3 đã tăng 9,19% so với tháng 12 năm 2007; nhập khẩu tăng mạnh, chênh lệch xuất – nhập khẩu lên tới hơn 7 tỷ USD và bằng 56,5% kim ngạch xuất khẩu.

Tình hình đó đã ảnh hưởng tiêu cực đến phát triển sản xuất và đời sống của các tầng lớp nhân dân, nhất là những người làm công ăn lương và người nghèo, đe doạ đến ổn định vĩ mô, tác động không thuận đến môi trường đầu tư, kinh doanh.

Trong phiên họp thường kỳ cuối tháng 3 năm 2008, qua thảo luận nghiêm túc và cân nhắc thận trọng trên các mặt, Chính phủ đã thống nhất xác định nhiệm vụ trọng tâm trong tình hình hiện nay là: phấn đấu kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, bảo đảm an sinh xã hội và tăng trưởng bền vững. Trong đó, kiềm chế lạm phát là mục tiêu ưu tiên hàng đầu. Bởi lẽ, nếu không kiềm chế được lạm phát, chẳng những sẽ ảnh hưởng đến phát triển sản xuất và đời sống của nhân dân, đến ổn định kinh tế vĩ mô mà còn ảnh hưởng đến tăng trưởng kinh tế trong trung và dài hạn, việc làm cũng giảm sút, môi trường đầu tư kinh doanh cũng sẽ trở nên xấu hơn.

Nói kiềm chế lạm phát là mục tiêu ưu tiên hàng đầu, có nghĩa là không chạy theo chỉ tiêu tăng trưởng đã đặt ra từ cuối năm 2007 mà phải tập trung sức để kiềm chế bằng được lạm phát, phấn đấu bảo đảm tốc độ tăng giá giảm dần. Theo tinh thần đó, Chính phủ dự kiến sẽ trình Quốc hội xem xét giảm chỉ tiêu tăng trưởng và điều chỉnh lại chỉ tiêu lạm phát cho phù họp với tình hình thực tế. Sự điều chỉnh này là cần thiết nhằm hướng các giải pháp vào mục tiêu ưu tiên hàng đầu, bảo đảm tiền đề cho tăng trưởng cao và bền vững những năm tiếp theo. Chính phủ đã và đang tập trung chỉ đạo điều hành để thực hiện các nhiệm vụ trọng tâm và mục tiêu ưu tiên hàng đầu này.

Bảy giải pháp chủ yếu

Để đạt được những nhiệm vụ và mục tiêu nêu trên, Chính phủ đã thống nhất chỉ đạo thực hiện quyết liệt và đồng bộ các giải pháp chủ yếu sau đây:

Một là, thực hiện chính sách tiền tệ thắt chặt. Cho dù do nhiều nguyên nhân, nhưng lạm phát luôn có nguyên nhân tiền tệ. Mức cung tiền trong lưu thông và dư nợ tín dụng tăng liên tục từ năm 2004 qua các năm và tăng cao trong năm 2007 là nguyên nhân quan trọng gây lạm phát. Nhận thức được tình hình đó, Chính phủ chủ trương kiểm soát chặt chẽ tổng phương tiện thanh toán và tổng dư nợ tín dụng ngay từ đầu năm. Ngân hàng Nhà nước, thông qua việc chủ động, linh hoạt sử dụng hợp lý các công cụ chính sách tiền tệ theo nguyên tắc thị trường để thực hiện bằng được yêu cầu này.

Điều cần nhấn mạnh là trong khi kiên quyết thắt chặt tiền tệ, cần bảo đảm tính thanh khoản của nền kinh tế và hoạt động của các ngân hàng, tổ chức tín dụng, tạo điều kiện cho sản xuất hàng hoá và xuất khẩu phát triển.

Hai là, cắt giảm đầu tư công và chi phí thường xuyên của các cơ quan sử dụng ngân sách, kiểm soát chặt chẽ đầu tư của các doanh nghiệp nhà nước, cố gắng giảm tỷ lệ thâm hụt ngân sách. Đầu tư từ nguồn ngân sách nhà nước và đầu tư của doanh nghiệp nhà nước hiện chiếm khoảng 45% tổng đầu tư xã hội. Cắt giảm nguồn đầu tư này sẽ làm giảm áp lực về cầu, giảm nhập siêu, góp phần nâng cao hiệu quả của nền kinh tế. Chính phủ sẽ quy định cụ thể tỷ lệ vốn đầu tư và chi phí hành chính phải cắt giảm và yêu cầu các bộ, địa phương xác định các công trình kém hiệu quả, các công trình chưa thực sự cần thiết để có sự điều chỉnh thích hợp. Điều này sẽ được thực hiện một cách kiên quyết ngay trong việc phân bổ lại và cân đối nguồn vốn.

Cũng trên tinh thần đó, Chính phủ yêu cầu các Bộ trưởng, Chủ tịch UBND các tỉnh, thành phố với tư cách là đại diện chủ sở hữu nhà nước, rà soát chặt chẽ các hạng mục đầu tư của doanh nghiệp nhà nước, kiên quyết cắt bỏ các công trình đầu tư kém hiệu quả. Đồng thời, tạo điều kiện và tập trung vốn cho những công trình sắp hoàn thành, những công trình đầu tư sản xuất hàng hoá thuộc mọi thành phần kinh tế đẩy nhanh tiến độ, sớm đưa vào sản xuất.

Ba là, tập trung sức phát triển sản xuất công nghiệp, nông nghiệp, khắc phục nhanh hậu quả của thời tiết và dịch bệnh để tăng sản lượng lương thực, thực phẩm. Hiện nay, tiềm năng tăng trưởng của nước ta còn rất lớn, nhất là khi Việt Nam đã là thành viên đầy đủ của Tổ chức Thương mại thế giới, đầu tư nước ngoài và đầu tư tư nhân tăng mạnh, thị trường xuất khẩu được mở rộng, vì vậy, phát triển sản xuất là giải pháp gốc, tạo hiệu quả nhiều mặt, vừa tăng nguồn cung cho thị trường trong nước và xuất khẩu, góp phần kiềm chế lạm phát, giảm nhập siêu, vừa thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, lại không gây phản ứng phụ.

Để thực hiện yêu cầu này, Chính phủ đã giao nhiệm vụ cho các bộ trưởng, chủ tịch UBND các tỉnh và thành phố chỉ đạo quyết liệt, kịp thời tháo gỡ các khó khăn, vướng mắc về vốn, về thị trường, về thủ tục hành chính, thúc đẩy sản xuất phát triển.

Bốn là, bảo đảm cân đối cung cầu về hàng hoá, đẩy mạnh xuất khẩu, giảm nhập siêu. Cân đối cung cầu về hàng hoá, nhất là các mặt hàng thiết yếu cho sản xuất và đời sống nhân dân là tiền đề quyết định để không gây ra đột biến về giá, ngăn chặn đầu cơ.

Thủ tướng Chính phủ, các bộ trưởng đã và sẽ tiếp tục làm việc với các hiệp hội ngành hàng, các doanh nghiệp kinh doanh các mặt hàng thiết yếu, như: lương thực, thực phẩm, thuốc chữa bệnh, xăng dầu, sắt thép, vật liệu xây dựng, phân bón… giao nhiệm vụ cho các đơn vị này phải bảo đảm nguồn hàng, đồng thời có trách nhiệm cùng Chính phủ kiềm giữ giá cả.

Trong khi kiên trì chủ trương thực hiện cơ chế giá thị trường, xoá bỏ bao cấp qua giá, nhưng trong tình hình hiện nay, mặc dầu giá thế giới tăng cao, Chính phủ đã quyết định: từ nay cho đến hết tháng 6, chưa tăng giá điện, giá than, giá xăng dầu; giữ ổn định giá xi măng, phân bón, nước sạch, thuốc bệnh, vé máy bay, tàu hoả; giao Bộ Tài chính rà soát để cắt, giảm các loại phí thu từ nông dân…

Để bảo đảm nguồn cung trên thị trường nội địa, giữ vững an ninh lương thực và kiềm chế sự tăng giá quá mức của nhóm hàng này, Chính phủ quy định lượng xuất khẩu gạo năm nay ở mức 4 triệu tấn và từ nay đến hết quý 3 không quá 3,2 triệu tấn. Chính phủ cũng đã giao Bộ Tài chính đề xuất phương án nâng thuế xuất khẩu than, dầu thô và nghiên cứu khả năng áp dụng thuế xuất khẩu gạo.

Trong điều kiện đồng Đô la Mỹ giảm giá so với đồng tiền các nước là thị trường xuất khẩu lớn của nước ta, việc neo giữ quá lâu tỷ giá hối đoái giữa đồng tiền Việt Nam và đồng Đô la Mỹ không phản ánh đúng quan hệ thực trên thị trường ngoại tệ. Vì vậy, Chính phủ chủ trương áp dụng tỷ giá linh hoạt với biên độ thích hợp, phản ánh quan hệ cung cầu trên thị trường, giúp cho việc kiềm chế lạm phát nhưng không ảnh hưởng lớn đến xuất khẩu, bảo đảm việc mua bán, chuyển đổi ngoại tệ diễn ra thuận lợi.

Cán cân thương mại là một chỉ tiêu vĩ mô rất quan trọng. Nhập siêu tăng trong năm 2007 và tăng cao hơn trong quý 1 năm nay, đã đe doạ đến cân đối vĩ mô, đòi hỏi phải áp dụng các biện pháp kiên quyết để hạn chế tình trạng này trên cơ sở đẩy mạnh xuất khẩu, kiểm soát nhập khẩu.

Để làm việc này, Chính phủ đang chỉ đạo quyết liệt thực hiện nhiều giải pháp: Ngân hàng Nhà nước bảo đảm đủ vốn và mua hết ngoại tệ cho các doanh nghiệp làm hàng xuất khẩu, xử lý ngay các ách tắc về tín dụng xuất khẩu cho từng trường hợp cụ thể; tăng cường hỗ trợ công tác xúc tiến thương mại đối với hàng xuất khẩu; cải cách mạnh thủ tục hành chính liên quan đến hoạt động xuất khẩu để giảm chi phí cho doanh nghiệp, góp phần nâng cao khả năng cạnh tranh của hàng xuất khẩu Việt Nam đi đôi với việc áp dụng các hàng rào kỹ thuật và các biện pháp khác phù hợp với các cam kết quốc tế của nước ta để giảm nhập siêu, kể cả việc tăng thuế nhập khẩu những mặt hàng không thiết yếu.

Năm là, triệt để tiết kiệm trong sản xuất và tiêu dùng. Hiện nay, tình trạng lãng phí trong sản xuất và tiêu dùng diễn ra khá phổ biến ở các cơ quan, đơn vị. Tiềm năng tiết kiệm trong sản xuất và tiêu dùng là rất lớn. Vì vậy, Chính phủ yêu cầu các cơ quan nhà nước cắt giảm 10% chi tiêu hành chính, các doanh nghiệp phải rà soát tất cả các khoản chi nhằm hạ giá thành và phí lưu thông. Chính phủ kêu gọi mọi người, mọi nhà triệt để tiết kiệm tiêu dùng, nhất là nhiên liệu, năng lượng. Đây là giải pháp vừa có tác dụng giảm sức ép về cầu, giảm nhập siêu, vừa góp phần nâng cao hiệu quả của cả nền sản xuất xã hội.

Sáu là, tăng cường công tác quản lý thị trường, kiểm soát việc chấp hành pháp luật nhà nước về giá. Kiên quyết không để xảy ra tình trạng lạm dụng các biến động trên thị trường để đầu cơ, nâng giá, nhất là các mặt hàng thiết yếu cho sản xuất và tiêu dùng, như: xăng dầu, sắt thép, xi măng, thuốc chữa bệnh, lương thực, thực phẩm…; ngăn chặn tình trạng buôn lậu qua biên giới, đặc biệt là buôn lậu xăng dầu, khoáng sản.

Các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế phải thường xuyên kiểm tra giá bán tại các mạng lưới bán lẻ và các đại lý bán lẻ của doanh nghiệp mình. Chính phủ đã chỉ đạo các tổng công ty nhà nước phải gương mẫu đi đầu trong việc thực hiện yêu cầu này và chịu trách nhiệm trước Chính phủ về hoạt động của hệ thống bán lẻ và đại lý bán lẻ của doanh nghiệp. Chính phủ cũng yêu cầu các hiệp hội ngành hàng tham gia tích cực, ủng hộ các chủ trương và giải pháp bình ổn thị trường, giá cả.

Bảy là, mở rộng việc thực hiện các chính sách về an sinh xã hội. Trước tình hình giá cả tăng cao, ảnh hưởng đến đời sống của nhân dân, nhất là vùng nghèo, hộ nghèo, vùng bị thiên tai, người lao động có thu nhập thấp, Chính phủ đã chủ trương mở rộng các chính sách về an sinh xã hội.

Chính phủ đã quyết định tăng 20% mức lương tối thiểu cho những người lao động thuộc khối cơ quan nhà nước, lực lượng vũ trang, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị – xã hội từ ngày 1 tháng 1 năm 2008. Chính phủ cũng quy định điều chỉnh mức lương tối thiểu theo hướng tăng lên đối với lao động Việt Nam làm việc cho doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, cơ quan, tổ chức nước ngoài, tổ chức quốc tế và cá nhân người nước ngoài tại Việt Nam, lao động làm việc ở công ty, doanh nghiệp, hợp tác xã, tổ hợp tác, trang trại, hộ gia đình, cá nhân và các tổ chức khác của Việt Nam có thuê mướn lao động.

Riêng với người lao động đã qua học nghề (kể cả lao động do doanh nghiệp tự dạy nghề), mức lương tối thiểu quy định cao hơn ít nhất 7% so với mức lương tối thiểu vùng. Ngoài ra, khoảng 1,8 triệu người về hưu và người hưởng trợ cấp bảo hiểm xã hội đã được tăng lương 20%, hơn 1,5 triệu người có công đã được điều chỉnh trợ cấp lên 20% so với mức chuẩn hiện hành.

Mới đây, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành quyết định số 289/QĐ-TTg về một số chính sách hỗ trợ đồng bào dân tộc thiểu số, hộ thuộc diện chính sách, hộ nghèo, hộ cận nghèo và ngư dân. Theo đó, thực hiện cấp bằng tiền tương đương 5 lít dầu hoả/năm (dầu thắp sáng) cho các hộ là đồng bào dân tộc thiểu số, hộ thuộc diện chính sách và hộ nghèo ở những nơi chưa có điện lưới; điều chỉnh mức hỗ trợ mua bảo hiểm y tế cho người nghèo từ 80.000 đồng/người/năm lên 130.000 đồng/người/năm; hỗ trợ 50% mệnh giá thẻ bảo hiểm y tế đối với thành viên thuộc hộ cận nghèo tham gia bảo hiểm y tế tự nguyện; hỗ trợ ngư dân mua mới, đóng mới tàu đánh bắt hải sản, tàu cung ứng dịch vụ cho hoạt động khai thác hải sản; hỗ trợ ngư dân để thay máy tàu sang loại máy mới tiêu hao ít nhiên liệu hơn; hỗ trợ về kinh phí bảo hiểm thân tàu cho tàu đánh bắt hải sản, tàu dịch vụ phục vụ hoạt động khai thác hải sản và bảo hiểm tai nạn cho thuyền viên làm việc theo hợp đồng lao động trên các tàu cá, tàu dịch vụ; hỗ trợ về dầu cho ngư dân là chủ sở hữu tàu đánh bắt hải sản hoặc tàu cung ứng dịch vụ cho hoạt động khai thác hải sản.

Chính phủ đã quyết định giữ ổn định mức thu học phí, viện phí và tiếp tục cho sinh viên, học sinh đại học, cao đẳng, học nghề có hoàn cảnh khó khăn được vay ưu đãi để học tập. Tiếp tục xuất gạo dự trữ quốc gia để cấp không thu tiền cho hộ đồng bào bị thiên tai, thiếu đói (5). Đồng thời, tiếp tục đẩy mạnh việc thực hiện các chương trình mục tiêu quốc gia, các giải pháp hỗ trợ khác đối với các vùng khó khăn, vùng bị thiên tai. Điều quan trọng cần chú ý là phải xây dựng cơ chế và kiểm tra việc thực thi, bảo đảm nguồn hỗ trợ của Nhà nước đến đúng đối tượng, không bị thất thoát, tham nhũng.

Cần đồng tâm, hiệp lực

Chống lạm phát là một nhiệm vụ phức tạp, đòi hỏi sự trả giá và đánh đổi. Để chống lạm phát đạt kết quả, sự trả giá và đánh đổi là thấp nhất, nhất thiết phải có sự phối hợp đồng bộ của các cơ quan quản lý nhà nước, sự chấp hành và tổ chức, triển khai thực hiện nghiêm túc của các cấp chính quyền.

Hơn nữa, thị trường thế giới đang biến động, phải theo dõi sát tình hình, cập nhật đầy đủ thông tin để có các giải pháp phản ứng kịp thời, chính xác, nhằm một mặt, hạn chế các tác động xấu do những khó khăn khách quan mới nẩy sinh; mặt khác, tận dụng được thời cơ mới xuất hiện để phát huy tiềm năng tăng trưởng của đất nước, thúc đẩy kinh tế phát triển cao hơn khi điều kiện thuận lợi.

Chính phủ nhận thức đầy đủ trách nhiệm của mình trước toàn Đảng, toàn dân về kiềm chế lạm phát. Nhưng, công cuộc này chỉ có thể đạt được kết quả khi có sự ủng hộ và đồng tâm, hiệp lực của cả hệ thống chính trị, của cộng đồng doanh nghiệp, của các cơ quan thông tin đại chúng và của toàn thể nhân dân cả nước.

Nhiệm vụ đặt ra là rất nặng nề, khó khăn thách thức trong quá trình phát triển đi lên có mặt cũng rất gay gắt, nhưng thời cơ thuận lợi và tiềm năng tăng trưởng của nền kinh tế nước ta còn rất lớn và rất cơ bản. Chúng ta hoàn toàn tin tưởng rằng, dưới sự lãnh đạo của Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng và với sự quyết tâm, chung sức chung lòng của toàn Đảng, toàn quân, toàn dân, chúng ta sẽ kiềm chế được lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, bảo đảm an sinh xã hội và tiếp tục đưa nền kinh tế nước ta phát triển bền vững, thực hiện thắng lợi nhiệm vụ kế hoạch 5 năm 2006 – 2010 mà Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X đã đề ra.

(1) Giá dầu thô quý 1 năm 2008 tăng gần 40% so với giá bình quân năm 2007 và dự báo tiếp tục ở mức cao như hiện nay. Thậm chí có dự báo cao hơn, lên đến 150USD/ thùng. Giá phôi thép đầu năm 2008 đã tăng 45,1% so với cuối năm 2007, hiện giá chào đã lên đến 900USD/tấn. Giá phân urê, giá bột mỳ, gạo tháng 3 năm 2008 đã tăng hơn gấp đôi so với năm 2007.

(2) Giá tiêu dùng ở Trung Quốc tháng 2 năm 2008 tăng 8,7% so với cùng kỳ, trong khi đó, tháng 2 năm 2007 chỉ tăng 2,7% so với tháng 2 năm 2006. Thái Lan tương ứng là 5,41% so với 2,32%; Philippin là 5,36% so với 2,64%; Khu vực đồng Euro là 3,2% so với 1,84%.

(3) Năm 2008, nhiều quốc gia đã phải thực hiện điều chỉnh giảm mục tiêu tăng trưởng để đối phó với tình hình này: Mỹ 1,5% (năm trước là 2,7%); Khu vực đồng tiền chung Châu Âu 1,6% (năm trước là 2,6%); Nhật 1,5% (năm trước là 1,9%); Trung Quốc 8% (năm trước là 11,4%).

(4) Tính riêng trong đợt rét đậm, rét hại đầu năm 2008, có khoảng 200 nghìn ha lúa, 18 nghìn ha mạ, 25 nghìn ha rau màu bị hỏng hoàn toàn, 180 nghìn trâu bò bị chết rét… Tổng thiệt hại ước tính khoảng 1.000 tỷ đồng.

(5) Năm 2007 và 3 tháng đầu năm 2008 đã xuất gạo dự trữ quốc gia cấp không thu tiền cho hộ thiếu đói và bị thiên tai gần 80.000 tấn.

Cuộc “đại cải tổ” chức năng của FED

Các ngân hàng đầu tư như JP Morgan Chase, Goldman Sachs… sẽ được vay tiền trực tiếp từ Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (FED)…

Dự kiến, kế hoạch này sẽ được Bộ trưởng Bộ Tài chính Mỹ, ông Henry Paulson, công bố trong ngày hôm nay (31/3).

Trong một động thái mới nhất nhằm đương đầu với khủng hoảng tín dụng, chính quyền Mỹ vừa đề ra một kế hoạch thay đổi căn bản chức năng nhiệm vụ của Cục Dự trữ Liên bang nước này (FED).

Dự kiến, kế hoạch này sẽ được Bộ trưởng Bộ Tài chính Mỹ, ông Henry Paulson, công bố trong ngày hôm nay (31/3).

Theo đó, FED sẽ được trao thêm quyền lực để trở thành cơ quan bảo vệ sự ổn định của hệ thống tài chính tại Mỹ. Đây được coi là bước cải tổ chức năng lớn nhất tại FED kể từ thời kỳ Đại khủng hoảng vào thập niên 1930, vì trước đây, FED chỉ có vai trò bảo vệ các ngân hàng thương mại của Mỹ, thay vì các tổ chức tài chính trên Phố Wall.

Theo đó, các ngân hàng đầu tư như JP Morgan Chase, Goldman Sachs… sẽ được vay tiền trực tiếp từ FED, một “đặc ân” mà trước đây chỉ có các ngân hàng thương mại mới được hưởng.

Theo quy định hiện tại ở Mỹ, các tổ chức tiết kiệm, các ngân hàng thương mại và các tổ chức tín dụng nằm dưới sự bảo lãnh bởi chính quyền liên bang và phải tuân thủ quy định của rất nhiều cơ quan giám sát. Trong khi đó, các quy định giám sát dành cho các quỹ phòng hộ, các công ty đầu tư cổ phần tư nhân và các ngân hàng đầu tư là rất ít.

Cuộc khủng hoảng tín dụng khiến kinh tế Mỹ chao đảo thời gian qua giống như một hồi chuông cảnh báo về những thiếu sót trong việc giám sát các tổ chức này. Nhiều tập đoàn tài chính vừa qua đã công bố những khoản thua lỗ nhiều tỷ USD xuất phát từ tình trạng vỡ nợ do đầu tư cho vay mua nhà.

Cách đây không lâu, FED đã có một động thái hiếm gặp là cung cấp cho một tập đoàn tài chính là JP Morgan Chase một khoản vay 30 tỷ USD để tập đoàn này mua lại đối thủ Bear Stearns bên bờ vực phá sản.

Hành động như vậy, FED đã đặt ngân sách công vào thế rủi ro, khiến giới chuyên môn không thể lên tiếng kêu gọi việc giám sát chặt chẽ hơn các ngân hàng đầu tư và các tổ chức tài chính khác. Đây chính là lý do mà Bộ Tài chính Mỹ đi đến kế hoạch này.

Kế hoạch cải tổ FED của ông Paulson, người nguyên là chủ tịch của ngân hàng đầu tư Goldman Sachs, cũng loại bỏ sự chồng chéo chức năng trong việc giám sát các ngân hàng thương mại, các tổ chức tín dụng và các tổ chức tiết kiệm. Theo đó, kế hoạch này đề xuất việc giải tán một số cơ quan như Văn phòng Giám sát các tổ chức tiết kiệm và Ủy ban Giao dịch hàng hóa kỳ hạn và đưa các chức năng, nhiệm vụ này gộp vào chức năng, nhiệm vụ của FED.

Giới quan sát dự báo, kế hoạch của ông Paulson sẽ “châm ngòi” cho những cuộc thảo luận gay gắt tại Quốc hội Mỹ – cơ quan sẽ thông qua kế hoạch này. Một số nghị sỹ hiện tỏ thái độ rất ủng hộ kế hoạch này của ông Paulson, trong khi một số khác thì cho rằng ông hành động như vậy vẫn là chưa đủ vì Phố Wall hiện có quá nhiều những công cụ tài chính phức tạp.

Đến lúc này, vẫn chưa thể khẳng định FED sẽ thành công đến đâu trong việc giám sát nhưng ngân hàng đầu tư khổng lồ của Phố Wall. Đây là lần đầu tiên mà các quỹ phòng hộ và các công ty đầu tư cổ phần tư nhân ở Mỹ được đưa vào khuôn khổ, nhiều người vẫn cho rằng kế hoạch của ông Paulson thiếu sức mạnh nhằm hạn chế sự “thèm muốn” của Phố Wall đối với những hoạt động rủi ro.

Theo kế hoạch này, FED được quyền biết rõ về tình trạng thanh khoản và vốn của các ngân hàng đầu tư, nhưng không phải FED “muốn gì làm nấy” vì vẫn có những hạn chế với những điều kiện nhất định kiểu như “…khi sự ổn định của toàn bộ hệ thống tài chính bị đe dọa”.

Kế hoạch cải tổ này cố gắng không đặt các ngân hàng đầu tư của nước này vào thế bất lợi trong cạnh tranh với các đối thủ nước ngoài. Tuy nhiên, năm nay là một năm bầu cử ở Mỹ nên Phố Wall rất có thể sẽ phải tuân thủ những quy định chưa từng có trước đây.

Nhiều nhà phân tích hiện đang đặt câu hỏi liệu các ngân hàng đầu tư có bị buộc phải duy trì dự trữ cao hơn, khiến hạn chế khả năng kiếm lợi nhuận của các ngân hàng này, vì không giống như các ngân hàng thương mại bị giám sát chặt chẽ, các công ty Phố Wall thường sử dụng lượng vốn vay lớn để tối đa hóa lớn nhuận.

* Những điểm chính trong kế hoạch cải tổ FED:

– Đưa FED trở thành tổ chức điều hành chính nhằm đảm bảo sự ổn định của thị trường tài chính Mỹ; mở rộng khả năng của FED trong việc giám sát bất kỳ tổ chức tài chính nào có khả năng gây ra rủi ro cho hệ thống tài chính nước này.

– Giải tán và sáp nhập một số cơ quan nhằm tránh sự chồng chéo chức năng.

– Thành lập một cơ quan quốc gia để giám sát các công ty bảo hiểm, đối tượng hiện chủ yếu vẫn nằm dưới sự giám sát của các bang.

– Thành lập một ủy ban để giải quyết các vấn đề có liên quan đến làn sóng vỡ nợ đang dâng cao.

Lãi suất cho vay: Việt vị hàng loạt và cú giải cứu không thành

Việc luật hóa một cách quá cụ thể một vấn đề nhạy cảm như lãi suất là không hợp lý…

Nếu lãi suất cho vay vẫn ở mức “vi phạm” như hiện nay, nếu một khách hàng đứng ra kiện một ngân hàng thương mại thì sẽ ra sao?

Điều 476 – Bộ luật Dân sự năm 2005 quy định: lãi suất cho vay trên thị trường không được quá 150% lãi suất cơ bản mà Ngân hàng Nhà nước công bố.

Lấy điều khoản này soi chiếu vào tình hình cho vay hiện nay, xem như một loạt ngân hàng đã “việt vị”. Đáng nói là, một nỗ lực giải cứu các ngân hàng khỏi những rắc rối xung quanh vấn đề này vừa được tiến hành nhưng không thành…

Theo thông báo của Ngân hàng Nhà nước tại Quyết định số 479 ngày 29/2, mức lãi suất bằng đồng Việt Nam (VND) áp dụng từ ngày 1/3/2008 là 8,75%/năm. Chiểu theo điều khoản nói trên, các ngân hàng không được cho vay với lãi suất cao hơn 8,75×150% = 13,125% xem như là đã “việt vị”.

Đây quả thực là một câu chuyện không mới. Ngay từ khi Bộ luật Dân sự có hiệu lực, nhiều chuyên gia ngân hàng đã lên tiếng về tính “hành chính” khá nặng nề trong điều khoản trên. Tranh luận cũng diễn ra xung quanh việc diễn giải từ ngữ, theo đó “không quá 150%” có nghĩa là không quá 1,5 lần hay là không quá lãi suất cơ bản cộng thêm 1,5 lần, tức là 2,5%.

Năm ngoái, lãnh đạo một loạt ngân hàng đã lên tiếng về vấn đề này và đòi hỏi phải sửa đổi luật dân sự cho phù hợp. Ủy ban Thường vụ Quốc hội cũng đã thảo luận vấn đề này và thậm chí đã đưa vấn đề sửa đổi điều 476 vào chương trình làm việc.

Thời gian gần đây, cơn sốt lãi suất lan rộng và lãi suất cho vay tại nhiều ngân hàng đã đồng loạt vượt qua trần 150% nói trên. Nhưng bởi vì đây là vấn đề của cả khối ngân hàng nên nó mặc nhiên được thừa nhận, cho dù ai cũng hiểu rằng đang “việt vị”.

Trên thực tế, ai cũng thừa nhận rằng việc luật hóa một cách quá cụ thể một vấn đề nhạy cảm như lãi suất là không hợp lý. Thay vi quy định như trên, điều 476 có thể quy định chung hơn là “lãi suất cho vay trên thị trường do ngân hàng nhà nước công bố hàng tháng” hoặc “không được quá 150% lãi suất cơ bản mà Ngân hàng Nhà nước công bố nhưng trong từng thời điểm cụ thể Ngân hàng nhà nước được phép điều chỉnh cho phù hợp”.

Đáng nói là vào ngày 27/3 vừa qua, Ngân hàng Nhà nước đã làm một cuộc giải cứu cho các ngân hàng thương mại khỏi những rắc rối xung quanh vấn đề này. Theo tờ trình của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Nguyễn Văn Giàu gửi Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Ngân hàng Nhà nước đề xuất nâng trần lãi suất vay từ 150% của lãi suất cơ bản lên 300% của lãi suất trái phiếu kho bạc thấp nhất của lần phát hành cuối cùng trước thời điểm cho vay, tức lãi suất trần cao khoảng gấp 2 lần so với qui định hiện hành.

Theo tờ trình này, Ngân hàng Nhà nước thừa nhận “lãi suất trần bằng 150% của lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố là thấp, không phản ánh đúng thực tế quan hệ cung cầu của thị trường tín dụng, dẫn đến tình trạng các ngân hàng, tổ chức tín dụng hoặc bị thua lỗ nếu tôn trọng luật định, hoặc phải tiến hành các hợp đồng cho vay không phù hợp luật định”.

Tờ trình cũng “cài cắm” một nội dung có lợi cho các ngân hàng thương mại về mặt pháp lý. Theo đó, điều chỉnh trên sẽ có hiệu lực từ 1/1/2009, “nhưng sẽ được áp dụng đối với các hợp đồng vay tài sản phát sinh từ 1/1/2006”. Đề xuất này đồng nghĩa với qui định không hồi tố, tức là miễn xét phạm tội đối với các hợp đồng vay mượn tài sản, tín dụng vượt quá mức lãi suất trần 150% như luật pháp hiện hành qui định, kể từ ngày 1/1/2006. Một điều kiện mà nếu Ủy ban Thường vụ Quốc hội đồng ý, các ngân hàng thương mại đang vi phạm rành rành nghiễm nhiên trở nên vô tội.

Tính toán này cao tay về mặt kỹ thuật, nhưng lại không thích hợp về mặt thời điểm. Giữa thời kỳ lãi suất tăng, lạm phát tăng, kinh tế khó khăn như hiện nay, nếu Ủy ban Thường vụ Quốc hội đồng tình với phương án trên, khác nào đổ thêm dầu vào lửa. Ủy ban Thường vụ Quốc hội, hơn ai hết, hiểu cần phải ưu tiên cho việc gì vào thời điểm này.

Nhưng việc Ủy ban Thường vụ Quốc hội phủ quyết phương án trên cũng đưa tới những khả năng bỏ ngỏ cho vấn đề.

Thứ nhất, nếu lãi suất cho vay vẫn ở mức “vi phạm” như hiện nay, nếu một khách hàng đứng ra kiện một ngân hàng thương mại thì sẽ ra sao? Tòa án sẽ viện dẫn vào cái gì để giải quyết?

Thứ hai, nếu một ngày nào đó Ủy ban Thường vụ Quốc hội thấy cần phải sửa luật để “hợp thức hóa” chuyện này, sẽ phải sửa đồng thời cả luật hình sự. Điều 163 của Luật Hình sự quy định “Người nào cho vay với mức lãi suất cao hơn mức lãi suất cao nhất mà pháp luật quy định từ mười lần trở lên có tính chất chuyên bóc lột, thì bị phạt tiền từ một lần đến mười lần số tiền lãi hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến một năm.”

Xem chừng, nếu chấp nhận cho áp dụng trần 300% từ 1/1/2006 như đề nghị của Ngân hàng Nhà nước, một loạt tội nhân cho vay nặng lãi đã bị xử án trong hai năm qua cũng sẽ đâm đơn đòi hồi tố và bồi thường oan sai.

Ông Lê Đức Thúy làm Chủ tịch Ủy ban Giám sát tài chính

Ủy ban Giám sát tài chính quốc gia sẽ là đầu mối điều phối giám sát thị trường tài chính…

Ông Lê Đức Thúy là Thống đốc Ngân hàng Nhà nước từ cuối năm 1999 đến tháng 7/2007.

Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng vừa bổ nhiệm ông Lê Đức Thúy, nguyên Thống đốc Ngân hàng Nhà nước, vào vị trí Chủ tịch Ủy ban Giám sát tài chính quốc gia, cơ quan có nhiệm vụ giám sát và cảnh báo rủi ro đối với các lĩnh vực ngân hàng, chứng khoán và bảo hiểm.

Ông Lê Đức Thúy là Thống đốc Ngân hàng Nhà nước từ cuối năm 1999 đến tháng 7/2007. Hiện ông giữ vị trí Phó chủ tịch chuyên trách Hội đồng Tư vấn chính sách tài chính, tiền tệ quốc gia.

Quyết định thành lập Ủy ban Giám sát Tài chính quốc gia và bổ nhiệm Chủ tịch Ủy ban được đưa ra trong bối cảnh lạm phát 3 tháng đầu năm ở mức 9,19%, là tỷ lệ lạm phát cao nhất trong một quý trong vòng 13 năm lại đây.

Dự kiến Chính phủ sẽ đề nghị Quốc hội điều chỉnh các chỉ tiêu kinh tế xã hội cả năm. Trong lời kêu gọi người dân tiết giảm chi, tiêu vừa phát đi, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng nhận định, cung tiền trong lưu thông và dư nợ tín dụng tăng cao là nguyên nhân quan trọng gây ra lạm phát. Trong năm 2007, dư nợ tín dụng của các ngân hàng thương mại tăng 130%.

Ủy ban Giám sát tài chính quốc gia sẽ là đầu mối điều phối giám sát thị trường tài chính và việc chấp hành các thông lệ quốc tế về hoạt động giám sát của các cơ quan thanh tra trong ngành. Ngoài ra, đơn vị này còn thực hiện các phân tích, dự báo, và cảnh báo về độ an toàn của hệ thống tài chính – ngân hàng và những nguy cơ đối với thị trường này.

ATM của Agribank chấp nhận thẻ MasterCard

Kể từ ngày 28/3/2008, hệ thống ATM của Agribank sẽ kết nối thanh toán với thẻ MasterCard…

Sau 4 năm tham gia thị trường thẻ, Agribank đã phát hành được hơn 1,5 triệu thẻ, chiếm 17% thị phần thẻ trong tổng số gần 40 ngân hàng tham gia hoạt động thẻ tại Việt Nam.

Kể từ ngày 28/3/2008, hệ thống ATM của Agribank sẽ kết nối thanh toán với thẻ MasterCard.

Theo Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam (Agribank), các tiện ích mà khách hàng sử dụng thẻ MasterCard được thực hiện tại ATM của Agribank bao gồm: rút tiền mặt, xem số dư tài khoản, in sao kê tài khoản.

Việc kết nối thanh toán thẻ MasterCard tại ATM của Agribank nhằm cung cấp nhiều hơn dịch vụ và tiện ích cho khách hàng.

Sau 4 năm tham gia thị trường thẻ, Agribank đã phát hành được hơn 1,5 triệu thẻ, chiếm 17% thị phần thẻ trong tổng số gần 40 ngân hàng tham gia hoạt động thẻ tại Việt Nam.

Ngân hàng này đang có mạng lưới chấp nhận thẻ tương đối rộng khắp, bao gồm 1.200 máy ATM và hàng nghìn thiết bị chấp nhận thẻ (POS). Hiện nay, Agribank đã kết nối thanh toán với VISA, Banknetvn.

MasterCard International là một công ty hàng đầu thế giới về hệ thống chi trả toàn cầu. Từ một công ty nhỏ được hình thành năm 1966, MasterCard đã phát triển thành một tổ chức rộng lớn. Thẻ tín dụng MasterCard hiện nay có thể sử dụng ở trên 14 triệu điểm thanh toán trên khắp thế giới.

Bốn nguyên nhân làm “đô” tăng giá

Đang có tình trạng “sốt Đô la” chưa từng xảy ra trong hơn 6 năm qua ở nước ta…

Nếu như tỷ giá của Ngân hàng Nhà nước không bị neo lại, hay không bị ghìm lại theo mục tiêu điều hành chính sách tiền tệ mua bán thì tỷ giá của ngân hàng thương mại còn tăng cao hơn.

Thị trường ngoại tệ những ngày gần đây diễn biến bất thường, nằm ngoài sự dự đoán của chính các nhà quản trị điều hành ngân hàng thương mại và chuyên gia kinh doanh ngoại hối giầu kinh nghiệm.

Tỷ giá giữa Đồng Việt Nam và Đô la Mỹ (VND/USD) trong thời gian dài xuống thấp, nay đột ngột tăng lên rất mạnh.

Giá Đô la Mỹ trên thị trường tự do chỉ trong ít ngày đã tăng hơn 520 đồng/USD, hay tăng tới gần 6% chỉ trong có 1 tuần. Ngày 28/3, giá mua bán USD của các cửa hàng vàng bạc tư nhân ở Hà Nội và Tp.HCM tăng vọt lên so với mấy ngày trước đó. Giá USD mua vào ở Hà Nội lên tới 16.150 đồng – 16.165 đồng/USD và giá bán ra lên tới 16.250 đồng – 16.260 đồng/USD, tăng 80 đồng – 90 đồng/USD so với 1 ngày trước và tăng tới 500 đồng/USD so với cách đó hơn 1 tuần.

Mức tăng quá lớn như vậy chỉ trong có ít ngày nên giới kinh doanh ngoại tệ gọi là tình trạng “sốt Đô la” chưa từng xảy ra trong hơn 6 năm qua ở nước ta. Đồng thời khoảng cách chênh lệch quá xa giữa giá mua và giá bán USD của tư nhân chứng tỏ thị trường này rất nhậy cảm và cho thấy dấu hiệu có khả năng tiếp tục tăng cao?

Nếu không bị neo, tỷ giá sẽ tăng phá trần

Trên thị trường mua bán ngoại tệ của các ngân hàng thương mại với doanh nghiệp và khách hàng, tình trạng “sốt ngoại tệ” còn diễn ra ở mức lớn hơn. Chỉ trong 1 tuần tính từ ngày 21/3 đến ngày 28/3 tỷ giá đã tăng tới 280 đồng – 298 đồng/USD. Mức tăng đột biến hiếm có trong lịch sử mua bán ngoại tệ của các ngân hàng thương mại Việt Nam.

Tỷ giá của Ngân hàng ngoại thương Việt Nam, ngân hàng thương mại hàng đầu về kinh doanh ngoại tệ trong 2 ngày 27 và ngày 28/3 cả mua vào và bán ra đều ở mức 16.120 đồng/USD, so với mức 15.830- 15.840 đồng/USD ngày 20/3 và ngày 21/3 chỉ có 15.822 đồng/USD.

Tỷ giá bình quân trên thị trường liên ngân hàng do Ngân hàng Nhà nước công bố ngày 28/3 cũng đạt tới 15.960 đồng/USD, không tăng so với mức 19.960 đồng ngày 27/3, nhưng tăng tới 60 đồng – 62 đồng/USD chỉ trong 1 tuần so với mức 15.990 đồng/USD ngày 21/3.

Như vậy tỷ giá mua bán ngoại tệ của các ngân hàng thương mại đã tăng kịch trần +1% so với biên độ quy định của Ngân hàng Nhà nước. Như vậy nếu như tỷ giá của Ngân hàng Nhà nước không bị neo lại, hay không bị ghìm lại theo mục tiêu điều hành chính sách tiền tệ mua bán thì tỷ giá của ngân hàng thương mại còn tăng cao hơn.

Đồng thời, đây là lần đầu tiên sau 7 tháng qua tỷ giá mua bán của các ngân hàng thương mại tăng lên kịch trần tỷ giá theo biên độ quy định của Ngân hàng Nhà nước. Bởi vì nhiều tháng trước đây tỷ giá của các ngân hàng thương mại thường ở mức dưới tỷ giá liên ngân hàng. Đây cũng là lần đầu tiên sau nhiều tháng tỷ giá bán ra của ngân hàng thương mại thấp hơn tỷ giá mua vào của thị trường tự do.

Diễn biến này cũng cho thấy sức ép tăng tỷ giá mua bán ngoại tệ của các ngân hàng thương mại còn rất lớn.

Lý do “sốt”?

Vậy tại sao có tình trạng “sốt nóng” của thị trường ngoại tệ, nhất là sau một thời gian dài thị trường này nguội lạnh?

Có một số nguyên nhân chính sau đây.

Một là, do cầu USD tăng mạnh so với cung bởi một số lý do chính. Ước tính đến hết quý I/2008 nền kinh tế Việt Nam nhập siêu tới mức kỷ lục, tới 7,3 tỷ USD. Kim ngạch nhập khẩu gấp 2,7 lần kim ngạch xuất khẩu. Các doanh nghiệp có nhu cầu rất lớn về ngoại tệ cho thanh toán hàng nhập khẩu và chi trả dịch vụ cho đối tác nước ngoài. Giá cả hàng hoá nhập khẩu bằng USD tăng cao, nhất là giá xăng, giá sắt thép, giá hoá chất,…

Giá vàng thế giới đang giảm, một số doanh nghiệp tranh thủ nhập khẩu vàng về Việt Nam cần lượng đáng kể USD cho nhập khẩu. Nhiều doanh nghiệp có vốn FDI chuyển một phần vốn và lợi nhuận về nước theo niên độ tài chính kết thúc vào ngày 31/3 hàng năm cần mua ngoại tệ. Một số chi nhánh Ngân hàng nước ngoài tại Việt Nam thời gian gần đây liên tục chào mua ngoại tệ để đáp ứng nhu cầu khách hàng của mình.

Trong khi đó các doanh nghiệp xuất khẩu sau một thời gian ngắn tạm thời bị “ứ đọng” ngoại tệ do tỷ giá xuống quá thấp và ngân hàng thương mại cũng như Ngân hàng Nhà nước không mua vào, thì nay theo chỉ đạo của Chính phủ, Ngân hàng Nhà nước và các ngân hàng thương mại đã mua vào, giải toả hết sự ứ đọng đó, nên nguồn cung ngoại tệ ra thị trường giảm mạnh.

Nguyên nhân nữa là do sau một thời gian người dân ồ ạt rút tiền gửi USD tại các ngân hàng thương mại bán đi lấy Đồng Việt Nam gửi tiết kiệm thì nay làn sóng đó đã giảm xuống do nguồn USD rút ra để bán đã cạn dần.

Đồng thời, do lãi suất huy động vốn USD của các ngân hàng thương mại được điều chỉnh tăng khá, nên nhiều người khác không chuyển đổi USD sang Đồng Việt Nam nữa, làm giảm cung USD trên thị trường.

Một nguồn cung ngoại tệ lớn khác là nguồn vốn đầu tư gián tiếp qua thị trường chứng khoán và mua cổ phần của các doanh nghiệp của các quỹ đầu tư nước ngoài, nhà đầu tư nước ngoài, nhưng do diễn biến suy giảm của thị trường chứng khoán nên lượng ngoại tệ này tạm thời chưa giải ngân, làm giảm đáng kể lượng cung USD.

Hai là, đồng Đôla Mỹ mạnh lên so với các đồng tiền chủ đạo khác trên thị trường thế giới. Giá vàng giảm mạnh, tác động đến quyết định ngừng bán USD trên cả thị trường thế giới cũng như thị trường trong nước để đầu tư vào vàng như trước đây.

Ba là, quyết định của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước nới rộng biên độ giao dịch ngoại tệ của các ngân hàng thương mại đối với khách hàng lên +/-1% từ ngày 10/3 thay cho mức +/- 0,75% trước đó. Ngân hàng Nhà nước cho phép thí điểm thực hiện giao dịch tỷ giá thoả thuận giữa các ngân hàng thương mại và doanh nghiệp, khách hàng. Hai quyết định đó làm cho thị trường ngoại tệ có sự lưu chuyển tốt hơn và thông suốt hơn giữa các kênh nguồn vốn ngoại tệ.

Bốn là, sau một loạt biện pháp kiên quyết thắt chặt tiền tệ, thị trường tiền tệ đã hạ nhiệt, vốn khả dụng Đồng Việt Nam khá. Chỉ đạo các biện pháp kiềm chế lạm phát của Thủ tướng Chính phủ, trong đó có biện pháp yêu cầu Ngân hàng Nhà nước điều hành tỷ giá phản ánh cung cầu ngoại tệ trên thị trường đã thực sự phát huy hiệu quả, có tác dụng “phá băng” thị trường ngoại tệ.

Hứa hẹn phone banking, Internet banking

Chuyên gia tài chính Lê Trọng Nhi cung cấp những thông tin cập nhật về các dịch vụ ngân hàng: phone banking, Internet banking…

Ngày nay, dịch vụ ngân hàng có thể được tích hợp trên các thiết bị nhỏ gọn, nhờ có sự phát triển của internet.

Chuyên gia tài chính Lê Trọng Nhi cung cấp những thông tin cập nhật về các dịch vụ ngân hàng: phone banking, Internet banking.

Ông cho biết thế nào là một dịch vụ phone banking, Internet banking có chất lượng tốt?

Phone banking và Internet banking thuộc loại dịch vụ gián tiếp từ xa của ngành ngân hàng. Ngay tại Mỹ và vài nền kinh tế với ngành ngân hàng phát triển mạnh và rộng rãi – nhất là với lĩnh vực ngân hàng bán lẻ – người tiêu dùng (retail banking – consumer banking) thì loại dịch vụ gián tiếp này cũng chỉ mới phát triển và được cung cấp trên diện rộng cách đây 10 – 12 năm.

Cho nên, theo ý kiến riêng tôi, những nỗ lực hiện nay của hệ thống ngân hàng tại Việt Nam đã là một bước đột phá khá dài và đáng khích lệ.

Vì là dịch vụ gián tiếp với công nghệ mới và liên quan trực tiếp đến tiền (tài sản) cho nên người khách hàng bình thường cần có thời gian để thích ứng và chấp nhận. Không thấy mặt người giao dịch. Không cầm và đếm được tiền của mình. Không quen (chưa an tâm) với giao dịch không có chữ ký giao nhận… Chính vì vậy, an toàn, an toàn, an toàn có thể được xem là yếu tố hàng đầu về chất lượng tốt.

Chẳng những đây là xu thế chung của thị trường và yếu tố tiện ích trong cạnh tranh và đồng thời cũng là một nỗ lực làm giảm giá thành của giao dịch thanh toán của ngành ngân hàng cho nên tôi nghĩ rằng đối với những ngân hàng có chiến lược bán lẻ tốt thì họ phải làm tốt và rất tốt loại dịch vụ này trong thời gian 3 – 5 năm tới.

Nếu như ngân hàng nào không cung cấp được loại dịch vụ tiện ích này với chất lượng tốt thì tôi không tin ngân hàng đó được xem là một ngân hàng có sức cạnh tranh bền vững và thậm chí sẽ khó mà tồn tại sau năm 2012 – 2015.

Vì vậy, ngoài việc phải tạo và giúp người khách hàng bình thường có được sự an toàn cao như tôi đã nêu trên thì ngân hàng còn phải luôn tìm cách tạo ra và cải tiến những phương cách giao thức và giao diện thân thiện (dễ kết nối và ít công đoạn) cho người khách hàng sử dụng Internet qua máy tính hoặc qua điện thoại.

Đối với phía ngân hàng, vì họ biết hệ thống bảo mật và an ninh của mình cho nên vấn đề giao dịch thân thiện chính là một trong vài yếu tố để đánh giá chất lượng tốt.

Theo ông, những tiêu chí nào là quan trọng nhất dùng để đánh giá chất lượng của dịch vụ phone banking, Internet banking của một ngân hàng?

Là người trong ngân hàng nhưng tôi muốn đứng ở vị trí của người tiêu dùng để trả lời câu hỏi này – dù sao thì tôi cũng phải là người tiêu dùng. Nếu phải so sánh hoặc đánh đổi giữa an toàn và giao diện thân thiện thì tôi cho rằng an toàn vẫn là tiêu chí quan trọng nhất.

Ông cho biết thêm hiện nay ở nước ngoài, người tiêu dùng đã sử dụng dịch vụ này vào các lĩnh vực nào, hiệu quả ra sao?

Tại Mỹ, khoảng năm năm trở lại đây, nhẩm tính, tôi đã sử dụng telephone và Internet trên 40 – 50% cho việc mua sắm (sách, CD, DVD, vé máy bay, máy tính cá nhân, vật dụng cá nhân và dụng cụ nhà bếp…) cho tôi và gia đình và 25 – 30% cho việc giao dịch với ngân hàng, bảo hiểm và chứng khoán. Tôi thuộc loại khá bảo thủ trong loại dịch vụ gián tiếp này. Tôi biết có những người theo sát với đời sống high-tech họ có tỷ lệ sử dụng cao hơn tôi nhiều, nhất là thế hệ trẻ hiện nay.

Theo tôi được biết thì tại Hàn Quốc, Nhật Bản và các nước Bắc Âu, người tiêu dùng có tỷ lệ sử dụng khá cao và có thể cao hơn tại Mỹ… Hẳn nhiên là dịch vụ tiện ích này có hiệu quả cho nên tỷ lệ người sử dụng càng ngày càng tăng… Bây giờ có lẽ ngay cả các nhà kinh tế trường phái bảo thủ cũng đã phải bắt đầu công nhận đây là một kênh phân phối dịch vụ mới khá hấp dẫn và hứa hẹn hấp dẫn hơn trong tương lai.

Trong khi Việt Nam chưa sử dụng chữ ký điện tử, theo ông, nền kinh tế chúng ta sẽ chịu thiệt hại nào, và người tiêu dùng trong nước chỉ nên giới hạn phạm vi sử dụng phone banking, Internet banking trong các lĩnh vực nào?

Theo tôi biết, đa số các nền kinh tế có sức và điều kiện giao dịch ngoại thương đều đã sử dụng chữ ký điện tử. Ngoại thương càng mạnh và lớn thì nhu cầu này càng nhiều và thiết yếu phải có – cũng là một yếu tố dịch vụ tiện ích trong cạnh tranh.

Ngay bây giờ và cho đến khi chữ ký điện tử được đưa vào đời sống kinh tế một cách rộng rãi, tôi cho rằng các doanh nghiệp Việt Nam sẽ phải chịu thiệt thòi và thiệt hại trong lĩnh vực ngoại thương – nhất là việc thanh toán. Về việc giới hạn phạm vi và lĩnh vực sử dụng phone và Internet banking, tôi mạnh dạn nghĩ rằng không nên đặt ra nhiều giới hạn làm gì.

Ứng dụng càng nhiều, càng rộng càng tốt vì qua đó cũng là một cách cho người dân bình thường tiếp cận, học hỏi những điều mới của thế giới và biết đâu cũng là cơ hội giúp người ta có những ý thức đúng và trật tự mới trong giao dịch thương mại của một xã hội dân sự mà Việt Nam cần tiến đến.

Chứng khoán sụt giảm vì ngân hàng thu nợ?

Giải chấp cầm cố và repo có liên quan gì đến sự sụt giảm của thị trường chứng khoán lúc này?…

Trong trường hợp thị trường chứng khoán đang hoạt động tốt, sẽ không vấn đề gì xảy ra nếu đến kỳ, ngân hàng thu nợ. Nhưng trong lúc thị trường chứng khoán diễn biến xấu, việc ngân hàng thu nợ sẽ lập tức tác động xấu đến thị trường – Ảnh: Mạnh Thắng.

Giải chấp cầm cố và repo có liên quan gì đến sự sụt giảm của thị trường chứng khoán thời gian qua?

>>Ngân hàng sẽ ngừng giải chấp, nếu… / Ngân hàng ngừng giải chấp, cổ phiếu nào lợi nhất? / Siết biên độ và các bước tiếp theo

Trước diễn biến xấu của thị trường chứng khoán, ngày 25/3/2008, Văn phòng Chính phủ có công văn số 1909/VPCP-KTTH gửi các bộ ngành, thực hiện 6 biện pháp của Chính phủ đưa ra.

Một trong 6 biện pháp có liên quan đến thị trường chứng khoán là: “Thủ tướng giao Ngân hàng Nhà nước chỉ đạo các ngân hàng thương mại Nhà nước và vận động các ngân hàng thương mại cổ phần quyết định chưa giải chấp các hợp đồng cầm cố, repo chứng khoán; cho vay tái chiết khấu với lãi suất 9% khi ngân hàng thương mại thiếu thanh khoản tạm thời mà không thể đi vay ở các kênh khác với mức lãi suất 9%”.

Vì sao phải tạm ngừng giải chấp?

Tiếp đó, Ngân hàng Nhà nước đã có văn bản số 2875/NHNN-VP gửi các ngân hàng thương mại Nhà nước và VNBA, để thông báo ý kiến của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước, nhằm triển khai chỉ đạo của Chính phủ.

Vậy, giải chấp cầm cố và repo có liên quan gì đến sự sụt giảm của thị trường chứng khoán thời gian qua?

Ông Nguyễn Tiến H., Trưởng phòng Công ty Chứng khoán Quốc tế Hoàng Gia nói: “Tôi cho rằng, thị trường chứng khoán sụt giảm liên tục và bất thường trong thời gian qua, nguyên nhân tâm lý chỉ một phần. Phần lớn do áp lực thu hồi nợ từ các ngân hàng đến các nhà đầu tư và công ty chứng khoán đối với cầm cố, repo chứng khoán”.

Theo đó, trong điều khoản của hợp đồng cầm cố hay repo giữa các bên đều có những thỏa thuận rõ ràng. Chẳng hạn, so với thị giá, khi cổ phiếu giảm dưới 15% (hoặc một tỷ lệ thỏa thuận bất kỳ), khách hàng phải tăng tài sản đảm bảo; giảm còn 60 – 70% phải trả nợ hoặc giảm sâu hơn trong khi khách hàng không thể trả nợ gốc và lãi thì ngân hàng sẽ bán cổ phiếu (nếu cầm cố tại ngân hàng) hoặc ép công ty chứng khoán bán cổ phiếu (nếu repo cổ phiếu tại công ty chứng khoán – repo chỉ áp dụng đối với cổ phiếu OTC) của nhà đầu tư để thu hồi vốn.

Theo ông H., diễn biến sụt giảm của thị trường chứng khoán gần đây chính là do hiện tượng “xả hàng” từ nguồn trên để trả nợ cho ngân hàng, chứ không hẳn do công ty chứng khoán bán cổ phiếu tự doanh như nhiều người nghĩ.

Xin đưa một ví dụ làm dẫn chứng. Nhà đầu tư Nguyễn Minh Huy (phường Thanh xuân Bắc – Thanh xuân – Hà Nội) phân trần: “Tôi vừa nghe nhân viên công ty chứng khoán nói là “anh ơi, đến nộp tiền đi, cổ phiếu của anh giảm giá quá rồi” nhưng sáng hôm sau đến công ty chứng khoán thì cổ phiếu của tôi đã bị bán sạch!”.

Trong lúc thị trường như hiện nay, có lẽ các công ty chứng khoán và ngân hàng thật khó làm khác, và họ buộc phải hành động theo cách để nguồn vốn không bị tổn thương.

Giật mình vì chuyện cho vay chứng khoán!

Bà Nguyễn Thị Kim Xuyến, Phó tổng giám đốc Ngân hàng Đông Á cho rằng: “Nếu các ngân hàng cứ dứt khoát giải chấp cầm cố và repo, sẽ ảnh hưởng xấu đến thị trường. Bởi vì lúc đó nguồn cung tăng lên, thị trường sẽ bị tác động tâm lý và nảy sinh hiện tượng bán tháo”.

Theo bà Xuyến, nếu những ngân hàng chưa vượt ngưỡng hạn mức cho vay chứng khoán (3%/vốn điều lệ) trong khi giá cổ phiếu mà ngân hàng đó nắm giữ chưa thực sự xuống dưới mức mà mình đã nhận cầm cố hay repo thì nên cho khách hàng vay lại và chưa nên thúc ép khách hàng trả nợ. Mặt khác, đối với những ngân hàng gặp khó khăn thực sự về nguồn vốn, Ngân hàng Nhà nước có thể hỗ trợ họ thông qua các kênh liên ngân hàng hay nghiệp vụ thị trường mở.

Giả định rằng, tình hình sẽ diễn biến thuận lợi: các ngân hàng thương mại tạm ngưng giải chấp cầm cố và repo, Ngân hàng Nhà nước sẵn sàng hỗ trợ “cho vay tái chiết khấu với lãi suất 9% khi ngân hàng thương mại thiếu thanh khoản tạm thời mà không thể đi vay ở các kênh khác với mức lãi suất 9%” như chỉ đạo của Chính phủ, thì cũng chưa phải đã hết chuyện, mà xuất hiện một vấn đề khác liên quan đến cho vay chứng khoán từ một sự kiện ầm ĩ: Chỉ thị 03.

Tại thời điểm Chỉ thị 03 chưa bị thay thế bằng Quyết định 03, Ngân hàng Nhà nước yêu cầu mỗi ngân hàng thương mại, định chế tài chính đến 31/12/2007 phải đưa dư nợ cho vay kinh doanh chứng khoán về con số 3%/tổng dư nợ.

Không ít ngân hàng thương mại đã sử dụng xảo thuật để làm đẹp con số này. Chẳng hạn, đẩy mạnh cho vay khác để làm giãn nở tổng dư nợ nhằm hợp thức hóa số tiền vượt quá 3% đã trót giải ngân. Hay như lập các đầu tư trên giấy nhưng tiền vay thì chảy vào chứng khoán…

Có lẽ, nếu không xuất hiện bối cảnh nền kinh tế đang lâm vào lạm phát và Ngân hàng Nhà nước phải thực thi chính sách thắt chặt tiền tệ, khiến nguồn vốn kinh doanh của ngân hàng bị eo hẹp; chỉ số chứng khoán đang chui xuống… “gầm sàn” (chứ không phải xuống sàn) và nếu người người, nhà nhà vẫn trong ảo giác chơi chứng khoán để kiếm nhà hay ôtô… thì cả bên cho vay và bên vay sẽ thật khó hình dung quang cảnh chới với của thị trường chứng khoán khi ngân hàng đòi giải chấp như bây giờ.

Vì thế, khi ngân hàng thương mại đòi rút vốn, hậu quả đối với thị trường chứng khoán sẽ rất khó lường. Bởi theo lý thuyết số nhân tiền tệ “tiền đẻ ra tiền”, lượng tiền M1 từ các ngân hàng cung ứng cho thị trường chứng khoán, qua vòng quay, chúng sẽ đẻ ra một khối lượng tiền (M2) lớn khủng khiếp, có thể gấp 5 – 6 lần M1. Ước tính, con số này hiện tới hàng chục nghìn tỷ đồng.

Trong trường hợp thị trường chứng khoán đang hoạt động tốt, sẽ không vấn đề gì xảy ra nếu đến kỳ, ngân hàng thu nợ. Nhưng trong lúc thị trường chứng khoán diễn biến xấu, việc ngân hàng thu nợ sẽ lập tức tác động xấu đến thị trường. Ông Hoàng nói: “Nếu ngân hàng không ngừng giải chấp cầm cố, repo sẽ dẫn đến hiệu ứng domino: cứ bán ra, giá càng giảm; giá càng giảm, lại càng bán ra”.

Từ thực tế trên, với các ngân hàng quy mô vốn lớn, hạn mức cho vay chứng khoán chưa sử dụng hết, quản trị tín dụng tốt thì còn có thể tự bù đắp. Nhưng đối với một số ngân hàng đang gặp khó khăn về thanh khoản, trước đó lại trót “mông má” con số để “hài lòng” Chỉ thị 03 thì bây giờ mới là lúc nếm quả đắng.

Với các ngân hàng thương mại quốc doanh thì sao? Theo Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Nguyễn Văn Giàu, thị phần của các ngân hàng quốc doanh chiếm tới 57% trên thị trường tiền tệ. Mặc dù các ngân hàng này chỉ mới sử dụng hạn mức cho vay chứng khoán từ 1 – 2%/tổng dư nợ nhưng vì tổng dư nợ của các ngân hàng này quá lớn nên số tiền M1 cung ứng cho thị trường chứng khoán cũng rất lớn.

Đến đây, liệu có thể đặt một câu hỏi: nếu ngân hàng cứ cho vay chứng khoán theo sự phấn khích của các nhà đầu tư như thời điểm quý 2/2006, không hiểu câu chuyện giải chấp bây giờ sẽ đi đến đâu?

Và nếu giả định Ngân hàng Nhà nước thực hiện khống chế tỷ lệ cho vay chứng khoán thông qua việc bóc tách quy mô vốn, tình hình bây giờ đã có thể tốt hơn cho các ngân hàng quốc doanh?