Tuần “lịch sử” của vàng, dầu và USD

Giới đầu tư vàng, dầu và USD có lẽ sẽ khó mà quên được tuần qua, vì chưa bao giờ lại có nhiều kỷ lục mới được lập như vậy…

Thay bảng giá bên ngoài trạm xăng tại một tỉnh phía nam Trung Quốc. Người dân nước này cũng vừa đối mặt với một đợt tăng giá nhiên liệu – Ảnh: Reuters.

Giới đầu tư vàng, dầu và USD có lẽ sẽ khó mà quên được tuần qua, vì chưa bao giờ lại có nhiều kỷ lục mới được lập như vậy.

>>Vàng “thủng trần”, USD “thủng đáy”

Những diễn biến khó tin liên tục xuất hiện trên thị trường ba mặt hàng này do tác động đặc biệt mạnh của tình hình kinh tế Mỹ. Khả năng Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (FED) sắp cắt giảm lãi suất USD thêm 0,5% từ mức 3% hiện nay khiến USD rơi gần như tự do trước Euro, đẩy giá vàng và dầu thô tăng như bão cấp 12.

Tình hình có lợi cho giá vàng

Sau khi ở thế giằng co trong khoảng 900 – 910 USD/oz trong suốt khoảng 3 tuần đầu tiên của tháng 2, giá vàng thế giới từ ngày 20/2 trở lại đây liên tục đột phá và rất có thể sẽ đạt tới ngưỡng 1.000 USD/oz trong một vài ngày tới và còn có thể lên đến 1.100 USD/oz vào quý 3 năm nay. Trong cơn “cuồng phong” này, có lúc giá vàng tạm nghỉ nhưng ngay sau đó lại tăng tốc không mệt mỏi.

Thị trường vàng thời gian qua chịu tác động của nhiều yếu tố. Có hai yếu tố chính kéo giá vàng đi xuống.

Thứ nhất, thông tin IMF chuẩn bị bán vàng ra để bù đắp thâm hụt ngân sách, làm cho nguồn cung của thị trường tăng lên. Và thứ hai, nhu cầu vàng của thế giới cho trang sức suy giảm do giá vàng quá cao, đặc biệt là tại Ấn Độ – nước tiêu thụ vàng lớn nhất thế giới, cộng với tăng trưởng kinh tế thế giới có khả năng chậm lại.

Đây là hai nhân tố khiến giá vàng ít bứt phá, thậm chí còn giảm, trong thời gian trước và sau Tết Nguyên Đán vừa qua.

Song bên cạnh đó, cũng có ba nhân tố chủ đạo trong việc đẩy giá vàng lên.

Thứ nhất, lạm phát leo thang tại nhiều quốc gia trên thế giới, với “trợ thủ đắc lực” là giá dầu cao ngất ngưởng, thúc đẩy giới đầu tư mua vàng vào để lưu trữ giá trị.

Thứ hai, đồng USD liên tục mất giá trước Euro do tác động từ tình hình xấu của kinh tế Mỹ, thúc đẩy FED tiếp tục cắt giảm lãi suất USD để vực dậy tăng trưởng.

Và thứ ba, sản lượng vàng của thế giới đang trên đà giảm sút, nhất là tại Nam Phi – nước sản xuất vàng lớn thứ ba thế giới, do tác động của tình trạng thiếu điện.

Tình hình thị trường hiện nay cho thấy, những thông tin bất lợi cho giá vàng đang trở nên lép vế trước những thông tin có lợi. Tình hình kinh tế Mỹ và khả năng FED cắt giảm lãi suất hiện mới là những nhân tố tác động mạnh nhất đến giá vàng. Những bản báo cáo mang đến “tin dữ” về kinh tế Mỹ, khiến động thái hạ lãi suất bạc xanh đến gần thêm, đang “làm mưa làm gió” trên thị trường.

Kỷ lục… và kỷ lục

Đầu tuần, giá vàng trong nước bắt đầu “khởi động” ở ngưỡng 1.800.000 đồng/chỉ thiết lập dịp cuối tuần và liên tục bứt phát rồi lập kỷ lục đóng cửa 1.826.000 đồng/chỉ vào cuối giờ chiều, trong khi giá vàng thế giới chỉ lên xuống nhẹ quanh mức 950 USD/oz.

Cũng trong ngày đầu tuần, Bộ Công Thương ra quyết định điều chỉnh tăng giá xăng dầu. Quyết định này được đánh giá là chẳng khác gì “đổ thêm dầu vào lửa” lạm phát và được dự báo là sẽ lập ra một mặt bằng giá mới cao hơn. Điều này cũng tác động khá mạnh đến tâm lý của giới đầu cơ vàng trong nước, khiến họ đẩy mạnh mua vào, bất chấp mức giá cao.

Ngày hôm sau, tức thứ Ba (26/2), giá vàng trong nước lại đột ngột sụt giảm mạnh và thậm chí có lúc tụt xuống dưới ngưỡng 1.800.000 đồng/chỉ do vàng thế giới trước đó mất giá nặng, còn xấp xỉ 940 USD/oz trước thông tin Mỹ ủng hộ việc Quỹ Tiền tệ Thế giới (IMF) bán ra khoảng 500 tấn vàng.

Lúc này, nhiều nhà phân tích cho rằng, giá vàng trong tuần sẽ lập một mức đáy nào đó rồi mới bật trở lại. Tuy nhiên, ngay trong ngày sau đó, giá vàng lại khiến không ít nhà dự báo “mất mặt” khi bất ngờ vọt lên, thiết lập mức kỷ lục mới.

Cuối ngày thứ Tư (27/2), giá vàng Rồng Thăng Long của Bảo Tín Minh Châu đã lên tới mức 1.874.000 đồng/chỉ, cao chưa từng có trong lịch sử. Giá vàng kỳ hạn tại thị trường Mỹ trong phiên giao dịch kết thúc vào rạng sáng cùng ngày tiến sát kỷ lục cũ trước đó là 958 USD/oz đạt được hôm 21/2.

Trước đó, ngày 26/2, cơ quan chức năng Mỹ công bố thông tin xấu về niềm tin người tiêu dùng và giá nhà tại nước này khiến đồng USD phá vỡ đáy 1 Euro bằng 1,4967 USD hồi tháng 11 năm ngoái và lập một đáy mới là 1 Euro bằng 1,5047 USD. Giá dầu đóng cửa ở mức kỷ lục mọi thời đại là 100,88 USD/thùng.

Rồi đến ngày thứ Năm (28/2), giá vàng trong nước “thủ thế” và thậm chí SJC còn điều chỉnh giá vàng theo hướng giảm nhẹ, trong khi giá vàng thế giới trước đó (27/2)có lúc chạm kỷ lục mới 967,7 USD/oz. Đồng USD trong ngày 27/2 lại phá vỡ đáy cũ, thiết lập một đáy mới so với Euro là 1 Euro tương đương 1,5144 USD. Giá dầu cũng xác lập một kỷ lục mới là 102,8 USD/thùng.

Những kỷ lục này là kết quả của việc Chủ tịch FED trong phiên điều trần ngày 28/2 trước Quốc hội Mỹ đã bày tỏ thái độ sẵn sàng cắt giảm lãi suất USD để cứu tăng trưởng kinh tế Mỹ.

Đến ngày thứ thứ Sáu (29/2), thị trường vàng trong nước lại “rực lửa” khi vàng Bảo Tín Minh Châu chính thức “bay” qua ngưỡng xà 1.900.000 đồng/chỉ, thiết lập kỷ lục mới 1.910.000 đồng/chỉ. Giá vàng thế giới chiều ngày thứ 6 ngất ngưởng trên mức 975 USD/oz, vượt quá mức đỉnh 970 USD/oz của phiên ngày thứ Năm (28/2). Mức đáy 1,5229 USD bằng 1 Euro vừa thiết lập hôm 28/2 cũng đã bị phá với khi USD tọt xuống ngưỡng 1 USD đổi được 1,5239 Euro. Giá dầu thô cũng vọt lên mức 103,05 USD/thùng.

Thị trường một lần nữa được “tiếp lửa” bởi những số liệu thống kê đáng buồn về kinh tế Mỹ. Đó là mức tăng GDP 0,6% trong quý 4 năm ngoái, thấp hơn nhiều so với dự kiến và mức lạm phát 4,1% trong năm ngoái, cao nhất kể từ năm 1990.

Như vậy, chỉ trong tuần này, giá vàng trong nước đã liên tục ba lần xác lập mức giá đóng cửa kỷ lục, giá vàng thế giới cũng ba lần chạm kỷ lục cao nhất mọi thời đại. Trong khi đó, giá dầu thô ba lần chạm ngưỡng đỉnh điểm lịch sử, còn USD đã bốn lần “vỡ đáy”.

Giao dịch sôi động

Tại thị trường trong nước, giao dịch vàng vẫn diễn biến rất sôi động. Thông tin trên bảng điện tử tổng kết giao dịch của Sàn Giao dịch Vàng Tp.HCM cho thấy, lượng giao dịch tăng trong những ngày giá cao và đạt mức đỉnh 200.900 lượng vào ngày 27/2. Còn lượng giao dịch thấp nhất trong tuần là 134.000 lượng vào ngày đầu tuần 25/2, khi giá còn ở mức thấp. Lượng giao dịch trong tuần này cao hơn hẳn so với tuần trước, khi giá vàng trong thế “giằng co”.

Thông tin từ các tiệm vàng trên thị trường tự do cũng cho thấy lượng người mua vào nhiều hơn bán ra vì thị trường vẫn đang kỳ vọng giá vàng sẽ còn tăng tiếp.

Sacombank áp lãi suất cao cho kỳ hạn tiền gửi ngắn

Từ ngày 29/2, Ngân hàng Sài Gòn Thương Tín (Sacombank) áp lãi suất huy động VND mới cho các kỳ hạn từ 1 tuần đến 3 tháng…

Gửi tiền tại Sacombank.

Từ ngày 29/2, Ngân hàng Sài Gòn Thương Tín (Sacombank) áp lãi suất huy động VND mới cho các kỳ hạn từ 1 tuần đến 3 tháng.

Đây là sản phẩm tiền gửi “Tiết kiệm bội thu”, được Sacombank triển khai từ ngày 29/2 – 25/3/2008.

Khách hàng cá nhân gửi tiết kiệm bằng tiền đồng với kỳ hạn từ 1-3 tuần và từ 1-3 tháng hay tiền đô la Mỹ kỳ hạn từ 1- 6 tháng với điều kiện lãnh lãi cuối kỳ và không được rút tiền trước hạn sẽ được nhận các mức lãi suất cạnh tranh trên thị trường.

Cụ thể, với các khoản tiền gửi từ 100 triệu đồng trở lên, kỳ hạn 1 tuần có lãi suất là 0,95%/tháng, 2 tuần là 0,96%, 3 tuần 0,97%, 1 tháng 0,98%, 2 tháng 0,99% và 3 tháng là 1%.

Đối với các khoản tiền gửi bằng USD, dưới 5.000 USD có lãi suất cao nhất là 5,7%/năm ở kỳ hạn 6 tháng; trường hợp từ 50.000 USD trở lên lãi suất cao nhất ở kỳ hạn 6 tháng là 5,9%.

Theo Sacombank, sản phẩm này không chỉ hỗ trợ bù đắp phần chi phí gia tăng mà người dân đang gánh chịu, mà còn góp phần điều tiết lưu thông tiền tệ giữa nơi cần vốn và nơi đang dư thừa vốn một cách hợp lý trong nền kinh tế.

Vàng “thủng trần”, USD “thủng đáy”

Giá vàng trong nước và thế giới lại vừa thiết lập thêm những kỷ lục mới. USD cũng lập thêm “đáy” mới so với Euro…

Thị trường vàng trong nước và thế giới đang diễn biến rất phức tạp và khó lường.

Giá vàng trong nước và thế giới lại vừa thiết lập thêm những kỷ lục mới. USD cũng lập thêm “đáy” mới so với Euro.

Thị trường vàng trong nước và thế giới đang diễn biến rất phức tạp và khó lường.

Chiều qua, thị trường vàng trong nước có vẻ như hạ nhiệt khi giá vàng SJC được điều chỉnh 2 lần theo chiều hướng giảm. Đầu giờ chiều, giá vàng niêm yết của công ty này giảm 3.000 đồng/chỉ so với buổi sáng, sau đó lại giảm tiếp 3.000 đồng/chỉ nữa. Kết thúc ngày giao dịch, giá vàng SJC đứng ở ngưỡng 1.837.000 đồng/chỉ (mua vào) và 1.847.000 đồng/chỉ (bán ra), giảm 11.000 đồng/chỉ và 13.000 đồng/chỉ so với giá chốt của phiên trước.

Vàng Bảo Tín Minh Châu cũng “án binh bất động” ở mức 1.840.000 đồng/chỉ (mua vào) và 1.860.000 đồng/chỉ (bán ra) như niêm yết ở đầu giờ sáng.

Giá vàng thế giới chiều qua theo giờ Việt Nam cũng chỉ luẩn quẩn quanh ngưỡng 960 USD/oz.

Những tưởng giá vàng tạm thời “nghỉ chân” ở ngưỡng này, nào ngờ, “lửa” giá vàng sáng nay lại bùng lên dữ dội, “thiêu rụi” kỷ lục cũ lục 1.874.000 đồng/chỉ chiều ngày 27/2, thiết lập một kỷ lục mới 1.889.000 đồng/chỉ.

Vàng SJC hiện được niêm yết ở mức 1.867.000 đồng/chỉ (mua vào) và 1.877.000 đồng/chỉ (bán ra), tăng 30.000 đồng/chỉ so với mức giá chốt chiều hôm qua. Vàng Bảo Tín Minh Châu cũng tăng không kém phần “dữ dội”, lên mức 1.870.000 đồng/chỉ (mua vào) và 1.889.000 đồng/chỉ (bán ra), tăng 30.000 đồng/chỉ và 29.000 đồng/chỉ so với giá chốt chiều qua.

Chốt phiên giao dịch ngày hôm qua tức rạng sáng nay theo giờ Việt Nam, giá vàng giao kỳ hạn tại Sở Giao dịch Hàng hóa New York (NYMEX) dừng ở con số 967,5 USD/oz, tăng 6,5 USD/oz (0,7%), một mức giá đóng cửa cao chưa từng có trong lịch sử. Trước đó, giá vàng thậm chí còn leo lên tới 970 USD/oz, mức giá kỷ lục mọi thời đại.

Giá vàng giao ngay tại thị trường Mỹ cũng chốt lại ngày giao dịch với mức tăng 10,6 USD/oz (1,11%), đạt 970,3 USD/oz, cao nhất từ trước đến nay. Đỉnh điểm của giá vàng giao ngay hôm qua là 973,2 USD/oz.

Sáng nay, giá vàng thế giới tiếp tục “leo thang”. Giá vàng kỳ hạn tính đến 10h sáng nay “ngất ngưởng” trên mức 971 USD/oz, còn giá vàng giao ngay chỉ giảm nhẹ 0.5 USD/oz.

Giá vàng, cả trong nước và thế giới, đang liên tục gây sốc mạnh khi không ngừng lập kỷ lục mọi thời đại chỉ trong vòng hai ngày trở lại đây. Trong khi đó, mức kỷ lục 873 USD/oz vào tháng 1/1980 được duy trì trong vòng 28 năm. Có vẻ như mốc 1.000 USD/oz đối với giá vàng thế giới và 2.000.000 đồng/chỉ đối với giá vàng trong nước sẽ chỉ xuất hiện trong ngày một ngày hai.

Đồng USD cũng gây sốc không kém khi một lần nữa, trong phiên giao dịch hôm qua, lại lập thêm một “đáy” mới so với Euro, rơi tọt xuống ngưỡng 1 Euro đổi được 1,5229 USD. Như vậy, trong 3 ngày liên tiếp, USD đã 3 lần “phá đáy” so với Euro.

Những con số tiếp tục ảm đạm về kinh tế Mỹ khiến động thái cắt giảm thêm lãi suất đồng USD của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (FED) mỗi lúc thêm gần. Báo cáo vừa công bố của Bộ Thương mại Mỹ cho thấy, GDP của nước này tăng trưởng 0,6% trong quý 4 năm ngoái, so với mức 4,9% trong quý 3 và thấp hơn nhiều so với mức dự báo của các nhà phân tích. Trong khi đó, giá tiêu dùng tại Mỹ trong năm ngoái tăng tới 4,1%, mạnh nhất kể từ năm 1990.

Trong bối cảnh này, FED sẽ phải ưu tiên hơn mục tiêu vực dậy tăng trưởng và hy sinh mục tiêu chống lạm phát. Một mức lãi suất USD thấp hơn đồng nghĩa với đồng USD sẽ còn thiết lập những “đáy” mới và sẽ tiếp tục đẩy giá vàng lên.

Giá dầu thô cũng đang ở mức “siêu bão” cũng đang là một nhân tố hỗ trợ tích cực cho giá vàng.

Đóng cửa phiên hôm qua tại thị trường Mỹ, giá dầu thô ngọt nhẹ giao kỳ hạn tăng 2,95 USD/thùng (3%), đạt 102,59 USD/thùng. Trước đó, có lúc giá dầu chạm đỉnh 103,05 USD/thùng, cao nhất mọi thời đại. Giá dầu thô Brent tại London cũng tăng 2,63 USD/thùng (2,7%), đóng cửa ở 100,9 USD/thùng. Sáng nay theo giờ Việt Nam, giá dầu thế giới tiếp tục đà tăng.

Giá dầu tăng mạnh cũng là kết quả của việc USD mất giá, thúc đẩy giới đầu tư mua dầu vào để đề phòng lạm phát. Điều này cho thấy, triển vọng tăng trưởng “lành ít, dữ nhiều” của kinh tế Mỹ đã không thể hạ nhiệt được giá dầu.

Kiềm chế lạm phát: Ngày nay nhớ chuyện trước đây

So sánh lạm phát và cách chữa trị ngày nay với những gì đã xảy ra khoảng 20 năm trước đây có thể gợi mở nhiều điều bổ ích…

Để kiềm chế lạm phát thì các biện pháp tiền tệ vẫn đóng vai trò cốt tử – Ảnh: Việt Tuấn.

Gần đây ở đâu người ta cũng nói đến giá cả gia tăng, lạm phát ngày càng nghiêm trọng, ảnh hưởng đáng kể tới sản xuất và cuộc sống của mọi người.

>>Lạm phát: Tiền tệ có là nguyên nhân duy nhất?

Đây không phải là lần đầu nước ta lâm vào lạm phát; nó đã xẩy ra vào đầu những năm 50 trong vùng tự do và vào những năm 80 thế kỷ trước. So sánh lạm phát và cách chữa trị ngày nay với những gì đã xy ra khoảng 20 năm trước đây có thể gợi mở nhiều điều bổ ích.

Về mức độ mà nói thì lạm phát hai thời kỳ khác nhau một trời một vực: năm 1986 chỉ số giá tiêu dùng tăng tới 874,7%, còn năm 2007 chỉ tăng 12,63%. Tuy mức độ có khác nhau song lạm phát ở thời nào và nước nào cũng đều bắt nguồn từ sự mất cân đối trên 4 mặt chủ yếu: sản xuất và tiêu dùng, hàng và tiền, thu và chi ngân sách, xuất và nhập khẩu.

Qua sự tranh luận sôi nổi, mò mẫm gian nan, biện pháp đa dạng, nạn lạm phát phi mã đã từng bước được kiềm chế nhờ lấy lại được sự cân bằng tương đối ở cả 4 mặt trên và tới năm 1993 đã giảm xuống còn một con số (8,5%).

Xử lý đồng bộ các cân đối vĩ mô của nền kinh tế

Thứ nhất, quan hệ giữa sản xuất và tiêu dùng. Một trong những đề tài gây tranh cãi gay gắt nhất lúc đó là có duy trì hay không chế độ phân phối theo định lượng, có thực thi chính sách một giá hay vẫn duy trì cơ chế hai giá? Cuối cùng đã xoá bỏ chế độ tem phiếu và chuyển sang cơ chế một giá đi đôi với việc bù giá vào lương cho những người làm công ăn lương.

Kết quả là đã tiết chế được tiêu dùng, rõ nhất là về lương thực, thực phẩm vì trước đó ai cũng tận dụng hết phần mình được phân phối để bán ra chợ đen phần không dùng hết lấy chênh lệch; sau khi xoá bỏ tem phiếu, chuyển sang mua bán theo giá thị trường thì người ta chỉ mua theo nhu cầu thực tế, còn người sản xuất phấn khởi sản xuất vì không còn bị thu mua như cướp nữa.

Đi đôi với những biện pháp tiết chế tiêu dùng là những quyết sách khuyến khích sản xuất như “khoán 10”, “khoán 100” trong nông nghiệp, “kế hoạch ba” trong công nghiệp, xoá bỏ tình trạng “ngăn sông cấm chợ” trong phân phối lưu thông. Nhờ những biện pháp trên, tình trạng mất cân đối giữa sản xuất và tiêu dùng đã được khắc phục về cơ bản.

Ngày nay, không còn tình trạng mất cân đối nghiêm trọng và toàn diện giữa sản xuất và tiêu dùng như hai thập kỷ trước đây, chỉ còn xẩy ra hiện tượng mất cân đối cục bộ về mặt hàng này hay mặt hàng khác và vào những thời điểm nhất định do dịch bệnh, thiên tai hay biến động giá cả trên thế giới…; các công cụ áp dụng trước đây như bỏ tem phiếu, chuyển sang một giá, khoán sản phẩm… không còn.

Tuy nhiên, vẫn cần tìm ra những biện pháp thích hợp để tiết chế tiêu dùng vì vừa qua tiêu dùng tăng quá nhanh và quá cao; năm 2007 tổng mức bán lẻ tăng tới 23,3%, tức là cao hơn tốc độ tăng trưởng GDP đến gần 3 lần và gần gấp đôi mức tăng của những năm trước, hai tháng đầu năm nay con số đó còn cao hơn nữa. Mặt khác cũng nên ra sức tháo gỡ mọi vướng mắc đối với sản xuất cho dù cơ chế ngày nay đã thông thoáng hơn trước nhiều.

Thứ hai, quan hệ giữa hàng và tiền. Đương nhiên, để kiềm chế lạm phát thì các biện pháp tiền tệ vẫn đóng vai trò cốt tử. Trong cuộc chiến chống lạm phát vào giữa những năm 80 thế kỷ trước, giá-lương-tiền trở thành tâm điểm nóng bỏng nhất; do xử lý không phù hợp đã đưa tới những sự đổ vỡ tai hại.

Cuối cùng, cũng đã hành động theo đúng quy luật bằng cách chấm dứt việc in tiền tung vào lưu thông quá nhiều, tăng lãi suất tiền gửi cao hơn chỉ số lạm phát để hút tiền về, gia tăng vòng quay của đồng tiền, nhờ vậy đã góp phần lấy lại được sự cân bằng tương đối giữa tiền với hàng.

Xem ra những biện pháp gần đây của Ngân hàng Nhà nước cũng đã đi theo hướng này. Chỉ có điều hoàn cảnh ngày nay đã khác trước. Nếu như những năm 80 thế kỷ trước chỉ có Ngân hàng Nhà nước, thậm chí chưa có ngân hàng thương mại theo đúng nghĩa của nó nên tương đối dễ điều hành. Ngày nay, đã xuất hiện mấy chục ngân hàng lớn nhỏ trong và ngoài quốc doanh, thậm chí cả ngân hàng nước ngoài; trong quá trình hoàn thiện thể chế thị trường và hội nhập kinh tế quốc tế chúng ta lại dành ưu tiên cao cho việc phát triển và hoàn thiện hệ thống ngân hàng, do đó các biện pháp tài chính-tiền tệ được sử dụng để kiểm soát lạm phát lại phải tính đến cả yêu cầu này.

Sự khác biệt thứ hai là hai thập kỷ trước nước ta còn bị bao vây cấm vận và ta cũng chưa hề nghĩ đến việc mở cửa lĩnh vực ngân hàng, dòng vốn bên ngoài hầu như chưa vào Việt Nam; ngày nay, dòng vốn ấy đang đổ vào qua cả 4 kênh: đầu tư trực tiếp, đầu tư gián tiếp, viện trợ phát triển và kiều hối, do đó những biện pháp tiền tệ cần được xử lý sao cho có thể tận dụng được những nguồn vốn này để phát triển và gia tăng dự trữ ngoại tệ.

Đó là chưa kể ta lại phải kiềm chế lạm phát trong bối cảnh nền kinh tế nước ta bị “đô la hoá” khá cao, đồng đô la Mỹ đang mất giá và lạm phát đang là hiện tượng toàn cầu; điều đó đòi hỏi việc sử dụng các công cụ tiền tệ để kiềm chế lạm phát phải làm sao hạn chế được tác động xấu của những hiện tượng này.

Sự khác biệt thứ ba là ngày nay nền kinh tế nước ta có nhiều thành phần, trong đó hàng nghìn doanh nghiệp vừa và nhỏ hoạt động với hiệu quả khá cao, đóng góp cho sự tăng trưởng, đồng thời đã xuất hiện thị trường chứng khoán và thị trường bất động sản; mọi động thái về tài chính- tiền tệ đều cần tính đến tác động tới các thành phần kinh tế, nhất là các doanh nghiệp vừa và nhỏ cũng như các thị trường khác.

Thứ ba, quan hệ giữa thu và chi ngân sách. Hai thập kỷ trước sự mất cân đối giữa thu và chi ngân sách nghiêm trọng hơn nhiều, năm 1986 thu chỉ bảo đảm 75% chi, trong đó phần chi bù lỗ cho sản xuất rất cao, do đó một trong những biện pháp chống lạm phát lúc bấy giờ là thu hẹp mạnh mẽ khoản bao cấp này, kể cả bao cấp qua giá.

Ngày nay, thâm hụt ngân sách không còn cao như trước, cũng không còn tình trạng bao cấp tràn lan, nhưng điều đó không có nghĩa là không còn dư địa để cải thiện cán cân ngân sách, nhất là thực hành tiết kiệm, cắt giảm hoặc giãn tiến độ các khoản đầu tư từ ngân sách Nhà nước nhưng chưa hoặc không đem lại hiệu quả, những công trình và những hoạt động mang tính phô trương, lãng phí.

Thứ tư, quan hệ giữa xuất khẩu và nhập khẩu. Tình trạng nhập siêu cũng là một tác nhân góp phần gây lạm phát. Năm 1986 xuất được có 800 triệu USD nhưng nhập tới 2,2 tỷ, do đó một trong những biện pháp kiềm chế lạm phát lúc đó là giảm nhập siêu bằng hai loại công cụ chủ yếu: xoá bỏ cơ chế hai tỷ giá, chuyển sang cơ chế một tỷ giá theo quy luật cung cầu trên thị trường đi đôi với việc xoá bỏ chế độ độc quyền ngoại thương của Bộ Ngoại thương, cho phép các bộ, ngành và các địa phương kinh doanh xuất-nhập khẩu, thả lỏng việc nhập hàng phi mậu dịch.

Kết quả là năm 1992 nước ta đã xuất siêu (đây là năm duy nhất trong hơn 20 năm qua nước ta xuất siêu!).

Tiếc rằng, trong những năm qua nước ta nhập siêu ngày càng lớn. Đành rằng trong hoàn cảnh hiện nay chúng ta buộc phải chấp nhận tình trạng này ở mức độ nhất định vì nhiều loại thiết bị, nguyên-nhiên-vật liệu chúng ta chưa sản xuất được hoặc sản xuất không đủ để bảo đảm sản xuất và tiêu dùng nhưng không thể xem nhẹ tình trạng nhập siêu. Để khắc phục phần nào tình trạng nhập siêu thì kinh nghiệm cho thấy cần có chính sách tỷ giá thoả đáng đi đôi với cơ chế chính sách khuyến khích sản xuất trong nước và tiết chế tiêu dùng.

Tóm lại, qua việc ôn cũ có thể rút tỉa ra không ít bài học bổ ích, trong đó có bài học xử lý đồng bộ cả 4 cân đối vĩ mô theo hướng trước hết đè vế tiêu dùng, phát hành tiền, chi ngân sách và nhập khẩu xuống là điều tương đối dễ làm hơn; đồng thời cũng phải có cơ chế chính sách đẩy mạnh sản xuất, nguồn hàng, thu ngân sách và xuất khẩu lên mặc dầu những việc này có phần khó hơn và lâu hơn.

Đương nhiên phải tính rằng, hoàn cảnh nước ta ngày nay đã khác hẳn 20 năm trước chí ít là trên ba mặt: ta đã chuyển từ cơ chế tập trung quan liêu-bao cấp sang thể chế thị trường, trong đó từ lâu đã thực hiện cơ chế 1 giá theo quy luật cung cầu (ngoại trừ một vài mặt hàng); đã phát triển kinh tế nhiều thành phần và đã hội nhập đầy đủ với kinh tế thế giới. Ngày nay, mối quan hệ kinh tế phức tạp hơn nhiều, những công cụ cũ không còn nữa vì vậy nẩy sinh một nghịch lý là kiềm chế lạm phát khó hơn trước nhiều.

Tạo sự đồng thuận về 6 giải pháp lớn

Để kiềm chế lạm phát thành công, bên cạnh những việc làm cụ thể rất cần sự đồng thuận trên một loạt mối quan hệ sau:

Một là, mối quan hệ giữa kiềm chế lạm phát và đẩy mạnh phát triển. Nước nào cũng vậy, khi phát sinh lạm phát đều phải tìm cách kiềm chế vì nếu không nó sẽ triệt tiêu thành quả phát triển, ảnh hưởng tới cuộc sống của mọi người dân.

Ở nước ta số đông dân chúng còn thu nhập thấp nên việc kiềm chế lạm phát không chỉ là nhiệm vụ kinh tế mà còn là nhiệm vụ chính trị-xã hội. Mặt khác yêu cầu phát triển nhanh vẫn là nhiệm vụ cơ bản và lâu dài để nâng cao đời sống nhân dân, vì vậy nghệ thuật điều hành là ở chỗ tìm ra mối tương quan thoả đáng giữa hai yêu cầu kiềm chế lạm phát và phát triển.

Cuối những năm 80, đầu những năm 90 thế kỷ trước nước ta đã thành công trong việc tạo ra tỷ lệ nghịch giữa tỷ lệ lạm phát và tăng trưởng: chỉ số lạm phát đi xuống đi đôi với chỉ số tăng trưởng đi lên: nếu năm 1986 tỷ lệ lạm phát là 587,2% và GDP chỉ tăng 2,8% thì dần dần tới năm 1993 tỷ lệ lạm phát chỉ còn 8,5% nhưng GDP đã tăng 8,1%. Vì sao làm được như vậy là điều đáng được nghiên cứu.

Hai là, mối quan hệ giữa tính cấp bách của yêu cầu kiềm chế lạm phát và cách xử lý bình tĩnh với cái nhìn thực tế, khách quan. Việc kiềm chế lạm phát không đơn giản chút nào, nhất là trong lúc trình độ phát triển và tiềm lực của nước ta có hạn, nhiều nhân tố khách quan nằm ngoài khả năng kiểm soát của nước ta nên không dễ gì đạt được mong muốn trong một sớm một chiều, các biện pháp chỉ có thể đem lại hiệu quả với độ trễ nhất định.

Để xử lý lạm phát vào 20 năm trước, chúng ta đã từng phải chật vật hàng chục năm trời (đương nhiên lúc đó kinh nghiệm, tiềm năng của chúng ta hạn hẹp hơn nhiều).

Liên quan đến khía cạnh thời điểm cần nhấn mạnh rằng, công tác dự báo và kịp thời đối phó khi lạm phát manh nha cũng như thời điểm đưa ra quyết định này hay quyết định khác có ý nghĩa rất quan trọng.

Ba là, mối quan hệ giữa lợi ích của từng nhóm dân cư với lợi ích của toàn dân, giữa lợi ích cục bộ và lợi ích toàn cục. Các biện pháp kiềm chế lạm phát khó có thể làm cho mọi người đều hài lòng mà có thể đụng chạm tới lợi ích của nhóm người này hay nhóm người khác, nhưng lợi ích của toàn xã hội, của toàn bộ nền kinh tế vẫn cần là ưu tiên hàng đầu.

Bốn là, mối quan hệ giữa những việc trước mắt và lâu dài. Trong khi thực thi những biện pháp trước mắt để kiềm chế lạm phát cần chú trọng tới cả những biện pháp mang tính lâu dài, ví dụ muốn giảm nhập siêu, nâng cao hiệu quả kinh tế thì lâu nay đã nói nhiều về việc phát triển công nghiệp phụ trợ nhưng xem ra cho tới nay vẫn chưa có chuyển biến mang tính đột phá.

Năm là, mối quan hệ giữa các biện pháp riêng lẻ với kế hoạch tổng thể mang tính đồng bộ. Phải chăng tính đồng bộ thể hiện ở việc xử lý đồng thời cả 4 cân đối nói trên với trọng tâm là những biện pháp triệt tiêu nguyên nhân chủ yếu gây ra lạm phát được thực hiện theo lộ trình thích hợp, có tính đến tác động liên hoàn nhiều chiều của các giải pháp?

Sáu là, mối quan hệ giữa các cơ quan nhà nước và công chúng, kể cả các doanh nghiệp, hiệp hội ngành nghề và các cơ quan truyền thông. Lạm phát là hiện tượng xã hội liên quan tới mọi tầng lớp nhân dân, mọi ngành, do đó cần tranh thủ sự đồng thuận tương đối của dư luận xã hội, thường xuyên tổ chức các cuộc đối thoại giữa các cơ quan hữu quan và công chúng để chí ít có sự thông hiểu chung; ngược lại các doanh nghiệp, các hiệp hội ngành nghề, các cơ quan truyền thông cũng cần lấy lợi ích toàn cục làm trọng, tránh gây hoang mang trong dư luận, tạo sức ép đối với Nhà nước vì lợi ích riêng.

Coi chừng mắc tội “cho vay nặng lãi”

Trong đợt biến động lãi suất hiện nay, ít ai để ý đến một quy định của Bộ luật Dân sự…

Trước tiên, xin nhắc lại ý nghĩa của một số loại lãi suất thường nghe nhắc đến trên mặt báo trong thời gian gần đây.

Ngày 30/1/2008, Ngân hàng Nhà nước ra quyết định điều chỉnh lãi suất cơ bản bằng tiền đồng kể từ 1/2/2008 là 8,75%/năm (trước đó là 8,25%). Cùng ngày, hai loại lãi suất khác cũng được quyết định nâng lên: lãi suất tái cấp vốn là 7,5%/năm (trước đó là 6,5%) và lãi suất chiết khấu là 6,0%/năm (trước đó chỉ là 4,5%).

Lãi suất cơ bản là lãi suất do Ngân hàng Nhà nước công bố làm cơ sở cho các tổ chức tín dụng ấn định lãi suất kinh doanh (thường đây là lãi suất cho vay tốt nhất của các ngân hàng đối với khách hàng, chẳng hạn với khách hàng bình thường, ngân hàng sẽ chào lãi suất cho vay bằng lãi suất cơ bản cộng 1 hay 2 điểm phần trăm). Lãi suất này mang tính định hướng cho thị trường cho thời gian tới.

Lãi suất tái cấp vốn là lãi suất do Ngân hàng Nhà nước áp dụng khi tái cấp vốn. Còn tái cấp vốn là hình thức cấp tín dụng có bảo đảm của Ngân hàng Nhà nước nhằm cung ứng vốn ngắn hạn và phương tiện thanh toán cho các ngân hàng. Đây cũng là con đường Ngân hàng Nhà nước sử dụng để bơm tiền vào hay rút tiền ra từ nền kinh tế.

Thông thường Ngân hàng Nhà nước tái cấp vốn theo những hình thức như: cho vay lại theo hồ sơ tín dụng mà ngân hàng đã ký cho khách hàng vay; chiết khấu, tái chiết khấu thương phiếu và các giấy tờ có giá khác (như trái phiếu kho bạc); cho vay có bảo đảm bằng cầm cố thương phiếu và các giấy tờ có giá khác.

Lãi suất chiết khấu (hay lãi suất tái chiết khấu) là một hình thức lãi suất tái cấp vốn được áp dụng khi Ngân hàng Nhà nước chiết khấu (hay tái chiết khấu) thương phiếu và các giấy tờ có giá khác cho các tổ chức tín dụng. (Ở đây xin nhắc lại, chiết khấu là việc tổ chức tín dụng mua giấy tờ có giá chưa đến hạn thanh toán của khách hàng; còn tái chiết khấu là việc tổ chức tín dụng mua lại giấy tờ có giá chưa đến hạn thanh toán và đã được chiết khấu theo phương thức mua hẳn). Việc công bố tăng giảm các loại lãi suất nói trên thể hiện mục tiêu nới lỏng hay thắt chặt của chính sách tiền tệ.

Một loại lãi suất khác được nhắc đến nhiều trong mấy tuần qua là lãi suất qua đêm, có lúc lên đến 20-30%/năm. Đây là một dạng lãi suất liên ngân hàng, do các ngân hàng vay ngắn hạn của nhau để bảo đảm tỷ lệ dự trữ bắt buộc hay bảo đảm tính thanh khoản. Nó chỉ có tác dụng ngắn hạn, nhất thời đối với một ngân hàng nhất định nào đó thôi.

Trong đợt biến động lãi suất hiện nay, ít ai để ý đến một quy định của Bộ luật Dân sự. Liên quan đến chuyện vay nợ để kinh doanh, điều 476 của bộ luật này quy định “Lãi suất vay do các bên thỏa thuận nhưng không được vượt quá 150% của lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố đối với loại cho vay tương ứng”.

Chà! Với lãi suất cơ bản mà Ngân hàng Nhà nước vừa công bố là 8,75%, ai mà cho vay 14%/năm là đã phạm tội “cho vay nặng lãi” vì 150% của 8,75% chỉ mới bằng hơn 13,1% một chút! Nếu một hợp đồng cho vay 17%/năm có trục trặc bị đưa ra tòa, chắc hẳn cơ quan pháp luật sẽ áp dụng quy định cũng trong điều 476 của Bộ luật Dân sự: “Trong trường hợp các bên có thỏa thuận về việc trả lãi, nhưng không xác định rõ lãi suất hoặc có tranh chấp về lãi suất thì áp dụng lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố tương ứng với thời hạn vay tại thời điểm trả nợ”.

Thật ra, điều luật này nhắm đến quan hệ vay mượn bên ngoài hệ thống ngân hàng nên trong thực tế, từ nhiều năm nay, nhiều khách hàng vay của ngân hàng với lãi suất vượt quá 150% lãi suất cơ bản ở từng thời kỳ mà không hề hấn gì, cũng chẳng ai hỏi han gì. Thêm một dẫn chứng nữa cho thấy sự không đồng bộ, thiếu khả năng thực thi của không ít luật Việt Nam.

“Đua” lãi suất: “Nếu không phanh lại, sẽ rất nguy hiểm”

Hỏi chuyện bà Dương Thu Hương, Tổng thư ký Hiệp hội Ngân hàng (VNBA) về những diễn biến gần đây của lãi suất ngân hàng…

“Đến thời điểm này, tình hình đã khác, đã “dịu êm” đi nhiều mặc dù vẫn còn một số vấn đề”.

Hỏi chuyện bà Dương Thu Hương, Tổng thư ký Hiệp hội Ngân hàng (VNBA) về những diễn biến gần đây của lãi suất ngân hàng.

>>Đồng loạt rút lãi suất VND về 12%

Bà có nhận xét gì về diễn biến lãi suất huy động của các ngân hàng trong thời gian gần đây?

Trong một, hai tuần gần đây mặt bằng lãi suất huy động của các ngân hàng đã có một diễn biến không bình thường.

Các ngân hàng đua nhau tăng lãi suất với mức tăng quá cao, lãi tiền gửi ngắn hạn lại cao hơn lãi tiền gửi dài hạn, các ngân hàng liên tục điều chỉnh lãi suất, thậm chí có ngân hàng thay đổi lãi suất đến ba lần trong một tuần.

Nguyên nhân nào dẫn đến tình trạng trên, thưa bà?

Đó là sự “tương ngộ” giữa các biện pháp kiềm chế lạm phát của Ngân hàng Nhà nước như tăng dự trữ bắt buộc, tăng lãi suất và hạn chế hoạt động của thị trường mở, và tình trạng thiếu vốn của các ngân hàng.

Trước Tết, các ngân hàng thương mại đã tăng cường cho vay đáng kể. Đến nay, trong khi các dòng tiền chưa kịp quay về, các ngân hàng thương mại lại “gặp phải” các biện pháp kiềm chế lạm phát của Ngân hàng Nhà nước. Vì vậy, tình trạng thiếu vốn xảy ra ở một số ngân hàng cũng là dễ hiểu.

Tất cả những giải pháp kiềm chế lạm phát của Ngân hàng Nhà nước là đúng đắn và cần thiết, nhưng cũng không may là tất cả các giải pháp đều nhằm rút tiền về trong khi các ngân hàng đang thiếu vốn. Điều này khiến các ngân hàng phải tìm cách hút tiền từ nền kinh tế và lãi suất là công cụ khả thi.

Theo bà, nếu cuộc đua lãi suất này không được “phanh” lại thì điều gì sẽ xảy ra?

Việc này phải phanh lại, nếu không sẽ rất nguy hiểm cho nền kinh tế và các ngân hàng. Vì khi mặt bằng lãi suất “gồ ghề”, các ngân hàng tìm cách hút khách của nhau, dòng tiền chu chuyển giữa các ngân hàng với nhau, người có tiền cũng làm giá với ngân hàng, lãi suất huy động đua nhau “leo thang”.

Kết quả là, chu chuyển tiền tệ bị rối loạn, các ngân hàng nói riêng và nền kinh tế nói chung đều bị ảnh hưởng.

Công điện 02 của Ngân hàng Nhà nước về “đảm bảo thanh toán của các ngân hàng thương mại và ổn định thị trường tiền tệ” có phải là một biện pháp hợp lý không, thưa bà?

Công điện này là cần thiết và kịp thời.

Công điện này có nội dung rất quan trọng là: “Các ngân hàng thương mại nhà nước tích cực tham gia nghiệp vụ thị trường mở và các kênh tái cấp vốn khác của Ngân hàng Nhà nước để đảm bảo khả năng thanh toán và hỗ trợ vốn cho các ngân hàng thương mại trên thị trường liên ngân hàng với lãi suất tối đa bằng lãi suất nghiệp vụ thị trường mở tại phiên giao dịch gần nhất cộng với 1,0%/năm.”

Nội dung này thể hiện độ mở nhưng có sự quản lý của Ngân hàng Nhà nước. Ngân hàng Nhà nước khống chế cả mức lãi suất liên ngân hàng nhưng lại mở các kênh thị trường mở và các kênh tái cấp vốn để hỗ trợ tính thanh khoản cho các ngân hàng.

Những ngân hàng có dự trữ giấy tờ có giá có thể đến thị trường mở tham gia đấu thầu hoặc mua bán trên thị trường mở. Những ngân hàng không áp dụng được cách thức này có thể vay trên thị trường liên ngân hàng nhưng với lãi suất đã được khống chế. Đây là điều kiện giúp các ngân hàng lãi suất, nếu chỉ đạo này thông suốt thì lãi suất trên thị trường sẽ giảm.

Hiệp hội Ngân hàng đã “làm gì” khi cuộc đua lãi suất diễn ra?

Hiệp hội đã không ngồi yên, nhưng cũng không có ý định làm chấn động thêm. Từ trước và sau Tết, chúng tôi đã có các cuộc làm việc trực tiếp với Thống đốc, với ban lãnh đạo Ngân hàng Nhà nước để trình các ý kiến.

Đó là, cho phép thị trường mở hoạt động bình thường, giãn thời gian mua tín phiếu Ngân hàng Nhà nước, giải quyết tính thanh khoản cho các ngân hàng thương mại nhỏ có thể tiép cận với vốn nguồn trên thị trường, giãn biên độ tỷ giá, nâng lãi suất tín phiếu.

Cuộc đua lãi suất đã dần đến hồi kết, theo bà, các ngân hàng thương mại đã có được bài học gì?

Có rất nhiều bài học để rút kinh nghiệm. Đến thời điểm này, tình hình đã khác, đã “dịu êm” đi nhiều mặc dù vẫn còn một số vấn đề. Nguồn vốn vào các ngân hàng khá nhiều, tiền trong dân đã tích cực “chảy” vào các ngân hàng, lãi suất trên thị trường liên ngân hàng đã giảm.

Tuy nhiên, nhìn nhận lại thời điểm cách đây một tuần trong cuộc đua lãi suất đó, vẫn có một số ngân hàng thương mại rất tĩnh tâm. Họ không “cuống” lên là bởi vì họ đã dự báo được tình hình, dự báo được tín hiệu lạm phát và khả năng dự phòng rủi ro và kiểm soát mức độ tăng trưởng tín dụng tốt. Đây là bài học về quản lý thanh khoản, cân đối tài sản, bài học về điều hành vốn trong ngân hàng.

Vàng “cán” ngưỡng 1,9 triệu đồng/chỉ

Thị trường vàng trong nước đang hoảng hốt trước đỉnh mới của giá vàng: 1.910.000 đồng/chỉ…

Thị trường vàng đang diễn biến sôi động.

Thị trường vàng trong nước đang hoảng hốt trước đỉnh mới của giá vàng: 1.910.000 đồng/chỉ.

Trong khi đó, “con ngựa” giá vàng thế giới vẫn đang “phi nước đại” và chưa có dấu hiệu dừng lại.

Tính đến 4h chiều nay, giá vàng trong nước đã tăng thêm 38.000 đồng/chỉ – 50.000 đồng/chỉ so với chiều qua. Vàng JSC theo thông tin công bố trên trang web của công ty này ở mức 1.875.000 đồng/chỉ (mua vào) và 1.885.000 đồng/chỉ (bán ra), lên 8.000 đồng/chỉ so với mức giá đầu ngày.

Vàng Bảo Tín Minh Châu khiến thị trường sửng sốt hơn với 1.890.000 đồng (mua vào) và 1.910.000 đồng/chỉ (bán ra), tăng 20.000 đồng/chỉ và 21.000 đồng so với mức giá buổi sáng.

Thị trường vàng đang diễn biến sôi động. Hoạt động mua vào vẫn tăng bất chấp mức giá cao do giới đầu cơ vẫn chưa thấy cơn sốt vàng có dấu hiệu dừng lại.

Giá vàng thế giới giao kỳ hạn hiện ở mức 975 USD/oz, cao nhất từ trước tới nay, còn giá vàng giao ngay đang ở ngưỡng 971 USD/oz.

Giới quan sát quốc tế nhận định, tình hình ảm đạm của kinh tế Mỹ hiện nay sẽ buộc Cục Dự trữ Liên bang nước này (FED) phải cắt giảm lãi suất đồng USD thêm 0,5% từ mức 3% hiện nay. Mức lãi suất thấp đồng nghĩa với USD mất giá sẽ càng có lợi cho giá vàng.

Do đó, mốc 1.000 USD/oz của giá vàng thế giới được dự báo sẽ sớm xuất hiện.

Sẽ thanh tra toàn bộ ngành thuế

Đó là thông tin được Tổng thanh tra Chính phủ đưa ra tại cuộc họp báo về công tác thanh tra, sáng 29/2…

Quang cảnh buổi họp báo sáng 29/2 của Thanh tra Chính phủ.

Đó là thông tin được Tổng thanh tra Chính phủ đưa ra tại cuộc họp báo về công tác thanh tra, sáng 29/2.

Theo Tổng thanh tra Chính phủ Trần Văn Truyền, trong tháng 2, Thanh tra Chính phủ đã ban hành kết luận thanh tra và báo cáo Thủ tướng 7 cuộc thanh tra, gồm: Cục Hải quan Hà Nội, Cục Hải quan Tp.HCM, dự án hồ chứa nước Cửa Đạt, việc quản lý sử dụng 10.000 ha đất tại Công ty Cao su Tân Biên; tình hình sản xuất, quản lý và sử dụng vắc xin phòng bệnh dại ở người; công tác thiết bị dạy học đổi mới chương trình giáo dục phổ thông của Bộ Giáo dục và Đào tạo từ 2002 – 2006 và việc quy hoạch sử dụng đất và triển khai thực hiện dự án khu đô thị, khu công nghiệp, cụm công nghiệp tại Tây Ninh.

Kết quả thanh tra đã phát hiện tổng giá trị sai phạm 257,6 tỷ đồng, 1.770 ha đất; đã kiến nghị thu hồi về cho ngân sách nhà nước 194 tỷ đồng và 280 ha đất, xuất toán 9,5 tỷ đồng.

Đồng thời, qua thanh tra, Thanh tra Chính phủ cũng đã kiến nghị với Chính phủ chỉ đạo các địa phương, bộ ngành sửa đổi bổ sung cơ chế, chính sách trong các lĩnh vực quản lý thuế xuất nhập khẩu, chấn chỉnh công tác tài chính, quản lý dự án nhằm nâng cao hiệu quả đầu tư, chấn chỉnh công tác quy hoạch đất đai….

Còn theo số liệu tổng hợp từ 46 tỉnh, thành phố và 15 bộ, ngành, các tổ chức thanh tra địa phương, bộ ngành đã tiến hành 413 cuộc thanh tra trên các lĩnh vự quản lý nhà nước, kết thúc 162 cuộc thanh tra, phát hiện sai phạm về kinh tế trị giá 17,044 tỷ đồng, kiến nghị thu hồi 10,649 tỷ đồng, chuyển cơ quan điều tra xử lý 3 vụ việc và 4 đối tượng.

Hiện Thanh tra Chính phủ đang hoàn chỉnh kết luận các cuộc thanh tra: Tổng cục Hải quan, dự án mua sắm trang thiết bị y tế, dự án Khu đô thị Nam Trung Yên (Hà Nội); quy hoạch sử dụng đất và việc triển khai thực hiện dự án khu đô thị, khu công nghiệp tại các tỉnh Nam Định, Long An, Tổng công ty Xây dựng Miền Trung.

Đặc biệt, hiện nay Thanh tra Chính phủ đã kết thúc khảo sát và chuẩn bị nội dung tập huấn chuyên đề để sắp tới sẽ tiến hành thanh tra trên điện rộng đối với toàn ngành thuế.

Tiền đang ở đâu?

Tiền đang ở đâu và chuyện gì đã thực sự diễn ra đằng sau cơn “sốt” lãi suất vừa rồi?…

Việc sử dụng ngoại tệ để chi thay ngân sách là một sai lầm?

Mười lăm giờ chiều thứ Ba, ngày 26/2/2008, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước có công điện khẩn gửi chủ tịch hội đồng quản trị, tổng giám đốc các ngân hàng thương mại về việc điều chỉnh lãi suất huy động vốn.

Theo đó lãi suất tiết kiệm của các ngân hàng phải đảm bảo dương so với lạm phát nhưng không được quá trần 12%/năm. Việc ấn định trần lãi suất huy động là nhằm chấm dứt tình trạng tiền chạy lòng vòng từ ngân hàng này qua ngân hàng khác, nơi có lãi suất tiền gửi cao hơn. Ngân hàng Nhà nước cũng yêu cầu các ngân hàng quốc doanh, nếu trúng thầu tiền đồng trên thị trường mở, thì khi cho các ngân hàng khác vay lại, chỉ được cộng thêm lãi suất tối đa là 1 điểm phần trăm/năm.

Tuy nhiên, ngay khi nhận được công điện, các ngân hàng lập tức lên kế hoạch huy động vốn mới bằng cách áp dụng triệt để các hình thức tiết kiệm dự thưởng, gửi tiền có tặng quà. Thậm chí có ngân hàng tặng quà cho khách hàng bằng vàng, bằng tiền và nhận ngay khi gửi tiền. Như thế trần lãi suất có nguy cơ trở nên vô hiệu hóa bởi thực tế lãi suất tiết kiệm vẫn cao hơn mức trần. Các ngân hàng nói họ đang rất cần vốn để đảm bảo dự trữ bắt buộc, để chuẩn bị mua tín phiếu bắt buộc và nếu điều chỉnh lãi suất thấp, vốn sẽ không chảy vào két ngân hàng nhiều như mong đợi.

Ngân hàng thiếu tiền, chuyện tưởng chừng vô lý ấy đang tồn tại. Vậy tiền đang ở đâu và chuyện gì đã thực sự diễn ra đằng sau cơn “sốt” lãi suất vừa rồi?

Đầu năm 2008 Bộ Tài chính đề nghị Ngân hàng Nhà nước đổi một số lượng lớn ngoại tệ ra tiền đồng để chi ngân sách. Ngân hàng Nhà nước chỉ đáp ứng được 10% số ngoại tệ đưa ra vì theo kế hoạch lượng tiền mà cơ quan này phải hút vào để kiềm chế lạm phát trong quí 1/2008 hoàn toàn không nhỏ. Trong bối cảnh đó Bộ Tài chính buộc phải rút tiền đồng gửi ở một số ngân hàng quốc doanh.

Việc rút ngay một lúc lượng tiền lớn đã khiến ít nhất một ngân hàng quốc doanh lớn trở tay không kịp. Ngân hàng này liền tất toán các khoản tài trợ liên ngân hàng dành cho các ngân hàng cổ phần, đồng thời “cầu cứu” Ngân hàng Nhà nước qua kênh thị trường mở (may mắn là ngân hàng này nắm giữ nhiều trái phiếu, đủ để giao dịch trên thị trường mở).

Bị rút các khoản vay bất ngờ, dù là ngắn hạn, nhiều ngân hàng cổ phần lâm vào tình trạng khó khăn. Cùng lúc đó Ngân hàng Nhà nước tăng cường độ hút tiền về, dự trữ bắt buộc được nâng lên và vốn huy động sau Tết lại giảm. Các ngân hàng bắt đầu vay mượn lẫn nhau, đẩy lãi suất lên.

Việc sử dụng ngoại tệ chi thay ngân sách lần này không phải là lần đầu, nhưng nó là giọt nước làm tràn ly. Theo các chuyên gia lâu năm trong giới tài chính, năm 2007 khi ngoại tệ từ nhiều nguồn dồn dập chảy vào Việt Nam, Ngân hàng Nhà nước và Bộ Tài chính đã dùng một khối lượng ngoại tệ đáng kể mua được để chi thay ngân sách (thực chất là chi cho những khoản mục mà đáng lẽ ngân sách phải chi, nhưng không thể chi vì bị thâm hụt) trong đó có việc sử dụng ngoại tệ để cấp vốn cho các ngân hàng quốc doanh.

Việc cấp vốn được thực hiện bằng tiền đồng in ra tương ứng, không phải bằng tiền ngân sách như những năm trước. (Nhờ việc cấp vốn này tình hình tài chính của các ngân hàng quốc doanh được cải thiện và nó giúp các ngân hàng tăng tiềm lực tài chính trước khi cổ phần hóa). Đây quả là điều nguy hiểm bởi dùng ngoại tệ cấp vốn cho ngân hàng quốc doanh đã thực sự tạo ra cung tiền lớn hơn nhiều.

Ai cũng biết ngân hàng là định chế tài chính tạo tiền và phương tiện thanh toán nhiều nhất so với các kênh khác. Hơn nữa việc cấp vốn ngoại tệ lại diễn ra ồ ạt, khối lượng lớn, tập trung vào một thời điểm không thuận lợi làm lạm phát tăng cao. Nếu vốn được cấp dàn đều cả năm, thậm chí nhiều năm, vào những thời điểm thích hợp, thì tác động của nó lên cung tiền sẽ không mãnh liệt như thời gian qua.

Rõ ràng việc sử dụng ngoại tệ để chi thay ngân sách là một sai lầm. Đó là chưa kể nguồn ngoại tệ đó, qua con đường đầu tư xây dựng cơ bản từ ngân sách, được giải ngân cho hàng loạt dự án, nhưng không phải tất cả 100% dự án đều hiệu quả. Ngân sách có tiền đồng, ngoại tệ lại chảy vào ngân hàng thương mại và ngân hàng dùng ngoại tệ đó cho vay nhập khẩu. Nghĩa là ngoại tệ lại ra khỏi đất nước.

Phải chăng đây là một trong những nguyên nhân, cho dù bị các định chế tài chính quốc tế như Ngân hàng Thế giới (WB), Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF), Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) gây sức ép, nhưng đến nay Ngân hàng Nhà nước vẫn chưa công khai dự trữ ngoại hối quốc gia? Người dân đóng thuế liệu có quyền được hỏi dự trữ ngoại hối bây giờ so với năm ngoái ở tình trạng như thế nào?

Như vậy từ ngân sách, qua ngân hàng, tiền đã được đưa ra lưu thông và vấn đề là bao nhiêu phần trăm lượng tiền đó thực sự đi vào sản xuất kinh doanh, làm nên tăng trưởng kinh tế? Tiền ra nhưng đã không quay trở lại ngân hàng đủ mức cần thiết vì có những cơ hội kinh doanh mà người ta có thể sử dụng tiền mặt hay phương tiện thanh toán khác như vàng, bất động sản.

Chính vì thế hút tiền về qua kênh thị trường mở, qua phát hành trái phiếu đã không đủ hiệu quả. Bây giờ để chống lạm phát, thì hút tiền về qua kênh ngân hàng là không đủ, mà cùng với đó là đòi hỏi phải kiểm soát việc chi ngân sách một cách căn cơ, thắt lưng buộc bụng hơn. Lạm phát sẽ chỉ bị đẩy lùi một khi các giải pháp tài chính – ngân hàng được phối hợp ăn ý.

VIB Bank cho vay 80% chi phí du học Úc

Ngân hàng Quốc tế (VIB Bank) sẽ cho khách hàng vay tối đa 80% học phí và sinh hoạt phí của cả khóa học tại Úc trong vòng 5 năm…

Lễ ký hợp tác giữa các bên tham gia dự án.

Ngân hàng Quốc tế (VIB Bank) sẽ cho khách hàng vay tối đa 80% học phí và sinh hoạt phí của cả khóa học tại Úc trong vòng 5 năm.

Đây là nội dung cam kết của VIB Bank trong khuôn khổ dự án “Hỗ trợ vì tương lai” được ký ngày 27/2 giữa VIB Bank với Công ty Giáo dục và Đào tạo quốc tế Đại Tây Dương (Atlantic) và Công ty Dịch vụ và Thương mại (TSC) – Phòng Thương mại và công nghiệp Việt Nam (VCCI).

Dự án này là chương trình hợp tác giữa VIB Bank, Atlantic, TSC và Tập đoàn Giáo dục Navitas với mục đích hỗ trợ học sinh Việt Nam tiếp cận các cơ hội du học Úc.

Cụ thể, VIB Bank sẽ cho khách hàng vay tối đa 80% học phí và sinh hoạt phí của cả khóa học trong vòng 5 năm, giảm lãi vay 0,02%/tháng so với lãi suất tối thiểu quy định cho các khách hàng thông thường và hoãn trả gốc vay trong 9 tháng đầu tiên.

Ngoài ưu đãi tín dụng từ VIB Bank, khách hàng cũng sẽ nhận được sự hỗ trợ của các đơn vị liên quan. Phía Atlantic sẽ cung cấp dịch vụ tư vấn và chương trình khuyến học với vé máy bay, máy tính xách tay, khóa học tiếng Anh miễn phí, hướng dẫn học sinh làm hồ sơ. Navitas hỗ trợ học sinh 10%-15% học phí. TSC hỗ trợ 20% -100% tổng lãi vay ngân hàng trong suốt quá trình học.

Đối tượng cho vay của chương trình là các cán bộ công nhân viên chức, doanh nghiệp, cá nhân có nhu cầu vay vốn cho con em đi du học ở Úc thông qua Tập đoàn Giáo dục quốc tế Navitas, đáp ứng các điều kiện: có đủ năng lực pháp luật và năng lực hành vi dân sự; có tài sản thế chấp để đảm bảo cho khoản vay và các điều kiện theo quy định cho vay du học quốc tế của VIB Bank.