“Bão” vàng, dầu tăng cấp

Ngày 28/12, giá vàng thế giới tiếp tục có một bước nhảy vọt ngoạn mục, giá dầu đạt mức cao nhất trong 1 tháng…

Chỉ trong tuần này, vàng giao kỳ hạn đã “đội” giá thêm 3,3%, còn năm nay, vàng đã tăng giá 32%, mức tăng cao nhất kể từ năm 1979.

Ngày 28/12, giá vàng thế giới tiếp tục có một bước nhảy vọt ngoạn mục, giá dầu đạt mức cao nhất trong 1 tháng, trong khi USD thêm một ngày “mất mặt” trước “người anh em” Euro.

Giá vàng giao tháng 2/2008 tại New York tăng thêm10,90 USD, tương đương 1,3%, lên mức 842,70 USD/oz. Như vậy, chỉ trong tuần này, vàng giao kỳ hạn đã “đội” giá thêm 3,3%, còn năm nay, vàng đã tăng giá 32%, mức tăng cao nhất kể từ năm 1979. Do đó, năm nay sẽ là năm thứ 7 liên tiếp giá vàng tăng, đánh dấu đợt tăng giá dài nhất từ năm 1979.

Giá vàng giao ngay theo bảng giá trực tuyến Kitco.com cũng kết thúc ngày giao dịch với mức tăng 11 USD/oz, tương đương 1,33%, dừng lại ở 839,50 USD/oz.

Tại thị trường trong nước, giá vàng cũng tăng mạnh. Giá vàng SJC tại Hà Nội và Tp.HCM sáng nay (29/12) niêm yết ở mức 1.610.000 đồng/chỉ (mua vào) và 1.620.000 đồng/chỉ (bán ra), tăng 16.000 – 18.000 đồng/chỉ so với sáng hôm qua.

Bộ Thương mại Mỹ vừa công bố báo cáo cho thấy doanh số nhà mới xây bán ra của nước này trong tháng 11 đã giảm xuống mức thấp nhất trong 12 năm qua. Ngay lập tức, đồng USD “bày tỏ phản ứng” bằng cách sụt xuống 1 Euro đổi được 1,4711 USD, so với mức 1 Euro ăn 1,4626 USD ngày 27/12. Trong tuần này, đồng USD mất giá 2,3% và năm nay, đồng USD đã mất giá 11%.

Năm nay, đồng USD liên tiếp chịu tác động xấu từ những thông tin không mấy sáng sủa về nền kinh tế Mỹ. Thêm vào đó, việc Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (FED) 3 lần cắt giảm lãi suất USD trong thời gian ngắn càng khiến tốc độ suy yếu của đồng tiền này thêm cao.

“Môi trường tiền tệ như hiện nay sẽ buộc các ngân hàng trung ương trên thế giới sẽ phải tiếp tục cắt giảm lãi suất và bơm tiền vào thị trường. Đây là nhân tố có tác động tích cực cho giá vàng”, nhà phân tích Chip Hanlon, Chủ tịch công ty Delta Global Advisors ở California, nhận định.

“Khó mà có thể tìm ra một lý do nào khiến giá vàng không tiếp tục tăng”, nhà phân tích Matt Zeman của công ty LaSalle Futures Group tại Chicago nhận xét.

Giá dầu thô thế giới ngày 28/12 lên mức cao nhất trong 1 tháng qua cũng là một lý do quan trọng khác đẩy giá vàng lên.

Tại New York, giá dầu thô ngọt nhẹ giao tháng 2/2008 có lúc chạm mức 97,92 USD/thùng, cao nhất kể từ ngày 26/11. Tuy nhiên, đến cuối ngày, giá dầu dừng chân ở mức 96 USD/thùng, giảm 62 cents, tương đương 0,6%, so với phiên giao dịch trước. Giá dầu cũng đang chuẩn bị khép lại năm tăng mạnh nhất trong vòng 8 năm qua.

Những nhân tố tác động mạnh nhất đến giá dầu trong ngày 28/12 tiếp tục là dự trữ nhiên liệu của Mỹ giảm mạnh ngoài dự kiến và tình hình bất ổn tại Pakistan sau vụ ám sát cựu Thủ tướng nước này, bà Benazir Bhutto. Nhiều nhà phân tích dự báo, giá dầu có thể đạt mốc 100 USD/thùng trong 2 phiên giao dịch tới.

(Theo Bloomberg)

Giá cổ phần Vietcombank: Một so sánh nhỏ…

Giá cổ phần Vietcombank “làm khó” giá cổ phiếu các ngân hàng khác. Thử xem nhận định này ở một so sánh nhỏ…

Liệu nhà đầu tư nước ngoài có “ngây thơ” khi mua cổ phiếu ACB giá lên tới 200.000 đồng hay chào mua giá 230.000 đồng?

Giá cổ phần Vietcombank “làm khó” giá cổ phiếu các ngân hàng khác. Thử xem nhận định này ở một so sánh nhỏ…

>>Toàn cảnh cổ phần hóa Vietcombank

Sau kết quả đấu giá cổ phần Ngân hàng Ngoại thương (Vietcombank), một số phân tích cho rằng giá đấu thành công bình quân cổ phần ngân hàng này đã và đang “làm khó” giá cổ phiếu các ngân hàng khác.

Trước hết có thể khẳng định ảnh hưởng đó có trên thực tế, ở khía cạnh tâm lý. Bởi nhiều nhà đầu tư vẫn cho rằng giá đấu thành công thấp nhất là 102.000 đồng và thành công bình quân là 107.860 đồng là mức thấp.

Nhưng ở một so sánh khác (chỉ mang tính tham khảo, không phủ nhận hoàn toàn sự “làm khó” đó) lại cho thấy những điểm đáng chú ý.

Đó là ứng xử của nhà đầu tư nước ngoài.

Trước hết, kết quả cuối cùng cho thấy nhà đầu tư nước ngoài đặt mua 40,7 triệu cổ phần Vietcombank và chỉ trúng 28,7 triệu cổ phần, trượt 12 triệu cổ phần, trong khi room vẫn còn 3%. Điều này có nghĩa họ đã đặt mua một lượng lớn với giá thấp và trượt.

Giá thấp và trượt là cố tình hoặc với họ mức giá khởi điểm 100.000 đồng/cổ phần vẫn là cao. Ở đây, có thể liên tưởng đến mức giá mà các đối tác nước ngoài đưa ra trong đàm phán với Vietcombank theo tin đồn trước thềm IPO là khoảng 50.000 đồng/cổ phần. Tất nhiên, đây chỉ là tin đồn, không xác minh mức cụ thể được vì liên quan đến các cam kết không công bố trong đàm phán.

Thứ hai, việc thừa room và trượt nói trên lại khiến nhiều người liên tưởng tới sự cố tính thừa room cổ phiếu STB của Ngân hàng Sài Gòn Thương Tín (Sacombank) trên sàn Tp.HCM mới đây. Lượng đặt mua ồ ạt của khối đầu tư nước ngoài trong sự cố này nói lên nhiều điều.

Cũng trong so sánh với cổ phiếu STB, từ ngày 25/12/2007, cổ đông chiến lược nước ngoài IFC của Sacombank đăng ký bán ra gần 9 triệu cổ phiếu (giảm 2% tỷ lệ sở hữu), thị trường lập tức có phản ứng. Đó là mức giá giảm mạnh nhất thời trên sàn, nhưng ngay sau đó giá STB lấy lại được cân bằng.

Ở diễn biến đáng chú ý, theo Sacombank, là ngay sau khi có thông tin bán ra nói trên, nhiều tổ chức tài chính quốc tế lập tức đề nghị được mua lại 2% đó. Diễn biến này cũng nói lên được nhiều điều.

Và trong so sánh với cổ phiếu ACB của Ngân hàng Á châu (ACB) trên sàn Hà Nội cũng cho thấy những điểm đáng lưu ý.

Trong kế hoạch phát hành gần 10 triệu cổ phiếu mới đây của ACB, nhiều tổ chức nước ngoài đã tham gia đặt mua. Trong các bản chào mua của khối này, mức giá cao nhất lên tới 230.000 đồng/cổ phiếu. ACB chọn mức giá 200.000 đồng và bán 30% lượng phát hành cho nhà đầu tư nước ngoài.

Liệu nhà đầu tư nước ngoài có “ngây thơ” khi đặt mua với giá lên tới 230.000 đồng và “được” mua với giá 200.000 đồng, trong khi ACB bán cho tổ chức trong nước chỉ với giá 172.142 đồng/cổ phiếu và giá ACB trên sàn thời điểm đó chỉ xoay quanh mức 165.000 đồng/cổ phiếu? Câu trả lời cũng nói lên được nhiều điều.

Ở những so sánh trên không đề cập đến tương quan giá cổ phần Vietcombank với giá cổ phiếu STB và ACB, mà là ứng xử của nhà đầu tư nước ngoài trong những trường hợp cụ thể.

Tất nhiên, đây chỉ là một so sánh mang tính chất tham khảo. Kết luận giá cổ phần Vietcombank có “làm khó” giá cổ phiếu các ngân hàng khác hay không còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác; trong đó, ngoài các chỉ số tài chính, triển vọng phát triển doanh nghiệp và còn có cả yếu tố tâm lý, vấn đề định giá, bối cảnh thị trường…

“Phản ứng dây chuyền” của vàng, dầu và USD

Sáng nay, giá vàng trong nước đã quay trở lại với mốc 1.600.000 đồng/chỉ do giá vàng và dầu thế giới cùng tăng mạnh…

Một nguyên nhân quan trọng khiến giá vàng tăng mạnh là giá dầu thô thế giới liên tiếp tăng trong những ngày qua, đẩy nguy cơ lạm phát lên cao.

Sáng nay, giá vàng trong nước đã quay trở lại với mốc 1.600.000 đồng/chỉ do giá vàng và dầu thế giới cùng tăng mạnh.

Trong khi đó, đồng USD đang chuẩn bị “hoàn thành” một tuần xuống giá liên tục.

Tại New York, ngày 27/12, giá vàng thỏi giao tháng 2/2008 tăng thêm 3,40 USD/oz, tương đương 0,4% so với mức giá đóng cửa hôm 26/12, lên mức 832,90 USD/oz. Trước đó có lúc giá vàng tăng thêm tới 5,20 USD/oz so với mức giá đóng cửa của phiên trước.

Như vậy, giá vàng đã lên dốc trong suốt 4 phiên giao dịch liên tiếp vừa qua.

Vào lúc 9h00 sáng nay theo giờ Singapore, giá vàng thỏi giao ngay tăng 24 cent/oz, lên mức 825,53 USD/oz, sau khi đã đạt mức 831,49 USD/oz ngày hôm qua, mức cao nhất kể từ ngày 26/11.

Tại thị trường trong nước, giá vàng đã tái lập mốc 1.600.000 đồng/chỉ. Vàng SJC tại Hà Nội và Tp.HCM sáng nay được niêm yết ở mức 1.594.000 đồng/chỉ (mua vào) và 1.602.000 đồng/chỉ (bán ra), tăng 12.000 đồng./chỉ so với sáng qua.

Nguyên nhân trực tiếp tác động đến giá vàng thế giới ngày 26/12 là vụ ám sát cựu Thủ tướng Pakistan Benazir Bhutto, khiến giới đầu tư đẩy mạnh mua vàng vào, coi đây là mặt hàng đầu tư an toàn trong bối cảnh chính trị thế giới bất ổn.

“Vụ ám sát này sẽ kích động mạnh mẽ tình hình chính trị vốn dĩ đã bất ổn ở Pakistan, một quốc gia đã có trong tay vũ khí hạt nhân. Giá vàng và các tài sản khác có giá trị tính bằng USD chắc chắn sẽ tăng mạnh”, Frank McGhee, người đứng đầu bộ phận đầu tư vào kim loại quý tại công ty Integrated Brokerage Services LLC ở Chicago nhận định.

Nguyên nhân thứ hai khiến vàng tăng giá ào ào là đồng USD lại tiếp tục chuỗi ngày mất giá không biết đâu là kết thúc so với đồng Euro. Ngày 27/12, đồng USD mất giá tới 0,9% xuống còn 1 Euro đổi được 1,4626 USD, so với mức 1 Euro ăn 1,4489 USD ngày 26/12. Vào lúc 10h45 sáng nay theo giờ Tokyo, 1 Euro đổi được 1,4600 USD.

Giới phân tích dự báo, báo cáo về tình hình thị trường nhà đất của Mỹ mà Bộ Thương mại nước này sắp công bố rất có thể sẽ cho thấy doanh số nhà bán ra tại Mỹ trong tháng 11 đã giảm mạnh. Nếu đó là sự thật, Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (FED) sẽ bị đặt dưới áp lực phải tiếp tục cắt giảm lãi suất để cản đà tuột dốc của tăng trưởng kinh tế. Đây là nguyên nhân chính khiến USD thêm mất giá.

Một nguyên nhân quan trọng khác nữa khiến giá vàng tăng mạnh là giá dầu thô thế giới liên tiếp tăng trong những ngày qua, đẩy nguy cơ lạm phát lên cao.

Tại New York, lúc đóng cửa phiên giao dịch ngày 27/12, giá dầu thô ngọt nhẹ tăng thêm 65 cent/thùng, tương đương 0,7%, lên mức 96,62 USD/thùng, mức giá đóng cửa cao nhất kể từ ngày 26/11.Sáng nay, vào lúc 10h32 theo giờ Singapore, giá dầu thô giao dịch điện tử tại New York tiếp tục tăng thêm 21 cent/thùng, tương đong 0,2%, lên mức 96,83 USD/thùng.

Giá dầu thô Brent tại London khép lại ngày giao dịch 26/12 với mức tăng 84 cent/thùng so với phiên trước, tương đương 0,9%, dừng ở 94,78 USD/thùng. Đây cũng là mức giá đóng cửa cao nhất của dầu Brent kể từ ngày 26/11.

Báo cáo hàng tuần về dự trữ năng lượng của Mỹ do Bộ Năng lượng nước này công bố ngày hôm qua cho thấy, kho nhiên liệu của nền kinh tế lớn nhất thế giới đã giảm 3,3 triệu thùng xuống còn 293,6 triệu thùng, mức thấp nhất kể từ tháng 1/2005. Mức giảm này cao hơn rất nhiều so với con số 1,5 triệu thùng mà giới chuyên gia dự báo trước đó.

“Không ít người cho rằng, giá dầu sẽ đạt ngưỡng 100 USD/thùng trước ngày cuối cùng của năm 2007 này”, chuyên gia Christopher Edmonds của công ty FIG Partners Energy Research & Capital Group có trụ sở ở Atlanta dự báo.

(Theo Bloomberg)

Hậu IPO Vietcombank: Thấp thỏm đợi chờ

Với số tiền lớn như vậy bị hút vào IPO Vietcombank, liệu thị trường chứng khoán sẽ chịu ảnh hưởng ở mức độ nào?…

Nhà đầu tư tổ chức trong nước đạt tỷ lệ đấu giá thành công cao nhất: 95,4% các tổ chức đã trúng giá 88% số lượng cổ phần Vietcombank đăng ký – Ảnh: VNN.

Cuối cùng thì kết quả đấu giá Vietcombank đã được công bố và tỏ ra khá phù hợp với những dự đoán trước đó.

>>Toàn cảnh cổ phần hóa Vietcombank

93% các nhà đầu tư cá nhân và tổ chức trong nước và nước ngoài (8792/9473) đã trúng giá thành công, với mức giá trung bình 10.860 VND. 

Nước ngoài bỏ giá cao 

Theo công bố chính thức từ Sở Giao dịch Chứng khoán Tp.HCM ngày 27/12/2007, kết quả đấu giá Vietcombank khá phù hợp với những dự đoán trước khi đấu giá, với mức giá thành công bình quân là 107.860 VND.

Nhà đầu tư nước ngoài đã lựa chọn mức giá bỏ thầu cao vượt trội so với nhà đầu tư trong nước để nâng cao xác suất trúng giá và đã đạt được tỷ lệ trúng giá bình quân 70,7% so với tỷ lệ thành công tối đa 72,5%. Nhà đầu tư nước ngoài đã mua được 97% room dành cho họ. Mức giá mà các nhà đầu tư nước ngoài bỏ thầu phổ biến nằm trong khoảng 113-117 nghìn đồng.

Nhà đầu tư tổ chức trong nước đạt tỷ lệ đấu giá thành công cao nhất: 95,4% các tổ chức đã trúng giá 88% số lượng cổ phần đăng ký. Còn các nhà đầu tư cá nhân trong nước cũng đạt được tỷ lệ thành công khá cao: 81,6%.

Số lượng cổ phần đấu thầu không thành công là 24.717.200 (20,2%) bao gồm 11.932.866 là số lượng đăng ký của nhà đầu tư nước ngoài, trong đó có 1.417.400 cổ phần nhà đầu tư nước ngoài đăng ký nhưng không trúng giá, dù vẫn còn room. Nguyên nhân là do các cổ phần này được bỏ ở mức giá thấp dưới mức giá thành công thấp nhất (102 nghìn) nên không trúng thầu.

Tỷ lệ cổ phần có mức bỏ giá dưới 102 nghìn của nhà đầu tư trong nước là 16% (12.784.384/81.549.500) phản ánh các nhà đầu tư cá nhân trong nước đã lựa chọn mức giá bỏ thầu phổ biến trong khoảng 100-107 nghìn đồng.

Dấu hỏi hậu IPO

IPO Vietcombank được đánh giá là thành công, bởi lẽ số lượng cổ phần đã bán hết và tỷ lệ đấu giá thành công khá cao và thỏa mãn cho cả 4 nhóm nhà đầu tư.

Tính từ ngày đấu giá trái phiếu Vietcombank cách đây 2 năm (26/12/2005), quy trình IPO Vietcombank mang đến cho các nhà đầu tư trong và ngoài nước nhiều cung bậc cảm xúc khác nhau.

Nhưng có lẽ, người chịu thiệt thòi nhất chính là các trái chủ Vietcombank, đặc biệt là các trái chủ đã nắm giữ số lượng lớn trái phiếu với mức lãi suất 6%/năm, hoặc mua lại từ thị trường giao dịch với giá 130-140.000 VND, thậm chí có lúc đến 260-270 nghìn đồng.

Ngay từ bây giờ, các cổ động mới của Vietcombank lại thấp thỏm đợi chờ. Những kế hoạch tiếp theo của quy trình IPO và niêm yết vẫn còn dài. Liệu đàm phán giữa Vietcombank và các đối tác chiến lược có thành công và khi nào thì mới có câu trả lời chính thức? Liệu thặng dư vốn sau IPO sẽ được phân bổ và sử dụng như thế nào?…

Bản cáo bạch của Vietcombank chỉ dám đưa ra mức lợi nhuận và mức sinh lời của vốn chủ sở hữu thấp. Phải chăng Vietcombank sẽ đi theo chiến lược thận trọng và dè dặt, hay tương lai của Vietcombank vẫn còn nhiều điều phải bàn? Điều này, nếu có, sẽ có phần đi ngược lại sự kỳ vọng rất cao của nhiều nhà đầu tư về một Vietcombank thay đổi và tăng trưởng hơn trong tương lai.

10.516 tỷ đồng là số tiền thu được từ đợt đấu giá lần này của Vietcombank. Đối với phần đông nhà đầu tư, mối quan tâm nhất vẫn là câu hỏi: với số tiền lớn như vậy bị hút vào IPO Vietcombank, liệu thị trường chứng khoán sẽ chịu ảnh hưởng ở mức độ nào?

8.411 nhà đầu tư cá nhân sẽ phải dành khoảng 4.000 tỷ đồng cho cổ phần Vietcombank nên tác động ngắn hạn đến luồng tiền đầu tư chứng khoán là có thể. Tuy nhiên, vì Vietcombank là ngân hàng thương mại, nên luồng vốn 10.516 tỷ đồng thu được từ đợt đấu giá này sẽ quay lại thị trường đầu tư trong nước, thông qua các kế hoạch đầu tư vào các công ty con, các ngân hàng mà Vietcombank có cổ phần và nguồn vốn tín dụng của Vietcombank, theo nguyên lý hệ số nhân của tiền tệ (money multiplier).

Và do vậy, có thể khẳng định tác động tích cực trong trung hạn và dài hạn do IPO Vietcombank mang lại sẽ lớn hơn nhiều lần so với luồng vốn bị thu hút trong vài ba tháng tới…

* Các tác giả bài viết thuộc Phòng Phân tích đầu tư – Công ty Cổ phần Chứng khoán Tân Việt.

Những ghi chú về kinh tế Việt Nam trong sổ tay

Đằng sau những con số khả quan về tốc độ tăng GDP và đầu tư nước ngoài của Việt Nam là những vấn đề đáng ngại…

Có đến hơn 16 triệu người Việt Nam không kiếm nổi 200.000 đồng một tháng.

Bài viết của TS. Vũ Quang Việt – Trưởng nhóm chuyên gia phân tích thuộc Cục Thống kê Liên hip quốc (New York).

Tôi đã định viết một bài nhằm đánh giá chất lượng nền kinh tế và khả năng điều hành nền kinh tế của Nhà nước hiện nay. Nhưng rồi thấy đề tài như thế cần nhiều số liệu thống kê mà hệ thống quản lý nhà nước vẫn chưa làm hoặc có làm nhưng chưa công bố đầy đủ, vậy chỉ có thể trình bày các ghi chú.

Vấn đề thông tin thống kê

So với trước đây, có thể thấy một số chuyển đổi khá tốt về việc cung cấp thông tin của Tổng cục Thống kê, tuy nhiên các ngành khác vẫn bình chân như vại. Mạng Ngân hàng Nhà nước gần như không có thông tin. Đành phải dùng số liệu về tiền tệ tín dụng Việt Nam nộp cho IMF, hoặc ADB nhưng rồi gặp vấn nạn mỗi nguồn một phách.

Có lẽ những nơi này phải sử dụng một số số liệu được cung cấp, tìm thêm số liệu từ các nguồn khác và rồi tự tính. Vẫn không hiểu tại sao thông tin về tiền tệ tín dụng, Ngân hàng Nhà nước chỉ ưu ái cho tổ chức và người nước ngoài nhưng lại giữ bí mật với dân đến thế.

Mạng của Ủy ban Chứng khoán Nhà nước có khá hơn một chút, có một số các văn bản, nhưng muốn theo dõi thông tin có tính chất tổng hợp thì không biết tìm ở đâu. Không hiểu nhiệm vụ theo dõi, tổng hợp thông tin về thị trường chứng khoán thuộc về ai: Ngân hàng Nhà nước như ở Mỹ hay Ủy ban Chứng khoán Nhà nước.

Cứ theo nhiệm vụ được giao cho ủy ban này là “thực hiện chế độ báo cáo về chứng khoán và thị trường chứng khoán…” và “tổ chức nghiên cứu khoa học về chứng khoán và thị trường chứng khoán” thì ắt nhiệm vụ thu thập thống kê về thị trường chứng khoán phải thuộc Ủy ban Chứng khoán Nhà nước.

Tìm thông tin hàng ngày về chứng khoán thì phải đến các sàn giao dịch riêng như ở TPHCM và Hà Nội là đương nhiên, nhưng đây không phải là nơi thu thập mà chỉ là nơi phải cấp thông tin để Nhà nước nắm tình hình, chẳng hạn như về giá trị cổ phiếu mà người nước ngoài hiện nắm giữ. Những thông tin này cực kỳ cần thiết để Nhà nước ra quyết sách. Việc rút khỏi thị trường của vốn nước ngoài có thể làm tê liệt nền kinh tế.

Nói về thông tin thì không phải chỉ xem có thông tin hay không mà cũng phải duyệt qua chất lượng thông tin. Bộ Tài chính có khẩu hiệu khá ấn tượng “công khai ngân sách nhà nước” trên mạng của bộ. Các nước thường công bố thu chi ngân sách tạm kết toán ngay sau năm tài khóa, để so với dự toán, rồi sau đó điều chỉnh dần cho đến khi có quyết toán (ngay ở châu Âu, nhiều nước tiếp tục điều chỉnh ít nhất là năm năm sau đó, không phải chỉ vì các khoản chi thu cần được làm sáng tỏ mà còn vì sự thay đổi của nguyên tắc kế toán).

Ở nước ta, Bộ Tài chính mới chỉ quyết toán năm 2005 vào gần cuối năm 2007, tức là gần hai năm sau mới đưa ra số liệu. Tuy vậy, số liệu năm 2005 này giúp ta thấy được một tình trạng khá kinh ngạc mà hình như chưa ai để ý tới: đó là sự khác biệt lớn giữa quyết toán và dự toán.

Thí dụ năm 2005, quyết toán chi là 313.000 tỉ so với dự toán chi do Quốc hội định là 230.000 tỉ, cao hơn 36%, (nếu trừ đi phần đã xuất quỹ nhưng chuyển sang năm tới để chi thì quyết toán chi vẫn cao hơn dự toán là 28%). Đây một con số quá lớn làm ta phải đánh dấu hỏi về khả năng kiểm soát thu chi nhà nước của Quốc hội.

Kể ra, công khai như thế cũng đã là bước tiến “nhảy vọt” kể từ sau đổi mới bởi trước đó ngân sách là bí mật quốc gia. Tuy nhiên, bộ cũng cần thêm bước “tiểu nhảy vọt” nữa vì trong ngân sách hiện nay vẫn có đến 12-15% ngân sách chi cho sự nghiệp suốt từ năm 2000 đến nay không biết chi vào đâu. Ngoài ra mỗi năm lại còn một phần khá mù mờ, đó là phần đã xuất quỹ nhưng chưa quyết toán, năm nào cũng lớn, thí dụ năm 2004 lên tới 9% chi ngân sách. Nói tóm lại, số liệu cho thấy có trên 20% chi ngân sách chưa có lời giải thích.

Số liệu về lao động có việc làm là thông tin quan trọng để đánh giá chất lượng kinh tế, và nhằm theo dõi sát sao tình hình kinh tế. Các nước thường xuất bản số liệu này hàng tháng, còn Tổng cục Thống kê chỉ điều tra hàng năm vào tháng 7, nhưng số liệu công bố vào lúc này trên mạng thì chỉ có đến năm 2004.

Khởi sắc và vấn đề mới phải đối mặt

Tốc độ tăng GDP có thể nói là khởi sắc. Nợ nước ngoài thấp. Khả năng trả nợ không có vấn đề. Việc Việt Nam gia nhập WTO đã mở rộng thêm khả năng gắn bó và mở rộng thị trường với kinh tế thế giới mà không còn bị vấn đề chính trị ngăn cản.

Sự hồ hởi của người nước ngoài với nền kinh tế Việt Nam là chưa từng thấy. Điều này đã phản ánh qua luồng ngoại tệ đổ vào Việt Nam cao nhất từ xưa đến nay từ đầu tư trực tiếp đến đầu tư gián tiếp qua việc mua cổ phiếu và trái phiếu Việt Nam. Khi số liệu thống kê năm 2007 được thu thập đầy đủ, ta sẽ thấy rõ vấn đề này hơn.

Năm 2007, số ngoại tệ đưa vào Việt Nam mà Ngân hàng Nhà nước mua vào đã lên tới 9 tỉ USD hoặc hơn. Chính vì vậy, Việt Nam đang cố tìm cách quản lý tình hình phức tạp này. Ngoại tệ vào nhiều tạo ra hai vấn đề. Số cung ngoại tệ nhiều sẽ làm ngoại tệ mất giá, hay nói khác đi, tiền đồng lên giá đối với ngoại tệ.

Vấn đề thứ hai là việc phát hành tiền đồng để đổi ngoại tệ sang tiền đồng đã làm tăng số cung tiền đồng trên thị trường. Điều này nếu không có biện pháp xử lý nhằm triệt tiêu số tiền đồng trên sẽ làm lạm phát nhảy vọt. Không thể phát hành trái phiếu nhà nước vì tiền thu về, Bộ Tài chính sẽ đem ra chi, làm tăng áp lực lạm phát.

Thực tế trong tình hình hiện nay là phải giảm chi của Bộ Tài chính. Như vậy, chỉ có Ngân hàng Nhà nước mới có thể làm việc triệt tiêu tiền trên thị trường bằng cách phát hành trái phiếu ngân hàng thu tiền về và giữ trong kho.

Vấn đề phát hành tiền đồng quá trớn đã xảy ra từ lâu, lạm phát cao cũng đã xảy ra từ lâu, ít ra từ năm 2004. Luồng ngoại tệ đổ thêm vào Việt Nam năm 2007 chỉ như đổ dầu thêm vào lửa thôi. Hiện tượng phát hành tiền Việt quá nhiều trong thời gian dài là nhằm vào mục đích tăng chi tiêu nhà nước, nhất là vào đầu tư để chạy đua lập thành tích đạt con số tăng GDP cao.

Do đó không thể đánh đồng tỷ lệ tăng GDP cao với tỷ lệ phát triển kinh tế. GDP to nhưng bị cắt xén bỏ túi riêng, chất lượng xây dựng thấp kém, ô nhiễm môi trường nặng nề, tăng tỷ lệ nghèo đói…

Lạm phát và mầm mống của bất ổn

Giá tăng liên tục có lẽ đang làm tăng tỷ lệ dân không đủ ăn, phá vỡ một thành tích đạt được trong thời đổi mới, đặc biệt là lạm phát giá lương thực và thực phẩm trong 10 tháng đầu năm lên trên 10%, riêng lương thực là 15%.

Không đủ ăn được định nghĩa là không đủ 2.100 calories hàng ngày và tính theo thời giá là 200.000 đồng một tháng. Tỷ lệ dân không đủ ăn là 19,5% năm 2004 theo nghiên cứu của Việt Nam công bố trên website của World Bank. Như vậy có đến hơn 16 triệu người không kiếm nổi 200.000 đồng một tháng.

Lạm phát cao và liên tục làm người có lương cố định nghèo đi. Từ năm 2000 đến nay, nếu không được tăng lương thì mức sống của người lao động vào năm 2006 đã giảm 42%. Dân lao động khó có thể ngồi yên mà không đòi tăng lương, và việc tăng lương lại góp thêm vào vòng xoáy lạm phát.

Lương tăng nhưng giá trị tiền đồng lại lên giá so với ngoại tệ, làm cho chi phí sản xuất tăng cao, sẽ ảnh hưởng đến đầu tư nước ngoài, vì hàng Việt Nam mất khả năng cạnh tranh về giá. Điều này lại càng làm cho cán cân xuất nhập khẩu âm lớn hơn hiện nay.

Có một hiện tượng nghịch lý trong nền kinh tế Việt Nam từ năm 2004 đến nay là việc tăng tín dụng, phát hành tiền đã làm tăng lạm phát, làm tiền đồng nhanh chóng mất sức mua trong nội bộ nền kinh tế, trong khi đó giá trị tiền đồng so với đồng USD Mỹ lại tăng giá, làm mất tính cạnh tranh của hàng Việt Nam. Trong vòng bốn năm qua đồng Việt Nam đã lên giá 13% so với đồng USD Mỹ.

Nếu ai hỏi tôi về chính sách ưu tiên cần thực hiện hiện nay thì tôi phải trả lời đó là chống lạm phát. Nếu không làm, xã hội sẽ ngày càng mất ổn định. Thật khó hiểu khi nhiều nhà làm chính sách vẫn hô hào làm sao giữ lạm phát thấp hơn tốc độ phát triển là được.

Nếu lạm phát cứ 8% hoặc cao hơn mỗi năm, người lao động ngày càng nghèo, người có tài sản ngày càng giàu vì mọi người có khả năng sẽ đổ xô mua tài sản vì nó là biện pháp duy nhất bảo vệ giá trị tài sản. Lúc đó thì tốc độ tăng trưởng dù có đạt 8 hay 10% chỉ có lợi cho người giàu, còn người nghèo sẽ bị bỏ lại bên lề xã hội. Mà người nghèo có thể tới 80-90% dân số chứ không ít. Trước đổi mới, lạm phát làm mọi người cùng nghèo. Hiện nay chỉ có dân không có tài sản mới bị ảnh hưởng.

Ngoài ra, lại có lý luận hết sức buồn cười là lạm phát hiện nay là do giá dầu tăng. Cứ nhìn thống kê thì thấy lạm phát ở Việt Nam không mới, đã ở mức không chấp nhận được từ năm 2004.

Lý luận trên ngược lại với những thông tin sẵn có về lạm phát thấp ở nhiều nước mặc dù họ cũng gặp vấn đề giá dầu tăng. Việt Nam là một trong những nước có tốc độ tăng giá cao nhất. Trong sáu năm qua, đồng tiền đã mất sức mua 42%. Còn những nước không có xăng dầu như Nhật thì giảm phát, Singapore và Hàn Quốc thì lạm phát rất thấp dù họ không có dầu hỏa.

Tất nhiên việc tăng giá dầu có tác động đến mặt bằng giá chung, nhưng chính sách tiền tệ và tín dụng đúng đắn vẫn có khả năng điều chỉnh. Hiện nay, năm 2007, Mỹ có bị áp lực tăng giá do giá dầu tăng, nhưng cũng chỉ tới mức 3,5%. Nhật vẫn tiếp tục âm. Còn Thái Lan, Singapore đều dưới 2,7%, Malaysia dưới 2%.

Các nước khác lạm phát cao thì đều là do sai lầm về chính sách, chứ không chỉ vì giá dầu. Chỉ nhìn tốc độ tăng tiền tệ hay tín dụng hàng năm ở Việt Nam là biết tại sao giá tăng.

Chạy đua và gian dối

Việc chạy đua đạt tốc độ tăng GDP thần kỳ đã phổ biến rộng khắp toàn xã hội. Những con số mới nhất mà các tỉnh đưa ra cho thấy tốc độ tăng GDP của họ là thần kỳ giả tạo. (Đáng lẽ vấn đề công bố thống kê phải thuộc Tổng cục Thống kê chứ không thuộc tỉnh). Những con số mà mà các tỉnh báo cáo cho thấy điều phi lý là họ chạy nhanh hơn cả nước.

Với tình trạng hiện nay, trung ương chạy đua và các tỉnh cũng cùng chạy đua theo tiếng còi chỉ tiêu GDP. Không biết đầu tư từ ngân sách (lên đến trên 9% GDP, bằng một phần ba ngân sách) sẽ phí phạm biết chừng nào.

Đã là một nền kinh tế thị trường thì đáng lẽ việc đạt tốc độ tăng không nằm trong tay Nhà nước mà trong tay doanh nghiệp và dân chúng. Vậy thì có lý gì phải có chỉ tiêu tăng GDP để phí phạm.

Đồng ý là cần dự báo GDP để cả Chính phủ lẫn doanh nghiệp có thể tính toán về thị trường và về nhu cầu đầu tư cho hạ tầng như điện, nước, đường sá, cầu cảng… nhưng không nên xem nó là chỉ tiêu phải đạt để rồi phí phạm ngân sách. Dự báo và chỉ tiêu là hai điều hoàn toàn khác nhau.

Nhân lực tài chính: Nhà trường và doanh nghiệp bắt tay

Theo ước tính, hiện ngành ngân hàng đang thiếu lượng nhân lực khoảng 30.000 người…

Một trong những bất cập lớn nhất của nhân lực tài chính – ngân hàng là sự hạn chế về cả số lượng và chất lượng.

Theo ước tính, hiện ngành ngân hàng đang thiếu lượng nhân lực khoảng 30.000 người. Dự kiến số lượng chi nhánh của các ngân hàng cổ phần sẽ tăng gấp đôi trong 2 năm tới và như vậy nhân sự cũng phải tăng tương ứng trong giai đoạn 2007-2010.

Đây là con số và dự báo được đưa ra tại hội thảo quốc gia “Đào tạo nhân lực tài chính – ngân hàng theo nhu cầu xã hội” được liên bộ Giáo dục Đào tạo, Tài chính và Ngân hàng Nhà nước tổ chức tại Hà Nội ngày 27/12/2007.

Tại buổi hội thảo này, đã diễn ra lễ ký kết 44 văn bản thoả thuận hợp tác giữa Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ Tài chính, Ngân hàng Nhà nước và giữa 6 trường đại học, 2 học viện, 1 trường cao đẳng với 15 ngân hàng và 17 doanh nghiệp.

Theo đánh giá, ngành tài chính – ngân hàng luôn là ngành xương sống của nền kinh tế. Ở Việt Nam lĩnh vực tài chính ngân hàng đã có những đóng góp đáng kể trong sự nghiệp đổi mới và phát triển kinh tế đất nước. Tuy nhiên, những bất cập của lĩnh vực này cũng đang trở thành rào cản lớn cho sự phát triển mạnh mẽ, bền vững của nền kinh tế trong giai đoạn tiếp theo.

Một trong những bất cập lớn nhất là sự hạn chế về nguồn nhân lực cả về số lượng và chất lượng. Hiện Việt Nam có khoảng 300.000 doanh nghiệp, dự kiến đến năm 2010 số lượng các doanh nghiệp sẽ tăng lên khoảng 500.000.

Theo đánh giá của nhiều chuyên gia, hầu hết các doanh nghiệp, trong đó có đến hơn 95% là các doanh nghiệp nhỏ và vừa không chỉ khó khăn trong việc tiếp cận các nguồn vốn vay mà còn về năng lực quản trị tài chính, nhất là đối với các khoản vay, nguồn vốn vay dưới dạng đầu tư bên ngoài.

Phần lớn lãnh đạo và nhân viên của các doanh nghiệp này chưa hiểu rõ về tầm quan trọng của hệ thống tài chính – kế toán, chưa có báo cáo đầy đủ, minh bạch về tài chính. Nhiều doanh nghiệp mới thành lập, không đáp ứng yêu cầu của hệ thống tài chính – kế toán, thiếu hiểu biết về tài chính, nhân viên không có đủ kiến thức về tài chính, dẫn đến không giám sát được tình hình tài chính và chức năng kế toán của doanh nghiệp mình.

Theo dự kiến đến năm 2010, nhu cầu nguồn nhân lực của các lĩnh vực bảo hiểm, chứng khoán, kiểm toán và thẩm định giá khoảng 13.500 người, trong đó lĩnh vực chứng khoán là 5.000 người, bảo hiểm là 3.000 người, kiểm toán là 5.000; lĩnh vực thẩm định giá là 500 người.

Theo Thứ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo Bành Tiến Long, với sự phát triển này đang đặt ra yêu cầu bức thiết đối với ngành giáo dục đại học nói chung và ngành giáo dục đại học trong lĩnh vực tài chính nói riêng về nhu cầu nguồn lực làm công tác tài chính có trình độ và chất lượng; chủ động liên kết, phối hợp chặt chẽ với doanh nghiệp, các cơ quan sử dụng lao động để xây dựng, thực hiện chương trình đảm bảo chất lượng.

Kỷ lục mới cho giá vàng 2008?

Nhiều nhà phân tích đã đưa ra dự báo: giá vàng sẽ tiếp tục đạt kỷ lục mới trong năm 2008…

Tính đến ngày 26/12 năm nay, giá vàng thế giới năm nay đã tăng 30%, đánh dấu năm tăng mạnh nhất kể từ năm 1979.

Nhiều nhà phân tích đã đưa ra dự báo: giá vàng sẽ tiếp tục đạt kỷ lục mới trong năm 2008.

Việc này, nếu xảy ra, sđánh dấu năm thứ 8 giá vàng tăng liên tiếp, điều chưa từng có trong lịch sử.

Theo một cuộc điều tra mới đây do hãng tin Bloomberg tiến hành, các nhà phân tích, môi giới và đầu tư vàng nhận định, giá vàng năm tới sẽ ở mức bình quân 800 USD/oz, so với mức 696 USD/oz năm nay, do giới đầu cơ ồ ạt chuyển sang mua vàng để đề phòng lạm phát.

Nhìn lại giá vàng thế giới năm qua

Ngày 7/11, giá vàng đã chạm mức 848 USD/oz, cao nhất trong 27 năm. Tính đến ngày 26/12, giá vàng thế giới năm nay đã tăng 30%, đánh dấu năm tăng mạnh nhất kể từ năm 1979, năm mà cuộc cách mạng ở Iran làm ngưng trệ hoạt động xuất khẩu dầu và lạm phát tại Mỹ vượt qua con số 13%

Chỉ số đánh giá 26 loại hàng của của UBS và Bloomberg trong năm qua cho thấy, vàng là mặt hàng tăng giá mạnh thứ hai trong năm qua, chỉ sau kim loại chì. Tính đến ngày 26/12, chỉ số này đã tăng 22%.

Giá vàng tăng cao do năm qua chủ yếu do 4 nguyên nhân. Thứ nhất, giá dầu cao kỷ lục đẩy lạm phát lên. Thứ hai, sản lượng vàng tại Nam Phi, quốc gia sản xuất vàng lớn nhất thế giới, đã giảm xuống mức thấp nhất trong 84 năm qua.

Thứ ba, những khoản thu lỗ khổng lồ trên thị trường cho vay thế chấp cũng đẩy mạnh nhu cầu tìm kiếm các cơ hội đầu tư thay thế cho chứng khoán và trái phiếu, trong đó, vàng là một mặt hàng hấp dẫn. Và cuối cùng, đồng USD mất giá kỷ lục so với Euro càng khiến giới đầu tư quan tâm hơn đến thị trường hàng hóa.

Ảnh hưởng của lạm phát

“Tôi dám cược là giá vàng sẽ đạt tới một mốc cao mới trong nửa đầu năm tới”, nhà phân tích John Reade của UBS AG dự báo. Chuyên gia này được coi là người đã đưa ra những dự báo chính xác nhất của giá vàng trong năm qua trong số các chuyên gia của Hiệp hội Thị trường vàng London.

Giá tiêu dùng tại Mỹ tăng 0,8% trong tháng 11, mức cao nhất trong hơn 2 năm qua. Số liệu của Cơ quan Thống kê châu Âu (Eurostat), lạm phát tại 13 nước sử dụng đồng Euro cũng tăng lên mức 3,1% trong tháng 11, mức cao nhất từ năm 2001. Tại Nhật Bản, giá tiêu dùng cũng tăng 0,1% trong tháng 10, tháng đầu tiên lạm phát tại nước này trong năm 2007.

“Hai vấn đề chính trong năm 2008 sẽ là cuộc khủng hoảng tín dụng dưới chuẩn ở Mỹ và lạm phát”, Ross Norman, Giám đốc công ty cung cấp dữ liệu TheBullionDesk.com có trụ sở tại London, cho biết. Theo chuyên gia này, giá vàng có thể lên đến mức trên 1.000 USD/oz trong năm tới.

Về nhu cầu vàng, nhà phân tích Philip Klapwijk, Chủ tịch công ty nghiên cứu GFMS Ltd tại London, dự báo, nhu cầu đầu tư vào vàng có thể dễ dàng đạt tới 500 tấn, trị giá khoảng 13 tỷ USD, so với mức 384 tấn trong năm ngoái. Năm nay, lượng vàng của StreetTracks Gold Trust, quỹ đầu tư vàng lớn nhất thế giới đã tăng 39% và đạt kỷ lục 627,88 tấn. “Số lượng các nhà đầu tư vào vàng đang tăng mạnh”, ông Klapwijk cho biết.

Nhà phân tích James Turk, người sáng lập GoldMoney.com, cũng đưa ra dự báo cho rằng, giá vàng có thể đạt ngưỡng 1.500 USD/oz, cao hơn rất nhiều so với mức kỷ lục hiện nay là 850 USD/oz xác lập vào năm 1980.

Tuy nhiên, nhà kinh tế James Gutman của Goldman Sachs, người cùng với chuyên gia Reade được coi là nhà dự báo giá vàng chuẩn xác nhất giá vàng năm nay, lại đưa ra một dự báo khá trái ngược. Mới đây, nhà phân tích này cho biết, giá vàng sẽ giảm xuống mức 790 USD/oz trong vòng 6 tháng tới và mức 750 USD/oz trong vòng 12 tháng tới.

“Một khi đồng USD lấy lại sức mạnh của nó, giá vàng sẽ giảm xuống”, ông Gutman nhận định. Chuyên gia này cũng khuyến cáo các nhà đầu tư nên bán ra các hợp đồng vàng kỳ hạn tháng 12/2008.

Tác động từ sản lượng

“Nhu cầu đối với vàng với tư cách một mặt hàng đầu tư an toàn sẽ không mất đi, thậm chí cả khi tình hình kinh tế sáng sủa trở lại. Các nhà đầu tư vẫn sẽ dành một phần trong danh mục của mình cho vàng”, Wolfgang Wrzesniok-Rossbach, người đứng đầu bộ phận kinh doanh của công ty kim loại Heraeus Metallhandels GmbH tại Đức, cho biết.

Thêm vào đó, sản lượng vàng ở mức thấp cũng sẽ góp phần nâng đỡ giá vàng. Năm ngoái, sản lượng vàng toàn cầu giảm xuống còn 2.477 tấn, mức thấp nhất trong 10 năm. Trong đó, lượng vàng do Nam Phi cung cấp giảm 7,5%, xuống mức thấp nhất từ năm 1922 do các công ty khai thác vàng ở đây phải tìm vàng ở độ sâu lớn hơn và trả lương cao hơn cho công nhân.

“Giá vàng vẫn sẽ diễn biến ở mức cao do tác động các hoạt động khai thác bị hạn chế”, nhà phân tích Michael Jansen của công ty JPMorgan Securities ở London dự báo.

Đồng tình với quan điểm này, nhà phân tích Graham Birch, người đứng đầu quỹ đầu tư vào các tài nguyên thiên nhiên BlackRock có trụ sở tại London và quản lý 40 tỷ USD, cho rằng, giá vàng sẽ tăng thêm khoảng 100 USD vào năm tới, một phần do khan hiếm nguồn cung. “Giá vàng sẽ phải lên tới 1000 USD/oz, vì mức 800 USD/oz chưa đủ để đảo ngược xu thế giảm dần của sản lượng khai thác”, chuyên gia này nói.

Ngoài ra, giá vàng còn có thể nhận được tác động tích cực từ các quy định tiếp tục hạn chế hoạt động bán ra của các ngân hàng trung ương trên thế giới, vốn là các tổ chức nắm giữ nhiều vàng nhất. Lượng vàng bán ra của các ngân hàng này có thể sẽ giảm xuống mức 495 tấn vào năm tới, so với mức 583 tấn trong năm ngoái.

(Theo Bloomberg)

Chẩn bệnh đúng để kê thuốc đúng

Tại sao Việt Nam đang có lạm phát cao hơn các nước láng giềng ASEAN mặc dù các nước này cũng bị tác động bởi giá dầu cao?…

Nguyên nhân thứ ba của tình trạng lạm phát hiện nay là do những cú sốc lớn không thể kiểm soát như giá dầu và nguyên liệu thô tăng cao trên thị trường toàn cầu.

Bài viết của Giáo sư Kenichi Ohno, Quỹ Phát triển Việt Nam.

Tại sao lạm phát của Việt Nam tăng? Chính xác hơn, tại sao Việt Nam đang có lạm phát cao hơn các nước láng giềng ASEAN mặc dù các nước này cũng bị tác động bởi giá dầu cao?

Lạm phát giá tiêu dùng của Việt Nam đang ở mức trên 10% vào cuối năm 2007 (số liệu của Tổng cục Thống kê là 12,6%), nhưng lạm phát của hầu hết các nước khác trong khu vực năm 2007 lại thấp hơn 5%, trừ Indonesia (xem đồ thị).
Nghiên cứu của Diễn đàn Phát triển Việt Nam (VDF), một dự án nghiên cứu phối hợp giữa trường Đại học Kinh tế Quốc dân Hà Nội (NEU) và Viện Nghiên cứu Chính sách của Nhật Bản (GRIPS), đã chỉ ra ba nguyên nhân của tình hình lạm phát hiện tại của Việt Nam. Hai nguyên nhân đầu liên quan đến tình trạng kinh tế vĩ mô đặc thù của Việt Nam và chỉ nguyên nhân thứ ba là chung cho các nước khác.

Thứ nhất và quan trọng nhất, lạm phát của Việt Nam chủ yếu là do một lượng vốn lớn bên ngoài chảy vào. Với sự ổn định chính trị, một lực lượng lao động cần cù và việc gia nhập WTO đầu năm 2007, Việt Nam được xem như là một ngôi sao đang lên trong các nước đang phát triển.

Người nước ngoài muốn đầu tư, dành viện trợ và mở rộng cho vay với Việt Nam. Ngoài xuất khẩu và nhập khẩu hàng hóa, hiện nay Việt Nam nhận được khoảng 15 tỉ đô la vốn từ bên ngoài (đây là con số của tác giả – con số của các cơ quan nhà nước cao hơn nhiều), tương đương với 25% GDP.

Nguồn vốn này đến dưới các dạng như kiều hối của Việt kiều và của những người lao động nước ngoài, FDI, ODA và các khoản thu từ du lịch. Gần đây, đầu tư vào cổ phiếu và trái phiếu của Việt Nam cũng đã được tính vào khoản vốn này.

Bất kỳ nước nào nhận được một lượng tiền lớn như vậy sẽ có một nền kinh tế quá nóng. Các dấu hiệu của điều này bao gồm bùng nổ tiêu dùng, bùng nổ xây dựng, tăng trưởng cao, lạm phát tăng, bong bóng đất đai và chứng khoán, thâm hụt thương mại, định giá cao tỷ giá hối đoái và dự trữ ngoại tệ tăng lên.

Mặc dù dự trữ ngoại tệ của Việt Nam không được công bố công khai nhưng dường như nó đang tăng nhanh. Và ai cũng có thể cảm thấy rằng Việt Nam đang trở thành một nước đắt đỏ hơn so với trước.

Tuy nhiên, Việt Nam không phải là nước duy nhất nhận được quá nhiều tiền. Thực tế, nhiều nước cũng đang trong tình trạng bùng nổ tương tự, bao gồm Trung Quốc, Nga, Kazakhstan, Anh, Tiểu vương quốc Ả rập thống nhất, Nigeria, Zambia, Nam Phi, Botswana, Mauritania và Angola.

Kinh tế phát triển quá nóng được tạo bởi một lượng lớn doanh thu từ xuất khẩu hàng hóa như dầu, khí và khoáng sản theo truyền thống được gọi là “Căn bệnh Hà Lan”. Nhưng phát triển quá nóng được tạo ra bởi những nguồn vốn bên ngoài lại chưa có tên. Có lẽ chúng ta có thể gọi là “Căn bệnh Việt Nam”?

Trong sự bùng nổ kinh tế được tạo bởi nguồn vốn bên ngoài, các nhà hoạch định chính sách phải kiểm soát tình hình rất chặt chẽ để tránh sự phát triển quá nóng thành cuộc khủng hoảng kinh tế toàn diện. Một điều cần nhớ là Thái Lan đã có những dấu hiệu như vậy vào đầu những năm 1990 trước khi bùng nổ khủng hoảng đồng baht năm 1997.

Khi một đất nước trở thành nơi ưa thích đối với các nhà đầu tư nước ngoài, các nhà lãnh đạo thường không nhận thức được rằng sự ưa thích này là tạm thời và có thể đảo ngược. Mọi người có khuynh hướng nhận ra bong bóng chỉ sau khi nó đã nổ. Khi Việt Nam hội nhập sâu vào hệ thống tài chính toàn cầu, những bài học từ cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ châu Á phải được xem xét lại.

Không thể chắc chắn là Việt Nam sẽ đối mặt một cuộc khủng hoảng như ở Thái Lan năm 1997. Chúng tôi hy vọng Việt Nam có thể tránh được một cuộc khủng hoảng như vậy. Nhưng kết quả tùy thuộc vào chất lượng của việc quản lý kinh tế vĩ mô trong tương lai gần.

Nguyên nhân thứ hai của lạm phát tăng ở Việt Nam là do chích sách tài chính tích cực. Chính phủ tiếp tục thực hiện một chương trình đầu tư công đầy tham vọng để xây dựng cơ sở hạ tầng nhằm đảm bảo phát triển kinh tế dài hạn. Theo Tổng cục Thống kê, năm 2006 thâm hụt ngân sách của Việt Nam là 5% GDP và đang tăng lên. Nhưng chúng ta phải nhớ rằng đầu tư có hai tác động: phía cung và phía cầu.

Từ phía cung, Việt Nam cần nhiều đường sá, cảng và nhà máy điện trong tương lai. Nhưng từ phía cầu, chi tiêu công tăng trong khi khu vực tư nhân đang bùng nổ là rủi ro. Từ quan điểm này, chính sách tài chính và tiền tệ cần phải thắt chặt vừa phải hơn là mở rộng để kiểm soát tình trạng kinh tế quá nóng và bong bóng.

Đây là một tình trạng tiến thoái lưỡng nan mà các nhà hoạch định kinh tế vĩ mô phải đối mặt. Điều khôn ngoan là Việt Nam cần lắng nghe lời khuyên từ IMF theo đó việc đầu tư công và cấp tín dụng phải được kiềm chế.

Nguyên nhân thứ ba của tình trạng lạm phát hiện nay là do những cú sốc lớn không thể kiểm soát như giá dầu và nguyên liệu thô tăng cao trên thị trường toàn cầu, dịch bệnh như cúm gia cầm, SARS, dịch tiêu chảy cấp và các thảm họa thiên nhiên như bão, lũ lụt. Một số trong những cú sốc đó mang tính toàn cầu và một số khác lại mang tính khu vực hoặc quốc gia.

Các cú sốc này cũng làm tăng lạm phát, nhưng chúng không thể giải thích tại sao giá cả của Việt Nam lại tăng nhanh hơn của các nước ASEAN khác từ năm này qua năm khác. Tập trung quá nhiều vào những nguyên nhân ngẫu nhiên này sẽ cản trở Chính phủ trong việc nhìn nhận hai nguyên nhân chính của lạm phát trên đây và có thể dẫn tới những giải pháp không hiệu quả, chẳng hạn như kiểm soát giá cả và giảm thuế nhập khẩu.

Việt Nam sẽ đối phó với việc nhận được quá nhiều tiền như thế nào? Trước hết, tình hình phải được chẩn đoán chính xác. Nếu vấn đề này được hiểu sai thì sẽ kê đơn thuốc sai và sẽ làm cho mọi thứ tồi tệ hơn.

Thứ hai, dòng vốn đổ vào phải được kiểm soát và nếu cần thiết phải được điều chỉnh. Để thực hiện tốt điều này cần phải học các kinh nghiệm từ cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ châu Á và các cuộc khủng hoảng khác tương tự.

Thứ ba, để hạ nhiệt nền kinh tế, chính sách kinh tế vĩ mô cần phải được thắt chặt vừa phải.

Cuối cùng, Việt Nam cần có một kế hoạch hành động khẩn cấp đối phó với một cú sốc lớn giống như tình hình mà Thái Lan phải trải qua năm 1997. Vì Việt Nam không còn là một nền kinh tế có hệ thống tài chính đóng, bản chất của các vấn đề kinh tế vĩ mô đã thay đổi. Tầm nhìn chính sách cũng phải thay đổi để đối phó với những vấn đề mới này.

Bỏ lỡ cơ hội

Các doanh nghiệp Việt Nam đã để vuột mất cơ hội khi quá “gắn bó” với USD, sử dụng đồng tiền này trong hầu hết các hợp đồng xuất khẩu…

Do quá “gắn bó” với USD, nhiều doanh nghiệp Việt Nam đã bỏ lỡ thời cơ khi đồng tiền này bị suy yếu so với các ngoại tệ khác.

Các doanh nghiệp Việt Nam đã để vuột mất cơ hội khi quá “gắn bó” với đồng USD, sử dụng đồng tiền này trong hầu hết các hợp đồng xuất khẩu.

Quen ỷ lại

Lâu nay, khi xuất hàng sang châu Âu hay các thị trường khác ngoài Mỹ, doanh nghiệp Việt Nam rất ít khi yêu cầu đối tác thanh toán bằng đồng tiền của nước họ. Trái lại, các doanh nghiệp “thích” được thanh toán bằng USD.

Tiếc thay, trong vòng một năm qua, đồng USD đã rớt giá so với hầu hết các đồng tiền khác như euro (EUR), đô la Úc (AUD), đô la Canada (CAD), bảng Anh (GBP), franc Thụy Sỹ (CFH) và yen Nhật (JPY). Các doanh nghiệp lẽ ra đã được hưởng lợi khi đồng USD yếu đi.

Ví dụ, đầu năm công ty A xuất hàng qua châu Âu mang về 200.000 USD hoặc tương đương 151.550 euro nếu nhận thanh toán bằng đồng tiền của nước nhập khẩu. Với 151.550 euro kia thì giờ đây lẽ ra có thể đổi được hơn 222.126 USD. Như vậy, công ty đã bở lỡ cơ hội kiếm thêm hơn 22.126 USD. Số tiền này có thể làm được nhiều thứ, chẳng hạn như bù trượt giá lương cho công nhân.

Dĩ nhiên còn phải tính đến lãi suất của hai đồng tiền này. Với lãi suất tiền gửi kỳ hạn 12 tháng của Vietcombank chi nhánh TPHCM là 4,6%/năm đối với USD và 2,5%/năm đối với euro thì khoản chênh lệch kia lúc này còn gần 18.480 USD, cũng không nhỏ chút nào.

Tạo sao doanh nghiệp “thích” USD? Ít nhất có ba lý do. Thứ nhất, tỷ giá USD/đồng Việt Nam dễ theo dõi vì chúng được niêm yết khắp mọi nơi. Không chỉ có ngân hàng mà siêu thị, nhà hàng, tiệm vàng… đâu đâu cũng có thể nhìn thấy tỷ giá này, trong khi tỷ giá các đồng tiền khác thậm chí không phải ngân hàng nào cũng niêm yết.

Thứ hai, nhiều doanh nghiệp chưa có giám đốc tài chính (CFO) để tính toán nên sử dụng các đồng tiền ra sao nhằm không những tránh rủi ro mà còn có thể “kiếm thêm”. Thứ ba, và có lẽ đây là yếu tố quan trọng nhất, đó là các doanh nghiệp được Nhà nước “bảo hộ” nên ỷ lại.

Bảo hộ ở đây có nghĩa là Nhà nước đã cho không doanh nghiệp một quyền chọn bán USD khi mà Ngân hàng Nhà nước hàng năm đề ra chỉ tiêu và cố gắng duy trì tốc độ mất giá 1% của tiền đồng so với USD. Doanh nghiệp thuê CFO làm gì để phải trả lương cao cho phí, cũng chẳng cần mua bảo hiểm chi cho tốn tiền. Nói nghe khó hiểu nhưng ví dụ, một doanh nghiệp xuất hàng sang Úc sẽ mang về 200.000 USD sáu tháng tới.

Doanh nghiệp chẳng cần phải tính xem ngay từ bây giờ nên làm gì với số tiền sắp nhận được mà cứ đợi đến khi có tiền, lúc đó bán đi lấy tiền đồng cũng chưa muộn, vì biết chắc 200.000 USD kia sáu tháng sau sẽ đổi được nhiều tiền đồng hơn bây giờ.

Nếu không có 1% bảo hiểm của Ngân hàng Nhà nước, thì doanh nghiệp sẽ chạy tới ngân hàng mua ngay một hợp đồng quyền chọn bán USD kỳ hạn sáu tháng với tỷ giá là 16.000 đồng/USD chẳng hạn. Nếu không làm thế, tỷ giá sáu tháng sau không phải là 16.000 đồng mà chỉ còn 15.500 đồng thì chết.

Nhiều ngân hàng đã được thực hiện quyền chọn tiền đồng-ngoại tệ, ngoại tệ-ngoại tệ nhưng có ngân hàng cho biết rất ít khách hàng sử dụng công cụ phái sinh này. Doanh nghiệp đã được Nhà nước bảo hiểm tỷ giá rồi thì mua thêm bảo hiểm của ngân hàng chi nữa!

Còn đối với ngân hàng, việc đưa ra các sản phẩm phái sinh đôi khi cũng chỉ để cho có với người ta. Dealer (nhân viên giao dịch tiền tệ) của các ngân hàng rất rành các nghiệp vụ kinh doanh này nhưng đôi khi hội đồng quản trị nghe trình bày thấy phức tạp quá nên thôi, cái gì đơn giản thì làm.

Ví dụ, ngân hàng bán một quyền chọn bán 300.000 USD kỳ hạn sáu tháng cho một doanh nghiệp và một quyền chọn mua 200.000 USD kỳ hạn ba tháng cho một doanh nghiệp khác. Để đơn giản, hiện nay, các ngân hàng mang các hợp đồng này tái ký hết cho nước ngoài để hưởng chênh lệch. Nếu làm bài bản, ngân hàng sẽ tìm cách khớp 200.000 USD của hai hợp đồng kia với nhau, còn lại bao nhiêu mới tái ký. Phí của một hợp đồng quyền chọn giả sử là 0,05% trên giá trị hợp đồng thì các ngân hàng chỉ hưởng được chừng 0,025%, tức một nửa, nếu tái ký hết.

Đến lúc phải tự thân vận động

Ngân hàng Nhà nước, có thể nói, không thể tiếp tục cho không doanh nghiệp hợp đồng bảo hiểm như trước nay nữa. Bằng chứng là tiền đồng trong năm qua hầu như giữ nguyên so với USD. Tiền đồng giảm mạnh trong quí 3 nhưng sau đó tăng trở lại và hiện nay đang dao động ở vị trí hồi đầu năm. Các doanh nghiệp nên chuẩn bị tinh thần.

Vốn nước ngoài đổ vào nhiều, Ngân hàng Nhà nước phải dùng tiền đồng mua USD để giữ tỷ giá ổn định, tức mất giá 1%/năm so với USD. Mua nhiều làm tăng cung tiền đồng, gây ra lạm phát cao. Sức ép lạm phát khiến Ngân hàng Nhà nước hạn chế mua USD, thế là USD giảm giá so với tiền đồng.

Nhận thấy chỉ tiêu mất giá 1% không còn đạt được nữa, gần đây, Ngân hàng Nhà nước điều chỉnh chỉ tiêu này xuống một nửa, tức còn 0,5%. Cuối cùng, Ngân hàng Nhà nước “mất cả chì lẫn chài”: tiền đồng tăng giá và lạm phát vượt chỉ tiêu tăng trưởng kinh tế.

Sắp tới sẽ ra sao? Các chuyên gia dự đoán lạm phát cao sẽ tiếp tục là một thách thức trong năm tới khi mà Việt Nam muốn duy trì tốc độ tăng trưởng kinh tế cao (8,5%). Trong số các chỉ tiêu kinh tế vĩ mô như lạm phát, lãi suất và tỷ giá thì Ngân hàng Nhà nước sẽ ưu tiên kiểm soát lạm phát. Dẫu sao đây cũng là chỉ tiêu được Quốc hội giao, các chỉ tiêu kia thì không.

Việc Ngân hàng Nhà nước để cho tiền đồng tăng giá dần dần thời gian gần đây cho thấy rằng cơ quan này đã “nhượng bộ” chỉ tiêu tỷ giá để kiểm soát lạm phát. Điều này cũng dự báo xu hướng tăng giá của tiền đồng trong năm mới này. ANZ dự báo tiền đồng sẽ tăng giá 0,2% so với USD trong năm 2008, trong khi HSBC cho rằng tỷ lệ này sẽ là 1%.

Các doanh nghiệp cần làm quen với môi trường đầy biến động này khi đất nước mở cửa. Không hiểu sao gần đầy HSBC ở Việt Nam đưa ra lãi suất khá cao đối với tiền gửi bằng ngoại tệ của các doanh nghiệp, đặc biệt là EUR, CAD và AUD.

Cao ở đây là so với lãi suất của các ngân hàng trong nước chứ so với nước ngoài có khi còn thấp hơn. Có lẽ họ dự báo các doanh nghiệp sẽ chú ý đến các đồng tiền khác ngoài USD nên huy động vốn để đón đầu? Dẫu sao các doanh nghiệp cũng nên chú ý những động thái này để đừng bỏ lỡ cơ hội như năm qua.

Việc Ngân hàng Nhà nước để cho tiền đồng tăng giá dần dần thời gian gần đây cho thấy rằng cơ quan này đã “nhượng bộ” chỉ tiêu tỷ giá để kiểm soát lạm phát. Ðiều này cũng dự báo xu hướng tăng giá của tiền đồng trong năm mới này.

Ngân hàng 2007: “Nóng” và “lạnh”

Nói về những chuyển biến của ngành ngân hàng trong năm đầu tiên sau khi gia nhập WTO, có thể phân ra hai loại: nóng và lạnh…

Chưa bao giờ vấn đề nhân sự cho lĩnh vực tài chính ngân hàng lại nóng, đúng ra là “sốt”, như hiện nay.

Bài viết của các tác giả Hồ Quốc Tuấn và Võ Hoàng Chương.

Nói về những chuyển biến của ngành ngân hàng trong năm đầu tiên sau khi gia nhập WTO, có thể phân ra hai loại: nóng và lạnh.

Ngành “hot”: Lợi nhuận vẫn cao

Ngân hàng, sau một năm vào WTO, vẫn giữ nguyên “phong độ”, vẫn là một lĩnh vực nóng, đem lại lợi nhuận cao và đang thu hút nhiều sự quan tâm của nhà đầu tư.

Nhiều ngân hàng vào khoảng cuối tháng 10, tháng 11 đã hoàn thành chỉ tiêu lợi nhuận, bất chấp những khó khăn từ “Chỉ thị 03”. Tín hiệu đáng mừng là nhiều ngân hàng đã nâng tỷ lệ lợi nhuận từ mảng dịch vụ lên 30%.

“Nóng” chuyện IPO, niêm yết

Cứ nhìn cách người ta quan tâm đến chuyện IPO của Vietcombank tới mức có người bảo là “đáng quan tâm hơn lạm phát” thì chúng ta cũng hiểu tình hình IPO và niêm yết trong ngành ngân hàng đáng quan tâm như thế nào. Năm nay càng về cuối năm, càng nhiều ngân hàng cổ phần phát hành cổ phiếu mới, đến mức nhiều người cho rằng mức độ pha loãng giá cổ phiếu của ngành này đã trở nên quá cao.

Mặt khác, một ngân hàng thương mại quốc doanh khác là Incombank cũng thông báo kế hoạch cổ phần hóa và IPO vào cuối năm nay và đầu năm sau. Có thể nói, càng về cuối năm, bức tranh IPO, niêm yết, phát hành mới của ngành ngân hàng càng sinh động, nhiều màu sắc, mà có lẽ chủ đạo là màu “nóng”.

Một phần nguyên nhân của gam màu nóng này là do tình hình cạnh tranh ngày càng gay gắt nên các ngân hàng phải nâng cao năng lực quản lý, năng lực tài chính, để duy trì và mở rộng hoạt động, đảm bảo chỉ tiêu lợi nhuận cho năm tới.

Nhiều ngân hàng mới – cạnh tranh gay gắt

Cái “nóng” thứ ba của ngành ngân hàng năm nay là nhìn ở khía cạnh sức ép cạnh tranh ngày càng gay gắt. Tuy nhiên, trận tuyến chủ yếu năm nay không phải ở phía ngân hàng nước ngoài với ngân hàng trong nước như có người lo ngại từ năm ngoái, mà chính là từ phía các ngân hàng trong nước với nhau, cụ thể là khối ngoài quốc doanh.

Trong cuộc cạnh tranh năm nay, có vẻ càng về cuối, khối ngân hàng thương mại nhà nước càng mất thị phần, khối ngân hàng nước ngoài chưa có những bước đột phá mạnh như nhiều người dự đoán, còn khối ngân hàng thương mại cổ phần đã nhanh chóng chiếm lĩnh thị phần cao hơn, chiếm khoảng 26% dư nợ toàn hệ thống tính đến khoảng giữa quí 4.

Ở khía cạnh “chìm” hơn của cuộc cạnh tranh, điểm đáng chú ý là năm nay khối ngân hàng thương mại cổ phần đón nhận sự gia nhập của nhiều ngân hàng mới với tiềm lực tài chính mạnh, do các tập đoàn, công ty lớn liên minh thành lập.

Nhiều ngân hàng thương mại cổ phần và quốc doanh sẽ mất đi một lượng khách hàng quan trọng, và nhiều nhân sự chủ chốt của các ngân hàng này cũng sẽ bị thu hút đi sang ngân hàng mới.

Như vậy, thực chất, cái “nóng” của cuộc cạnh tranh năm nay trong lĩnh vực ngân hàng chỉ mới là “khúc dạo đầu”, sẽ còn kéo dài rất lâu và dự kiến còn tăng lên rất nhiều trong năm sau.

Một phần chìm nữa là cạnh tranh từ các ngân hàng nước ngoài. Năm nay, từ số liệu về thị phần, lợi nhuận, sản phẩm, người ta chưa thấy rõ một sức ép cạnh tranh mạnh mẽ như nhiều người dự đoán từ năm ngoái.

Nhưng thực tế, nếu nhìn vào những gì mà các tên tuổi đã nhiều năm ở Việt Nam tiêu biểu như HSBC, Citibank và ANZ đang và sẽ làm, bao gồm tham gia cạnh tranh cho vay nhà đất, Citibank thiết lập mạng lưới thanh toán qua Công ty Dịch vụ tiết kiệm bưu điện hay ANZ dự kiến mở hơn 10 chi nhánh trong năm 2008 thì ta cũng thấy, khối ngân hàng nước ngoài, sau một năm Việt Nam vào WTO, chỉ mới đi những bước chuẩn bị âm thầm mà mạnh mẽ.

Năm đầu tiên sau WTO, trong cái nhìn của họ, có lẽ, chỉ mới là bước chuẩn bị. Sự cạnh tranh mạnh mẽ mà chúng ta chờ đợi, có lẽ sẽ đến, có thể không “khủng khiếp” như nhiều người sợ, nhưng sẽ không dễ dàng.

“Sốt” nhân sự

Chưa bao giờ vấn đề nhân sự cho lĩnh vực tài chính ngân hàng lại nóng, đúng ra là “sốt”, như hiện nay. Cái nóng này phần nào bị thúc đẩy bởi cái nóng về cạnh tranh, và chủ yếu mang tính chất tiêu cực vì nó bộc lộ sự thiếu chuẩn bị của ngành ngân hàng cho một sự phát triển mang tính bùng nổ.

Sự xuất hiện của các ngân hàng mới cùng với sự phát triển và mở rộng mạnh mẽ của các ngân hàng trong và ngoài nước đã tạo ra một bước nhảy vọt về nhu cầu nhân sự (cả cấp cao và cấp thấp).

Trong khi đó, nguồn cung về nhân sự vẫn chưa có sự phát triển đáng kể nào cả về chất và lượng. Theo quy luật kinh tế thông thường, khi cầu vượt quá cung thì sẽ đẩy giá cao lên nhằm làm giảm cầu để cân bằng thị trường nhưng đằng này “giá” của nhân sự trong lĩnh vực này mặc dù đã tăng lên nhưng cầu vẫn không hề giảm.

Nhiều ngân hàng đã nâng mức lương và đưa ra những chế độ đãi ngộ hấp dẫn như được mua cổ phiếu với giá ưu đãi nhằm thu hút nhân lực, “chiêu dụ” nhân tài từ ngân hàng khác, “lấn sân” sang cả những sinh viên tốt nghiệp ở các chuyên ngành khác nhưng vẫn không đủ nhu cầu.

Điều này dẫn đến một cuộc chiến giành giật nhân sự giữa các ngân hàng, một điều không hề tốt cho hệ thống ngân hàng nói chung. Nên nhớ rằng, để vận hành tốt một ngân hàng, cần phải tốn không ít thời gian và chi phí đào tạo đội ngũ nhân viên, nếu nhân viên cứ “người đi, kẻ đến” thì làm sao ngân hàng phát triển. Nhiều ngân hàng đơn lẻ không ổn định, thì hệ thống sẽ ra sao?

“Lạnh” mới đáng lo

Cái “lạnh” thứ nhất là về sản phẩm ngân hàng. Một năm sau WTO, chúng ta dường như không cảm nhận được một đột phá nào về sản phẩm ngân hàng, quanh đi quẩn lại vẫn là những cải tiến cho những sản phẩm đã có.

Những sản phẩm tài chính cá nhân phổ biến ở các nước khác, kết hợp những biến động từ đầu tư, giá cả vào sản phẩm ngân hàng truyền thống như sản phẩm phức hợp (structured products), hợp đồng hưởng chênh lệch (CFD)… đều không có, còn sản phẩm phái sinh thì chả thấy phát triển gì.

Nếu cho rằng tại những cái đó cao cấp quá, mình không phát triển được, thì e rằng không hợp lý. Những cái này nước người ta phát triển đã nhiều năm, nhiều nước châu Á như Hàn Quốc, Singapore đều có, mình không có, nghĩa là mình đi sau quá lâu, và còn đang… muốn tiếp tục đi sau.

Ngay cả những sản phẩm phục vụ thanh toán thương mại điện tử, và những thanh toán thông thường cũng chưa có gì đột phá. So với mức độ nóng của nền kinh tế, thì những con số về tỷ lệ người dùng thẻ tín dụng, dịch vụ thanh toán thẻ, tiện ích hỗ trợ giao dịch điện tử… dường như chưa tương xứng.

Một minh chứng nữa của việc chậm trễ và thiếu nhạy bén là trong giai đoạn vàng tăng giá, dường như chỉ có ACB đưa ra sản phẩm mới để thích ứng với tình hình. Các ngân hàng khác, kể cả nhiều ngân hàng có tiềm lực và kinh nghiệm trong lĩnh vực kinh doanh vàng và ngoại tệ, tỏ ra quá thận trọng và thụ động trong việc thiết kế sản phẩm mới.

“Lạnh” thứ hai là về khía cạnh pháp lý để quản lý ngành ngân hàng. Đã có nhiều bài báo công khai chỉ rõ cái hạn chế của việc dùng “nghị định thay luật”, dùng “giấy phép con” dưới dạng các quyết định, chỉ thị trong quản lý ngành ngân hàng.

Đó là chưa kể cách chúng ta quản lý ngành ngân hàng theo kiểu “một cho tất cả”, bất kể ngân hàng tiềm lực mạnh, yếu, năng lực quản trị rủi ro, lợi nhuận thế nào. Tình hình như vậy cho thấy chúng ta lúng túng và đi sau diễn biến thị trường khá xa trong quản lý. Điều này là hết sức nguy hiểm đối với ngành ngân hàng, một lĩnh vực nhạy cảm và rủi ro.

Bốn điểm nóng, hai điểm lạnh, có vẻ như ngành ngân hàng Việt Nam vẫn đang phát triển thuận lợi, nhưng lại hàm chứa nhiều sóng ngầm. Khi nào mà nhiều mặt “lạnh” hơn xuất hiện, và những cái “nóng” trở nên tiêu cực hơn, thì đó là lúc ngành ngân hàng nảy sinh vấn đề nghiêm trọng. Hy vọng chúng ta biết lo từ bây giờ để tránh trường hợp đó.

Chưa bao giờ vấn đề nhân sự cho lĩnh vực tài chính ngân hàng lại nóng, đúng ra là “sốt”, như hiện nay. Cái nóng này phần nào bị thúc đẩy bởi cái nóng về cạnh tranh, và chủ yếu mang tính chất tiêu cực vì nó bộc lộ sự thiếu chuẩn bị của ngành ngân hàng cho một sự phát triển mang tính bùng nổ.