Ba bất cập trong kiềm chế lạm phát

Có thể nói năm 2007 là năm đặc biệt về giá cả do tốc độ tăng giá cao hơn và nhiều kịch tính hơn những năm trước…

Việc nghiêng về phát hành trái phiếu quốc tế để thu hút ngoại tệ, trong khi lượng trái phiếu đó có thể được phát hành trong nước để hút ngoại tệ và lượng tiền dư thừa cũng là một bất cập khác…

Bài viết của Tiến sĩ Nguyễn Minh Phong, Viện Nghiên cứu phát triển kinh tế – xã hội Hà Nội.

Có thể nói năm 2007 là năm đặc biệt về giá cả do tốc độ tăng giá cao hơn và nhiều kịch tính hơn những năm trước.

Việc Việt Nam gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) và việc Chính phủ dùng các biện pháp hành chính để kiểm soát giá nhiều mặt hàng quan trọng và nhạy cảm là những yếu tố góp phần thêm vào độ nóng của giá cả.

Việc triển khai các cam kết trong khuôn khổ WTO của Việt Nam có tác động hai mặt đến giá cả. Một mặt, có nhiều mặt hàng do thuế nhập khẩu giảm, nguồn cung tăng đã góp phần làm hạ mức giá chung của thị trường. Mặt khác, việc bùng nổ thu hút nguồn đầu tư trực tiếp và gián tiếp của nước ngoài đã khiến tổng cung tiền tăng lên, gây áp lực lớn đến việc tăng giá. Rất có thể năm nay mức tăng CPI sẽ cao hơn mức tăng GDP, tức lạm phát sẽ vào khoảng trên 10% (trong 11 tháng đầu năm, mức tăng giá đã đạt 9,45%).

Chính phủ đã có nhiều cố gắng để kiềm chế sự gia tăng của giá cả, tuy nhiên xét trên góc độ kinh tế thị trường, những biện pháp quản lý giá của Chính phủ trong thực tế phần nào còn mang tính “hớt ngọn”, thiếu chủ động và đồng bộ.

Điều này thể hiện tập trung ở ba điểm sau:

Thứ nhất, chưa coi trọng đúng mức và phân biệt rạch ròi giữa yêu cầu dự báo giá cả khách quan với mục tiêu chính sách chủ quan. Đây là nguyên nhân quan trọng khiến Chính phủ bất ngờ và lúng túng trong việc giải mã, bắt mạch, kê đơn cho các động thái giá cả thị trường, từ đó làm giảm tính chủ động và hiệu quả của các giải pháp kiềm chế lạm phát được lựa chọn.

Thứ hai, chưa coi trọng việc tuân thủ đúng các yêu cầu cũng như quy trình của nền kinh tế thị trường. Cụ thể là chưa tạo ra sự cạnh tranh đầy đủ và lành mạnh trong việc cung cấp các sản phẩm và nguyên, nhiên liệu đầu vào thiết yếu của nền kinh tế, rồi mới bãi bỏ sự kiểm soát hành chính về giá.

Đối với một số mặt hàng thiết yếu như dầu mỏ, điện, thuốc chữa bệnh… cần phải tạo ra một thị trường cạnh tranh đầy đủ rồi Nhà nước mới bãi bỏ quản lý giá, để bàn tay vô hình của thị trường làm đúng chức năng của mình… Trong khi, trên thực tế tình hình đang diễn ra ngược lại và phát sinh nhiều bất cập.

Thứ ba, chưa coi trọng sự phối hợp nhuần nhuyễn giữa các cơ quan chức năng và các loại công cụ chính sách, nhất là giữa ngành tài chính với ngân hàng, đặc biệt trong việc sử dụng các công cụ lãi suất, hạn mức tín dụng, dự trữ bắt buộc, dự trữ ngoại hối và chính sách thuế, chính sách nợ chính phủ.

Đồng thời, trong công tác điều hành nền kinh tế cũng chưa có sự đồng bộ, nhất quán giữa việc ban hành, triển khai, giám sát, kiểm tra và chế tài hiệu quả các vi phạm chính sách trên thực tế…Vừa qua, các cơ quan liên ngành mới chỉ tập trung vào các giải pháp về tài chính, còn nhóm giải pháp về tiền tệ thì khá mờ nhạt, điều này đã tạo điều kiện cho lạm phát tăng cao.

Năm 2007 là năm lãi suất ngân hàng thực âm, tức lãi suất các ngân hàng thương mại thấp hơn mức lạm phát, người gửi tiền tiết kiệm bị thiệt thòi lớn – điều mà suốt từ năm 1993 đến nay mới lại xảy ra, vì thế có thể nói năm 2007 là năm bội thu của khu vực ngân hàng Việt Nam.

Việc nghiêng về phát hành trái phiếu quốc tế để thu hút ngoại tệ, trong khi lượng trái phiếu đó có thể được phát hành trong nước để hút ngoại tệ và lượng tiền dư thừa cũng là một bất cập khác…

Dự báo năm 2008 tình hình giá cả sẽ có nhiều động thái tương tự như năm nay nhưng ở trong nước thì các yếu tố tích cực sẽ nhiều hơn yếu tố tiêu cực, vì thế CPI có thể dưới mức tăng trưởng GDP vào năm 2008.

Nhưng để thực hiện được điều này còn phụ thuộc rất lớn vào quyết tâm của Chính phủ. Hy vọng, Chính phủ sẽ có nhiều chính sách đột phá và hiệu quả hơn liên quan đến việc tạo lập đồng bộ các cơ chế thị trường.

Cần nhấn mạnh rằng, nếu thiếu sự cạnh tranh đầy đủ và sự kiểm soát hiệu quả của Chính phủ thì chuyện các doanh nghiệp độc quyền lợi dụng sự biến động giá cả để thu lợi không chính đáng là điều có thể xảy ra. Nếu Chính phủ cho phép tự do hóa cạnh tranh cao hơn sẽ tạo ra sức ép giảm giá lớn hơn.

Đặc biệt, cần giải quyết được bài toán tăng lương, nhất là để tránh cái vòng luẩn quẩn tăng lương – tăng giá – tăng lương… Không nên biến việc tăng lương thành các làn sóng toàn xã hội, mà hãy để chuyện tăng lương trở thành chuyện bình thường, mang yếu tố thị trường của từng khu vực, ngành, của từng doanh nghiệp trong sự kiểm soát chung của Chính phủ bên cạnh sự giám sát của các hiệp hội và công đoàn.

Quan trọng nhất là cần có sự phối hợp đồng bộ giữa các cơ quan liên quan trong việc dự báo và đưa ra phương án thực thi các chính sách và giải pháp phòng ngừa việc tăng giá…

* Nếu thiếu sự cạnh tranh đầy đủ và sự kiểm soát hiệu quả của Chính phủ thì chuyện các doanh nghiệp độc quyền lợi dụng sự biến động giá cả để thu lợi không chính đáng là điều có thể xảy ra. Nếu Chính phủ cho phép tự do hóa cạnh tranh cao hơn sẽ tạo ra sức ép giảm giá lớn hơn.

“Thận trọng khi lập ngân hàng mới”

Nội dung cuộc trao đổi với ông Ayumi Konishi, Giám đốc quốc gia Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) tại Việt Nam…

“Có nhiều lo ngại khác nhau khi các công ty chưa từng hoạt động trong lĩnh vực ngân hàng mà lại xin phép thành lập ngân hàng”.

Nội dung cuộc trao đổi với ông Ayumi Konishi, Giám đốc quốc gia Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) tại Việt Nam.

Hiện nay, khá nhiều công ty, tập đoàn của Việt Nam xin phép thành lập ngân hàng. Theo ông, xu hướng này bắt nguồn từ đâu?

Rất nhiều nhà đầu tư quan tâm đến lĩnh vực ngân hàng là do sự tăng trưởng nhanh chóng lợi nhuận của ngành này. Dự báo lĩnh vực ngân hàng sẽ tiếp tục tăng trưởng trong tương lai cùng với sự tăng trưởng kinh tế.

Hiện nay, lĩnh vực tài chính cá nhân ở Việt Nam gần như không đáng kể. Ngành ngân hàng hầu như còn bỏ quên một bộ phận lớn dân số và doanh nghiệp ở Việt Nam, điều đó nói lên rằng thị trường này còn rất lớn và chưa được khai thác hết. Mặt khác, ngành ngân hàng chưa thật sự hiện đại và sản phẩm còn bị hạn chế, do đó lĩnh vực này còn rất tiềm năng.

Chúng tôi tin rằng sự gia tăng của các đơn xin thành lập ngân hàng tại Việt Nam phản ánh sự thật là có rất nhiều tổ chức quan tâm đến ngành này do cơ hội kinh doanh cũng như là tiềm năng phát triển của ngành.

Trong số các đơn xin thành lập ngân hàng, có khá nhiều công ty, tập đoàn lớn chưa từng hoạt động trong lĩnh vực này. Quan điểm của ông về việc này như thế nào?

Có nhiều lo ngại khác nhau khi các công ty chưa từng hoạt động trong lĩnh vực ngân hàng mà lại xin phép thành lập ngân hàng. Đối với hoạt động trong lĩnh vực ngân hàng, công ty mẹ không nên cố gắng kiểm soát các ngân hàng thành viên. Có những rủi ro liên quan đến việc cho vay với các tổ chức liên kết và việc lạm dụng quyền hạn của công ty mẹ sẽ ảnh hưởng đến các quyết định cho vay của ngân hàng.

Điều này đã được chứng minh từ nhiều nước trên thế giới và dẫn đến sự sụp đổ của nhiều tổ chức ngân hàng. Tôi cho rằng những nhà quản lý ngân hàng sẽ phải thận trọng với những rủi ro này.

Vậy theo ông, cần phải có những biện pháp gì để nhằm hạn chế những rủi ro này?

Những công ty mới bước vào ngành ngân hàng cần phải được trang bị đầy đủ kiến thức và tuân thủ chặt chẽ những qui định của ngành.

Ở Việt Nam cũng như những nước khác trên thế giới, thực tế đã chứng minh rằng việc quản lý kém là nguyên nhân chính dẫn đến sự thất bại trong lĩnh vực này. Và sự thất bại này cần phải được tránh vì nó sẽ có ảnh hưởng bất lợi tới hệ thống tài chính và sự phát triển toàn bộ của nền kinh tế.

Những nhà điều chỉnh chính sách cần phải quản lý vấn đề của những ngân hàng mới tham gia thị trường một cách thận trọng bởi vì một mặt các nhà hoạch định chính sách không nên giới hạn số lượng ngân hàng tham gia thị trường để tăng cường sự cạnh tranh nhằm cải thiện tính hiệu quả của hệ thống ngân hàng, nhưng mặt khác phải duy trì sự thận trọng với việc điều hành nhằm đảm bảo những ngân hàng mới phải được trang bị đầy đủ.

Hơn nữa, việc tăng các tiêu chuẩn cho các ngân hàng mới và kiểm soát ngân hàng là những biện pháp quan trọng để đảm bảo tính chính trực của lĩnh vực tài chính.

Cảnh báo về tăng trưởng

Những cảnh báo của chuyên gia Ngân hàng Thế giới (WB) đối với nền kinh tế Việt Nam…

“Đến năm 2012-2015 các nhà tài trợ sẽ giảm rất mạnh viện trợ không hoàn lại cho Việt Nam”.

n tượng với những thành quả phát triển kinh tế, các nhà tài trợ hi vọng cam kết ODA cho Việt Nam năm nay sẽ cao hơn con số kỷ lục 4,44 tỷ USD của năm ngoái. Tuy nhiên, họ cũng đưa ra những cảnh báo cho nền kinh tế Việt Nam.

Dưới đây là nội dung cuộc trao đổi của chúng tôi với ông Martin Rama, Chuyên gia kinh tế trưởng của WB, tại cuộc họp báo diễn ra  Hà Nội ngày 29/11, trước thềm Hội nghị Nhóm tư vấn các nhà tài trợ 2007 sẽ diễn ra vào ngày 6-7/12.

Viễn cảnh Việt Nam trở thành nước có thu nhập trung bình sẽ ảnh hưởng như thế nào tới khoản tài trợ ODA dành cho Việt Nam, thưa ông?

Việt Nam là nước nhận viện trợ ưu đãi kể cả không hoàn lại lẫn cho vay không lãi. Khi Việt Nam giàu hơn thì sẽ không được hưởng nhiều như thế nữa.

Việt Nam hiện vẫn chưa đến mức như vậy nhưng với tốc độ tăng trưởng như hiện nay thì cũng không nhiều năm nữa Việt Nam sẽ hết điều kiện để được hưởng. Do vậy, các tổ chức quốc tế đã bắt đầu chuyển sang kết hợp các điều khoản cho vay gần hơn với cho vay thương mại.

Đến năm 2012-2015 các nhà tài trợ sẽ giảm rất mạnh viện trợ không hoàn lại cho Việt Nam. Trong thời gian trước mắt vẫn sẽ tăng viện trợ nhưng Việt Nam cũng cần phải sẵn sàng chuẩn bị tình hình là sẽ không được hào phóng như hiện tại nữa. Và việc vay vốn sẽ gần với các điều khoản thương mại nhiều hơn.

Ở Việt Nam hiện đang có xu thế các tập đoàn kinh tế mở rộng hoạt động sang lĩnh vực tài chính, nhiều công ty cũng lan sang mảng chứng khoán và bất động sản, ông có bình luận gì không?

Việc thành lập ngân hàng của các tập đoàn kinh tế lớn sẽ có những nguy cơ rủi ro xảy ra khi các tập đoàn không có quản trị tốt, không có năng lực để giám sát xem ngân hàng của mình làm những gì, hoặc khi tập đoàn đó không có thể chế giống như một ngân hàng thực thụ. Chẳng hạn như đối với các tập đoàn kinh tế lớn thay vì vay tiền ngân hàng hay phát hành trái phiếu thì các tập đoàn này lại nhận tiền gửi.

Tiếp theo, việc đa dạng hoá lĩnh vực kinh doanh của các tập đoàn kinh tế như mở công ty chứng khoán, công ty kinh doanh bất động sản… cũng là vấn đề gây quan ngại. Các tập đoàn bị thu hút bởi sự hấp dẫn của cơ hội kiếm tiền ở những lĩnh vực đó. Họ tận dụng lợi thế về quy mô ở một số lĩnh vực.

Việt Nam có ít công ty lớn ở lĩnh vực công nhưng có nhiều công ty tư nhân, đây là cơ hội để đẩy các công ty đó có sức mạnh toàn cầu. Nhưng việc đa dạng hoá lĩnh vực kinh doanh có vẻ không nhất quán với chính sách tận dụng thế mạnh của doanh nghiệp để phát triển lên tầm toàn cầu. Mối quan ngại và được quan tâm lớn nhất ở đây là sự không rõ ràng giữa lợi ích về tài chính và thương mại.

Vậy làm thế nào để các tập đoàn kinh tế Việt Nam đạt được thành công khi thực hiện việc mở rộng sang lĩnh vực đầu tư tài chính?

Các tập đoàn phát triển theo hướng đa ngành có thành công không? Cũng có thể có một số có tiềm năng phát triển. Như Vinashin chắc chắn sẽ còn phát triển tốt trong thời gian dài. Nhưng vấn đề là khi họ không đa dạng hoặc đầu tư vào những lĩnh vực không phải lợi thế cạnh tranh của họ thì họ còn làm tốt hơn hay không? Câu hỏi này vẫn để ngỏ.

Không có năng lực về mặt quản lý thì việc mở rộng các ngành chưa hẳn đã tốt. Thực chất đa dạng hoá không đáng lo ngại bằng việc huy động tiền trực tiếp từ công chúng và sử dụng số tiền đó không hợp lí. Nếu tập đoàn dùng nguồn lực của họ thì tốt thôi nhưng nếu họ huy động tiền từ công chúng thì đó là điều đáng lo ngại!

Trong trường hợp đó, cần giám sát các tập đoàn này mạnh mẽ hơn nữa. Và hi vọng sau giai đoạn chuyển đổi nền kinh tế thì sẽ chuyển sang công ty quản lí vốn nhà nước thực hiện quyền sở hữu Nhà nước ở các công ty như vậy. Khi đó các tập đoàn này mới thực sự được quản lí như một công ty tư nhân.

Theo ông, Việt Nam nên làm gì để kiểm soát tốt nhất việc tăng chỉ giá tiêu dùng như hiện nay?

Tính đến thời điểm này, việc duy trì tỉ giá hối đoại chẳng hạn ở mức 16.000 VND đối với một nền kinh tế mở như Việt Nam, khi tỉ lệ xuất khẩu trên GDP bằng 70%, điều đó dẫn đến giá cả quốc tế có tác động rất lớn đến nền kinh tế Việt Nam.

Ví như trong trường hợp giá thép, dầu trên thế giới tăng, chúng ta nhân với tỉ giá 16.000 là giá tăng ngay với tiền đồng do Việt Nam đã gắn tỉ giá hối đoái cố định với đồng USD. Nếu Việt Nam cho tỉ giá hối đoái giảm xuống lại làm mất tính cạnh tranh của hàng hoá.

Bên cạnh đó, một số yếu tố khác khiến chúng ta không thể kiểm soát được lạm phát như thiên tai, lụt lội. Tuy nhiên, vấn đề là rổ CPI của Việt Nam vẫn chưa phải hợp lý.

Ngoài ra, chính sách tiền tệ, tỉ lệ tín dụng quá cao, yếu tố ảnh hưởng bởi giá đất tăng làm giá thuê văn phòng, cửa hàng tăng cũng ảnh hưởng và việc phân phối hàng hoá cũng đắt hơn khi giá cả xăng dầu tăng. Do đó, Việt Nam cần có chỉ số giá tiêu dùng tốt hơn để phân tích lạm phát của mình.

Tăng gấp ba lần vốn cho “siêu” tổng công ty

Vốn của Tổng công ty Đầu tư và Kinh doanh vốn Nhà nước (SCIC) được tăng từ 5.000 tỷ đồng lên 15.000 tỷ đồng…

Vốn điều lệ của SCIC theo quy định tại Quyết định 151/2005/QĐ-TTg là 5.000 tỷ đồng, được sửa đổi, bổ sung thành 15.000 tỷ đồng.

Vốn của Tổng công ty Đầu tư và Kinh doanh vốn Nhà nước (SCIC) được tăng từ 5.000 tỷ đồng lên 15.000 tỷ đồng.

Nguồn tin Chính phủ cho biết, ngày 27/11, Thủ tướng Chính phủ đã sửa đổi, bổ sung khoản 1 Điều 4 Quyết định số 151/2005/QĐ-TTg ngày 20/6/2005 của Thủ tướng Chính phủ về việc thành lập SCIC.

Vốn điều lệ của SCIC theo quy định tại Quyết định 151/2005/QĐ-TTg là 5.000 tỷ đồng, được sửa đổi, bổ sung thành 15.000 tỷ đồng.

Nguồn vốn bổ sung có từ vốn ngân sách nhà nước cấp; vốn nhà nước đầu tư tại các công ty chuyển giao cho SCIC thực hiện quyền đại diện chủ sở hữu vốn; vốn nhà nước bổ sung từ tiền bán cổ phần lần đầu khi thực hiện cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 46 Nghị định số 109/2007/NĐ-CP ngày 26/6/2007 của Chính phủ về chuyển doanh nghiệp 100% vốn nhà nước thành công ty cổ phần.

Trước đó, Thủ tướng Chính phủ cũng vừa có quyết định bổ nhiệm Chủ tịch Hội đồng Quản trị và Tổng giám đốc mới của SCIC, có hiệu lực từ 1/1/2008.

Sacombank: 1 tháng khai trương 21 điểm giao dịch

Chỉ trong vòng 1 tháng, Ngân hàng Sài Gòn Thương Tín (Sacombank) liên tục khai trương thêm 21 điểm giao dịch…

Năm 2010, dự kiến Sacombank sẽ có khoảng 350 điểm giao dịch.

Chỉ trong vòng 1 tháng, Ngân hàng Sài Gòn Thương Tín (Sacombank) liên tục khai trương thêm 21 điểm giao dịch.

Cụ thể, từ 27/11 đến 28/12, 5 chi nhánh và 16 phòng giao dịch của Sacombank sẽ lần lượt đi vào hoạt động tại các tỉnh Quảng Ninh, Quảng Ngãi, Hà Nội, Tp.HCM… Theo đó, Sacombank tiếp tục dẫn đầu khối ngân hàng cổ phần về mạng lưới hoạt động với 211 điểm giao dịch tại 44/64 tỉnh thành.

Cũng trong tháng 12/2007, Sacombank sẽ khai trương văn phòng đại diện tại Trung Quốc nhằm thiết lập cầu nối tài chính và quan hệ hợp tác giữa các doanh nghiệp hai nước Việt – Trung. Đây là bước khởi đầu cho kế hoạch mở rộng mạng lưới hoạt động của Sacombank tại các nước cận biên như Lào, Campuchia và Trung Quốc.

Dự kiến đến năm 2010, Sacombank sẽ hoàn thành việc phủ kín mạng lưới hoạt động tại tất cả các tỉnh thành trong cả nước với khoảng 350 điểm giao dịch.

Manulife – Công ty bảo hiểm nhân thọ xuất sắc năm 2007

Tập đoàn Manulife vừa nhận danh hiệu Công ty bảo hiểm nhân thọ xuất sắc nhất của năm tại lễ trao giải Đánh giá Bảo hiểm châu Á năm 2007…

Manulife vừa khai trương Tòa nhà Manulife Plaza tại khu đô thị mới Phú Mỹ Hưng, Tp.HCM.

Tập đoàn Manulife vừa nhận danh hiệu Công ty bảo hiểm nhân thọ xuất sắc nhất của năm tại lễ trao giải Đánh giá Bảo hiểm châu Á năm 2007.

Theo Manulife, tính chuyên nghiệp, sáng tạo các sản phẩm mới và dịch vụ chăm sóc khách hàng của tập đoàn này là những thế mạnh được Ban giám khảo đề cao tại lễ trao giải vừa được tổ chức tại Hồng Kông (lần thứ 11).

Giải thưởng Đánh giá Bảo hiểm châu Á được thành lập nhằm mục đích công nhận và tôn vinh những thành tựu trong lĩnh vực bảo hiểm. Các ứng viên cho danh hiệu Công ty bảo hiểm nhân thọ của năm được đánh giá dựa trên kiến thức và hiểu biết sâu rộng của các công ty về các thị trường châu Á, tính nhạy bén đối với khách hàng, nhu cầu trước mắt của họ, và các chuẩn mực chuyên nghiệp nói chung.

Ngoài ra, để nhận được giải thưởng này, các công ty cũng phải thể hiện được tính năng lãnh đạo ngành, tính sáng tạo, chất lượng chăm sóc khách hàng cộng với cách thức quản lý tài chính tốt.

Manulife hiện hoạt động tại mười quốc gia và vùng lãnh thổ trên toàn châu Á với hơn 25 nghìn nhân viên, có mạng lưới phân phối bao gồm 50 thỏa thuận phân phối ký với các ngân hàng và công ty chứng khoán, phục vụ gần 5 triệu khách hàng trong khu vực.

Manulife có công ty bảo hiểm nhân thọ 100% vốn nước ngoài đầu tiên được cấp phép hoạt động tại Việt Nam (từ tháng 6/1999). Manulife Việt Nam hiện cung cấp dịch vụ tài chính cho hơn 300.000 khách hàng với mạng lưới hơn 3.500 đại lý.

Dầu thô giảm đóng góp vào ngân sách

Tỷ trọng thu từ dầu thô dự kiến giảm từ 23,8% năm 2007 xuống còn 19,3% ngân sách Nhà nước năm 2008…

Dự toán thu dầu thô năm 2008 là 65.600 tỷ đồng.

Ngày 28/11, Bộ Tài chính đã tổ chức hội nghị triển khai nghị quyết của Quốc hội về nhiệm vụ tài chính và dự toán ngân sách Nhà nước năm 2008.

Tại hội nghị, Thứ trưởng Bộ Tài chính Trần Văn Tá cho biết dự toán thu cân đối ngân sách Nhà nước năm 2008 là 323.000 tỷ đồng, tăng 12,2% so ước thực hiện năm 2007.

Trong đó, dự toán thu nội địa (không kể dầu thô) là 189.300 tỷ đồng, dự toán thu dầu thô là 65.600 tỷ đồng, dự toán thu cân đối ngân sách nhà nước từ hoạt động xuất nhập khẩu là 64.500 tỷ đồng, thu viện trợ không hoàn lại là 3.600 tỷ đồng.

Cơ cấu thu năm 2008 dự kiến stăng thu từ nội bộ nền kinh tế, giảm thu từ các nguồn chịu ảnh hưởng nhiều của yếu tố khách quan. Tỷ trọng thu nội địa trong tổng thu ngân sách Nhà nước tăng từ 53,8% trong dự toán năm 2007 lên 55,8% trong dự toán năm 2008.

Tỷ trọng thu tdầu thô dự kiến giảm từ 23,8% năm 2007 xuống còn 19,3% ngân sách Nhà nước năm 2008.

Theo Bộ Tài chính, dự toán chi ngân sách Nhà nước năm 2008 là 398.980 tỷ đồng, tăng 11,6% so với dự toán năm 2007. Cụ thể:

– Dự toán chi đầu tư phát triển là 99.730 tỷ đồng;

– Dự toán chi phát triển các sự nghiệp giáo dục – đào tạo và dạy nghề, y tế, văn hoá thông tin, xã hội, đảm bao an ninh – quốc phòng, quản lý nhà nước, Đảng, đoàn thể là 208.850 tỷ đồng;

– Dự toán bố trí điều chỉnh lương tối thiểu 540.000 đồng/tháng thực hiện từ 1/1/2008 là 28.400 tỷ đồng;

– Dự toán chi thực hiện các chương trình mục tiêu quốc gia, chương trình 135, dự án trồng mới 5 triệu ha rừng là 10.382 tỷ đồng;

– Dự toán chi trả viện trợ là 51.200 tỷ đồng;

– Dự phòng ngân sách 10.700 tỷ đồng

Chi cân đối ngân sách từng địa phương năm 2008 được xác định trên cơ sở dự toán thu ngân sách địa phương được hưởng theo phân cấp và số bổ sung từ ngân sách Trung ương đã được Quốc hội và Ủy ban Thường vụ Quốc hội quyết định.

“Mùa mua sắm” của “đại gia” vùng Vịnh

Theo tính toán của các chuyên gia, các nước vùng Vịnh đang đầu tư khoảng 4.000 tỷ USD trên khắp thế giới…

Với nền kinh tế trong nước không đủ lớn để hấp thụ nổi lượng vốn như vậy, các nhà đầu tư vùng Vịnh tất nhiên phải tìm cách đầu tư ra bên ngoài.

Ngày 27/11, cơ quan đầu tư Abu Dhabi (ADIA) của Các tiểu vương quốc Arab thống nhất (UAE) đã tuyên bố đầu tư 7,5 tỷ USD vào Citigroup. Theo các chuyên gia, động thái này có thể là dấu hiệu khởi động cho “mùa mua sắm” của vùng Vịnh ngay tại Phố Wall và các khu vực khác trên thế giới

Thừa tiền để đầu tư

Với sự tăng giá mạnh mẽ của dầu lửa trong 5 năm qua, dự trữ ngoại hối của các nước vùng Vịnh luôn ở trong tình trạng “bội thu”. Thống kê cho thấy, năm 2000, các nước thuộc Tổ chức Xuất khẩu dầu lửa (OPEC) thu về 243 tỷ USD từ hoạt động xuất khẩu dầu. Năm nay, chưa tính đến mức giá dầu vùn vụt tăng trong 2 tháng qua, con số này đã có thể đạt mức 688 tỷ USD.

Với nền kinh tế trong nước không đủ lớn để hấp thụ nổi lượng vốn như vậy, các nhà đầu tư vùng Vịnh tất nhiên phải tìm cách đầu tư ra bên ngoài. Theo tính toán của các chuyên gia, các nước vùng Vịnh đang đầu tư khoảng 4.000 tỷ USD trên khắp thế giới. Và với giá dầu đang ở ngưỡng cao như hiện nay, con số này sẽ còn tăng mạnh.

Các nhà đầu tư vùng Vịnh đang theo sát tình hình ở Mỹ, nơi các cổ phiếu ngân hàng đang lao dốc do ảnh hưởng của khủng hoảng trên thị trường tín chấp thứ cấp. Một giám đốc quỹ đầu tư giấu tên cho rằng, cuộc khủng hoảng tín dụng của Mỹ sẽ còn tiếp tục và như thế, các nhà đầu tư có thể mua được cổ phần với mức giá thậm chí còn rẻ hơn.

Tuy nhiên, thỏa thuận của Abu Dhabi với Citigroup cho thấy, các quỹ đầu tư vùng Vịnh sẽ chỉ chú ý đến các tổ chức tài chính lớn vào hàng blue-chip. “Những tổ chức tài chính này có thể gặp khó khăn vào thời điểm hiện tại nhưng họ là những tổ chức chất lượng cao. Bởi thế, khoảng cách địa lý không phải là một vấn đề”, Arif Nadvi, Giám đốc điều hành của Abraaj Capital, quỹ đầu tư cổ phần tư nhân có trụ sở ở Dubai nhận định.

Mặc dù các nước vùng Vịnh khá lo ngại về nền kinh tế Mỹ và khả năng đồng bạc xanh tiếp tục mất giá nghiêm trọng so với Euro, đối với ADIA, quỹ lợi ích quốc gia hiện nắm trong tay tài sản trị giá 875 tỷ USD, một ngân hàng đang gặp rắc rối như Citi dường như vẫn là “món hời”. Với khoản đầu tư 7,5 tỷ USD này, ADIA sẽ nắm 4,9% cổ phần của Citi, vượt qua cổ phần 3,6% của Hoàng tử Saudi Al Waleed bin Talal, người hiện tại là cổ đông lớn nhất của Citigroup.

Còn đối với Citigroup, khoản tiền này sẽ giúp cải thiện “sức khỏe” của tập đoàn khi mà bảng cân đối kế toán của tập đoàn liên tục xuất hiện những con số đáng ngại trong thời gian qua. Mặc dù vậy, việc Citigroup phải cầu cứu các “đại gia” vùng Vịnh cũng khiến các cổ đông khác của tập đoàn này lo lắng.

Đây không phải là lần đầu tiên Citigroup cần tới sự trợ giúp của vùng Vịnh. Năm 1991, ngân hàng này từng kêu gọi sự đầu tư của Hoàng tử Al Waleed. Vị hoàng tử này được coi là một ông chủ lắm yêu sách và sẵn sàng công khai xỉ vả các giám đốc của tập đoàn nếu ông muốn. Đặc biệt, mới đây, chính “ông chủ lớn” này đã “mở đường” cho việc “đẩy” CEO Charles Prince ra khỏi tập đoàn. Không chỉ có cổ phần ở Citigroup, Hoàng tử Walid còn có cổ phần ở một loạt các tập đoàn lớn khác ở Mỹ như News Corporation, Procter & Gamble, Hewlett-Packard, Pepsi, Time Warner và Walt Disney.

Từ những năm 1970, các nước vùng Vịnh đã đầu tư sang phương Tây, nhưng khi đó, họ chủ yếu đầu tư vào những tài sản an toàn với mức lợi nhuận thấp như mua trái phiếu Chính phủ Mỹ. Tuy nhiên, tình hình hiện nay đã khác. Huwvan Steenis, nhà phân tích ngân hàng của Morgan Stanley ở London, cho biết, các quỹ lợi ích quốc gia từ vùng Vịnh đang để mắt nhiều đến bất động sản, các tổ chức tài chính, các công ty môi giới chứng khoán, các công ty quản lý tài sản, đặc biệt là các quỹ phòng hộ và các công ty đầu tư cổ phần tư nhân.

Al Mubadala, một quỹ đầu tư khác của UAE, mới đây đã mua lại 7,5% cổ phần của Carlyle, một quỹ đầu tư cổ phần tư nhân lớn, với giá 1,35 tỷ USD và mua lại 8,1% cổ phần của hãng sản xuất chip AMD với giá 600 triệu USD.

Quỹ đầu tư Dubai International Capital của người đứng đầu Dubai cũng đã mua lại cổ phần của cả HSBC và công ty quản lý quỹ đầu tư Och-Ziff. Quỹ này cũng vừa cho biết đã mua lại cổ phần quan trọng tại hãng điện tử Sony của Nhật Bản. Trong khi đó, Sở Giao dịch Chứng khoán Dubai cũng đang đàm phán để mua lại 20% cổ phần của công ty hợp nhất giữa sàn Nasdaq và tập đoàn điều hành các thị trường chứng khoán ở Bắc Âu.

Thuận lợi lắm, rủi ro cũng nhiều

Theo dự đoán của Morgan Stanley, các tổ chức khác có thể đang nằm trong tầm ngắm của giới đầu tư vùng Vịnh là sàn giao dịch chứng khoán New York NYSE/Euronext, ngân hàng Deutsche Bank, quỹ phòng hộ Man Group có trụ sở tại London và ngân hàng UBS của Thụy Sỹ.

Tuy nhiên, chuyên gia Van Steenis cho rằng, do những rủi ro về xung đột chính trị hoặc sự can thiệp mạnh của các “ông chủ lớn”, lượng cổ phần được bán cho các nhà đầu tư sẽ chỉ ở mức hạn chế. Trong khi đó, nhiều nhà đầu tư vùng Vịnh cũng lo ngại về phản ứng chính trị có thể xảy ra ở Mỹ như đã xảy ra khi Dubai tìm cách mua lại một công ty vận hành cảng biển ở Mỹ.

Theo giới phân tích, những lo ngại như vậy sẽ hướng hoạt động đầu tư của các “ông lớn” này sang các khu vực khác, trong đó châu Âu là mục tiêu số một. Bà Dianan Farrell, Giám đốc Viện Nghiên cứu McKinsey Global, cho biết, lượng đầu tư của các nước vùng Vịnh đã đạt mức từ 3.400 đến 3.800 tỷ USD tính đến cuối năm 2006. Mỹ chiếm phần lớn lượng đầu tư này, nhưng ít nhất 25% lượng tiền này đã được đổ vào các nước châu Á, Trung Đông và Bắc Phi.

Các nhà kinh tế cho rằng, hoạt động đầu tư của các nước vùng Vịnh đã làm lợi cho nền kinh tế thế giới, chủ yếu thông qua việc tăng cường tính thanh khoản. Bên cạnh đó, những hoạt động này cũng giúp giữ lãi suất trên thế giới ở mức thấp. Theo bà Farrell, tiền đầu tư của các nước xuất khẩu dầu lửa giúp lãi suất đồng USD thấp hơn 0,75% so với mức lãi suất lẽ ra phải có của đồng tiền này, đem lại lợi ích cho người tiêu dùng Mỹ.

Tuy nhiên, hoạt động đầu tư của các nước vùng Vịnh cũng gây ra một số vấn đề, như các nền kinh tế tăng trưởng quá nóng và bong bóng tài sản ở ngay chính tại các nước này.

(Theo NYT, BusinessWeek)

USD đã mất giá 12% so với Euro

So với cùng kỳ năm trước, USD hiện đã giảm 11,8-12% so với Euro…

Tại New York, ngày 28/11 lúc mở cửa USD chỉ còn 1,4871 USD/Euro, giảm 1,9% so với hai tuần trước đó.

Hai tuần qua, USD đã tiếp tục giảm nhanh so với hầu hết các đồng tiền chủ chốt phương Tây, nhất là đối với Euro.

Tại New York, ngày 28/11 lúc mở cửa USD chỉ còn 1,4871 USD/Euro, giảm 1,9% so với hai tuần trước đó. So với cùng kỳ năm trước, USD hiện đã giảm 11,8-12% so với Euro.

Báo cáo mới nhất của FED cho thấy, thị trường bất động sản Mỹ suy giảm, điều kiện tín dụng thắt chặt và giá dầu thô tăng cao làm cho tăng trưởng kinh tế Mỹ năm 2008 chỉ đạt khoảng 1,8-2,5%, thấp hơn nhiều so với dự đoán 2,5-2,7% trước đó. 10 tháng đầu năm 2007 số nhà mới xây ở Mỹ đã giảm 6,6%, còn 1,178 triệu căn, tháng 10/07 con số này giảm tới 16,4%.

Thông báo mới của Citigroup về khoản thua lỗ 15 tỷ USD trong hai quý do liên quan tới thị trường cho vay cầm cố. Những nhân tố trên làm gia tăng dự đoán, FED sẽ buộc phải cắt giảm lãi suất vào tháng 12 tới.

6 quốc gia Arab đang có kế hoạch chấm dứt việc ổn định tỷ giá hối đoái đối với USD. Trung Quốc cũng có kế hoạch giảm tỷ lệ dự trữ bằng USD. Nhiều khả năng Ngân hàng Trung ương châu Âu (ECB) sẽ tiếp tục duy trì lãi suất cũ. Các nhà đầu tư có xu hướng tăng cường chuyển đổi từ USD sang các đồng tiền chủ chốt khác, nhất là sang Euro.

“Đang cố gắng giảm tốc độ tăng giá”

Bộ trưởng Bộ Tài chính Vũ Văn Ninh nói Chính phủ đang quyết liệt phấn đấu để chỉ số giá của năm 2008 dưới hai con số…

“Trên thực tế, việc giữ chỉ số giá dưới tăng trưởng là rất khó” – Ảnh: VNN.

Bộ trưởng Bộ Tài chính Vũ Văn Ninh nói Chính phủ đang quyết liệt phấn đấu để chỉ số giá của năm 2008 dưới hai con số.

>>Lạm phát cao nhất trong một thập kỷ

Theo Bộ trưởng, chỉ số giá của năm nay có đáng lo ngại? Ước tính của Bộ trưởng về chỉ số giá năm 2008?

Một mặt, Chính phủ điều chỉnh giá, một mặt vẫn phải đảm bảo những cân đối lớn, điều hành cung cầu hàng hoá. Trên thực tế, việc giữ chỉ số giá dưới tăng trưởng là rất khó. Vì sự tăng giá của các hàng hoá trên thế giới tác động đến rất nhiều nước trong đó có Việt Nam. Ở Trung Quốc, mặc dù tỷ trọng nhập khẩu/GDP chỉ có 29,8%, chỉ số giá dự báo đầu năm 4,5% nhưng bây giờ đã là 6,5%.

Trong khi đó, Việt Nam lại là nước nhập khẩu rất lớn. Hiện nay, tỷ trọng nhập khẩu/GDP của chúng ta khoảng 80%. Nếu chúng ta không nhập khẩu nguyên, nhiên vật liệu, không thu hút vốn đầu tư thì lại kìm hãm tăng trưởng.

Tăng trưởng của Việt Nam hiện nay dự báo là 8,5%, đây là mức tăng trưởng thực, tức là đã loại trừ trượt giá rồi. Giá cũng là một vấn đề nhưng không vì đó mà làm đảo lộn nền kinh tế của chúng ta, bởi vì thực chất nền kinh tế của chúng ta hiện nay đang tương đối vững chắc, phát triển tương đối bền vững. Đó là yếu tố rất quan trọng đảm bảo cân đối.

Trong cuộc nói chuyện ngày hôm qua, Chủ tịch Ngân hàng Thế giới đã nhận xét, Việt Nam có vấn đề về giá, nhưng chưa nguy hiểm cho nền kinh tế. Trong mối quan hệ giữa tăng trưởng và lạm phát, phải chấp nhận một mức độ nhất định nào đó để đảm bảo tăng trưởng.

Ngoài ra, Thủ tướng cũng đã chỉ đạo Cục Thống kê phải tính toán các số liệu sao cho phù hợp với chuẩn của quốc tế. Cách tính hiện nay của chúng ta vẫn chưa chuẩn. Chính phủ đang quyết liệt phấn đấu để chỉ số giá của năm 2008 dưới hai con số và cố gắng để chỉ số giá dưới tốc độ tăng trưởng kinh tế. Điều này đòi hỏi tất cả ngành, nghề, các địa phương phải cùng phấn đấu.

Ý kiến của Bộ trưởng về lộ trình giá hiện nay?

Lộ trình giá là rất quan trọng. Hiện nay, một số mặt hàng vẫn do Nhà nước định giá, trong khi các mức giá đó chưa phản ánh đúng giá trị của hàng hoá. Vì vậy, Chính phủ cần điều chỉnh từng bước lộ trình giá để nền kinh tế có thể hội nhập được, nhưng cũng tạo điều kiện để các doanh nghiệp có thể hạch toán lành mạnh.

Bộ trưởng có nhận xét gì về việc huy động các nguồn lực cho ngân sách Nhà nước của năm 2008?

Hiện nay, việc huy động ngân sách từ các thành phần kinh tế và từ các thị trường quốc tế là một nguồn lực lớn. Việt Nam đang đứng trước yêu cầu phát triển rất cao và đó cũng là cơ hội rất lớn. Vấn đề đặt ra là cần huy động đủ các nguồn lực để phát triển kinh tế, xã hội, giải quyết các vấn đề xã hội.

Tuy nhiên, vấn đề quan trọng hiện nay là khi huy động được nguồn lực rồi thì phải làm thế nào để nguồn lực đó phát huy hiệu quả. Vì thế, cần tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra, chống lãng phí, thực hành tiết kiệm, chống tham nhũng theo nghị quyết của Quốc hội. Đây được xem là một nhiệm vụ đầy thách thức.

Động lực đồng thời cũng là giải pháp chính là phải quyết liệt cải cách hành chính, làm thế nào để tăng cường kỷ cương trên tinh thần tạo điều kiện hết sức thuận lợi cho doanh nghiệp. Cái khó là vừa phải tạo điều kiện thuận lợi lại vừa phải quản lý thực tiễn. Đó là bài toán đặt ra cho ngành tài chính hiện nay.

Phương hưóng của Bộ Tài chính trong việc đẩy mạnh công tác thu thuế là gì, thưa Bộ trưởng?

Phương hướng của Bộ là đẩy mạnh thực hiện thu thuế, bổ sung và hướng dẫn việc thực hiện quản lý thuế, hướng dẫn về tổ chức, đăng ký dịch vụ, làm thủ tục về thuế, thực hiện công tác tuyên truyền hỗ trợ việc nộp thuế.

Ngoài ra, cần xây dựng kho dữ liệu thông tin về người nộp thuế, thông tin về quản lý thu thuế, thông tin liên quan về các ngành, phục vụ cho các công tác nghiệp vụ quản lý thuế. Đồng thời, phải thực hiện thu đúng chính sách, chế độ, quản lý các khoản nợ đọng thuế. Hiện nay, con số nợ đọng thuế được thống kê là rất cao, ảnh hưởng lớn đến nguồn thu ngân sách Nhà nước.