Giá vàng lại lên cao kỷ lục

Sau hơn một tuần thị trường đi xuống, giá vàng bắt đầu tăng trở lại và vượt đỉnh một cách mạnh mẽ vào sáng 29/9…

Vàng SJC tại Hà Nội còn lên đến 1,426 triệu đồng/chỉ.

Thị trường kim loại quý trong nước đã thiết lập kỷ lục mới, trên 1,42 triệu đồng/chỉ, sau khi giá thế giới bất ngờ leo lên mức cao nhất kể từ 1980 tới nay, trên 743 USD/oz.

Sau hơn một tuần thị trường đi xuống, giá vàng bắt đầu tăng trở lại và vượt đỉnh một cách mạnh mẽ vào sáng 29/9. Các loại vàng miếng ở Việt Nam đều leo qua ngưỡng 1,42 triệu đồng/chỉ, tăng trên dưới 20.000 đồng/chỉ so với hôm qua. Đặc biệt vàng SJC tại Hà Nội còn lên đến 1,426 triệu đồng/chỉ.

Sàn giao dịch New York (Mỹ) đóng cửa phiên giao dịch cuối tuần ở mức 743,10 USD/oz, tăng 11 USD so với hôm qua và cao hơn gần 10 USD so với đỉnh cao đạt được hôm 21/9. Các hợp đồng kỳ hạn giao tháng 12 còn chốt giá ở mức 750 USD, tăng 1,4%. Tính chung từ đầu năm tới nay, giá đã tăng 18%.

Diễn biến hai ngày qua xuất phát chủ yếu từ việc đồng USD tiếp tục yếu thế, sự bất ổn trên thị trường tài chính và giá dầu. Bên cạnh đó, nhu cầu về vàng vật chất ở châu Á tăng cao. Nhiều người bắt đầu nghĩ tới khả năng giá vàng leo lên 800 USD/ounce trước cuối năm.

Tuy nhiên, cũng có ý kiến cảnh báo thị trường đang trong thế mua vào quá nhiều, đến một lúc nào đó sẽ xảy ra tình trạng bán ra đồng loạt và kéo giá đi xuống.

Thi gan với vàng

Dấu ấn rõ nhất của đợt tăng giá vàng từ đầu tháng 9/2007 tới nay là giới đầu tư Việt Nam thu được lợi nhuận nhiều hơn thua lỗ…

Ghi nhận cho thấy, từ các tiệm vàng tư nhân đến các công ty lớn, những ngày gần đây mãi lực bán vàng khá yếu – Ảnh: SGTT.

Dấu ấn rõ nhất của đợt tăng giá vàng từ đầu tháng 9/2007 tới nay là giới đầu tư Việt Nam thu được lợi nhuận nhiều hơn thua lỗ.

Các ngân hàng kinh doanh vàng trên tài khoản đều có lời, còn những nhà đầu cơ tỏ ra có kinh nghiệm, bài bản hơn.

Lỳ

Ông Trương Công Nhơn, Phó tổng giám đốc Công ty Vàng bạc – Đá quý SJC, nhận xét sự thận trọng của nhà đầu tư thể hiện rõ hơn hẳn so với các đợt tăng giá trước đây. Tâm lý đua nhau mua vào lúc giá lên và đua nhau bán lúc giá xuống hầu như biến mất.

“Bây giờ dân đầu cơ vàng “đánh” trình độ lắm. Họ nắm thông tin, theo dõi sát tình hình thế giới và không ít người dự đoán tương đối chính xác đường đi của giá vàng” – ông Nhơn nói – “Giá lên là họ đổ ra bán kiếm lời. Giá càng lên, họ càng bán ra mạnh”.

Giám đốc phụ trách kinh doanh vàng của một ngân hàng lớn cụ thể hơn: “Các nhà đầu tư “lỳ” hơn, thi gan với vàng, chủ động, không đầu cơ giá lên mà đầu cơ giá xuống. Hiện tượng cắt lỗ (stoploss) không còn nhiều. Họ biết đâu là điểm dừng và một khi đã bán ra, họ không mua vào cho đến khi giá giao dịch thấp hơn giá họ đã bán”.

Ghi nhận cho thấy, từ các tiệm vàng tư nhân đến các công ty lớn, những ngày gần đây mãi lực bán vàng khá yếu. Tỷ lệ chung là mua vào 10 lượng, bán ra 3 lượng. Điều này đã tác động trở lại, khiến giá vàng trong nước thấp hơn giá thế giới khoảng 200.000 đồng/lượng. Doanh số bán ra của SJC chỉ bằng 60% của tháng trước. Trong khi đó xí nghiệp gia công vàng miếng của SJC đã tạm ngưng hoạt động từ ba tuần nay do không có nguyên liệu.

Các nguồn nhập vàng chính thức hiện nay đều đã ngừng nhập vì hai lý do. Thứ nhất, giá vàng quốc tế đã lên quá cao, có thể đổi chiều bất ngờ, nên nhập về không bán kịp sẽ lỗ. Thứ hai, giá vàng nội địa tiếp tục thấp hơn giá quốc tế, nhập về, chưa có thuế, đã lỗ rồi.

Trong chín tháng đầu năm 2007, SJC đã sản xuất hơn 800.000 lượng vàng bốn số chín, tương đương 30 tấn, bằng cỡ một nửa của năm ngoái là 1,6 triệu lượng.

Ngân hàng “thắng” đậm

Cả nước hiện có khoảng mười ngân hàng và doanh nghiệp được phép kinh doanh vàng trên tài khoản, trong đó nổi lên hai gương mặt là SJC và Công ty Vàng bạc Đá quý của Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn.

Vừa qua khi giá vàng tăng mạnh, các ngân hàng án binh bất động, một phần vì một số rút kinh nghiệm thua lỗ từ các đợt đầu cơ vàng những năm trước, phần khác vì trạng thái mua bán vàng của họ đã đầy. Theo quy định của Ngân hàng Nhà nước, trạng thái vàng của một tổ chức tín dụng (bao gồm cả vàng trên tài khoản và vàng vật chất) tối đa không quá 20% vốn tự có.

Đối với vàng huy động từ dân cư, các ngân hàng có thể bán vàng huy động, lấy tiền đồng trong trường hợp họ đã đặt mua vàng, nhưng vàng chưa về kịp. Tuy nhiên số lượng vàng huy động được họ bán tối đa không quá 30% tổng lượng vàng huy động.

Con số 30% nói trên là một tỷ lệ khá uyển chuyển nếu biết rằng lượng vàng huy động của ngân hàng hiện khá cao. Ở ngân hàng A có thời điểm vàng huy động lên đến nửa triệu lượng. Ở các tổ chức tín dụng hạng trung khác, lượng vàng huy động dao động từ 100.000-150.000 lượng/ngân hàng tùy thời điểm.

Nếu các ngân hàng đầu cơ, cùng bán ra vàng huy động khi giá cao, và hy vọng mua vào để bù đắp khi giá giảm, thì giá vàng trong nước có thể tụt nhanh và mạnh. Năm trước đã có trường hợp ngân hàng lỗ nặng vì kinh doanh vàng huy động.

Song tình hình năm nay đã thay đổi. Để tránh rủi ro, các ngân hàng chỉ kinh doanh vàng trong nước, hưởng chênh lệch giá mua bán và thu phí môi giới đối với các tổ chức, cá nhân kinh doanh vàng trên tài khoản. Với một số ngân hàng, lợi nhuận ròng từ kinh doanh vàng hiện chiếm 10-20% lợi nhuận trong ba quí đầu năm.

Chẳng hạn ở ngân hàng A, lợi nhuận từ vàng từ đầu năm đến nay đã hơn 100 tỉ đồng. Ở ngân hàng E, lợi nhuận chín tháng đầu năm xấp xỉ 450 tỉ đồng, thì từ kinh doanh vàng chiếm 18%, tức hơn 80 tỉ đồng.

Điều đáng nói là bộ phận kinh doanh vàng của nhiều ngân hàng đang trở nên ngày một chuyên nghiệp. Ở Ngân hàng Thương mại Cổ phần Sài Gòn (SCB), từ nhiều tháng nay, bản tin về vàng, ngoại tệ, có kèm phân tích, dự báo được phát miễn phí đều đặn cho khách hàng mỗi buổi sáng. Ở một số ngân hàng khác, khách hàng có thể theo dõi giá vàng thế giới biến động từng giây qua màn hình Reuters.

Một điểm quan tâm khác là hiện số lượng khách hàng đến ngân hàng để kinh doanh vàng tăng mạnh, trên giấy tờ họ chủ yếu là cá nhân. Song giới đầu tư biết rõ rằng có không ít tổ chức kinh doanh vàng đứng tên cá nhân để tránh thuế. Cá nhân kinh doanh quyền lựa chọn vàng (option vàng) không phải đóng thuế, nhưng tổ chức thì phải nộp 10% thuế VAT và 28% thuế thu nhập doanh nghiệp.

Mức thuế đó quả là quá cao, nên một số đơn vị không thể không lách nếu có điều kiện.

Chỉnh lý 4 dự luật mới

Dự luật Thuế thu nhập cá nhân một lần nữa vừa được Ủy ban Thường vụ Quốc hội đưa ra thảo luận, chỉnh lý nội dung…

Điểm mới của Dự luật Thuế thu nhập cá nhân lần này là quy định về giảm trừ gia cảnh cho người nộp thuế và người phụ thuộc mà người nộp thuế có trách nhiệm nuôi dưỡng.

Dự luật Thuế thu nhập cá nhân một lần nữa vừa được Ủy ban Thường vụ Quốc hội đưa ra thảo luận, chỉnh lý nội dung sau nhiều đợt lấy ý kiến rộng rãi các cấp, các ngành và nhân dân.

Tuy nhiên, trong cuộc họp vẫn tồn tại khá nhiều luồng ý kiến khác nhau, thậm chí trái chiều đối với một số quy định trong dự luật như đối tượng chịu thuế, mức giảm trừ gia cảnh, biểu thuế, biện pháp quản lý thu thuế…

Điểm mới của dự luật lần này là quy định về giảm trừ gia cảnh cho người nộp thuế và người phụ thuộc mà người nộp thuế có trách nhiệm nuôi dưỡng. Mức giảm trừ gia cảnh này là khoản tiền được trừ khỏi thu nhập chịu thuế trước khi tính thuế đối với thu nhập từ hoạt động sản xuất, kinh doanh, tiền lương và tiền công.

Các quy định về đối tượng nộp thuế, các khoản thu nhập chịu thuế và không phải chịu thuế, biểu thuế…, cũng đã được Ban soạn thảo chỉnh lý trên cơ sở ý kiến đóng góp của nhân dân.

Về đối tượng nộp thuế, có ý kiến đề nghị không đưa đối tượng là hộ kinh doanh vào diện điều chỉnh của Luật, hoặc phải làm rõ việc xác định thu nhập chịu thuế của cá nhân trong trường hợp nhiều người trong cùng hộ kinh doanh. Thậm chí, có ý kiến đề nghị làm rõ trường hợp thu nhập của các thành viên công ty hợp doanh vì loại hình doanh nghiệp này cơ bản giống như góp vốn tham gia kinh doanh.

Tương tự, đa số đề nghị cần quy định chi tiết, cụ thể và minh bạch hơn 9 khoản thu nhập chịu thuế trong Dự luật theo hướng trong mỗi loại thu nhập cần có nội dung chi tiết theo từng nhóm khác nhau.

Các khoản thu nhập không chịu thuế cũng được đề nghị chỉnh lý theo hướng chuyển một số khoản sang diện “miễn thuế” để cá nhân để Nhà nước nắm được thông tin kê khai, phục vụ công tác quản lý, cho trừ vào thu nhập trước khi tính thuế đối với các khoản đóng góp từ thiện, bỏ quy định không thu thuế đối với thu nhập từ chuyển nhượng nhà ở, quyền sử dụng đất ở của cá nhân có quyền sở hữu, sử dụng từ 5 năm trở lên.

Đặc biệt, có ý kiến đề nghị cân nhắc các khoản thuế có khả năng đánh trùng thuế, cũng như quy định không thu thuế đối với lương hưu, thu nhập kiều hối.Vấn đề được quan tâm nhất là quy định mức giảm trừ gia cảnh (thu nhập vượt trên ngưỡng nhất định) vẫn tiếp tục nhận được nhiều luồng ý kiến khác nhau.

Hiện có tới 5 đề nghị mức thu nhập này là: 2-3 triệu đồng, 4 triệu, theo tỷ lệ phần trăm hoặc số lần trên lương tối thiểu, không áp dụng mức giảm trừ gia cảnh mà thu thuế từ đồng thu nhập đầu tiên với thuế suất 0% hoặc 1-2%, cá biệt có đề nghị nâng mức này lên khoảng 15 triệu để đảm bảo mức sống sung túc, thậm chí đủ cho con đi học ở nước ngoài.

Tuy nhiên, ý kiến chung đều cho rằng mức giảm trừ 4 triệu đồng/tháng là hợp lý nếu so với lộ trình cải cách tiền lương, tổng sản phẩm quốc nội và thu nhập của dân cư.Về biểu thuế, đa số đều tán thành thống nhất nghĩa vụ thuế giữa người Việt Nam và nước ngoài, giữa người kinh doanh và hưởng lương. Biểu thuế được thiết kế theo hướng cơ bản không làm tăng thêm mức động viên đối với các đối tượng đang nộp thuế theo pháp luật hiện hành.

Về chi tiết, hiện có 2 biểu thuế được đưa ra là biểu thuế lũy tiến từng phần áp dụng với thu nhập từ tiền lương, tiền công, thu nhập từ sản xuất kinh doanh và biểu thuế toàn phần áp dụng đối với các loại thu nhập chịu thuế khác. Tuy nhiên, mỗi biểu thuế đang có nhiều kiến nghị khác nhau, ví dụ như thiết kế mức động viên thấp hơn, giảm 7 bậc xuống còn 5 bậc,…

Cũng trong ngày, Ủy ban Thường vụ Quốc hội cũng cho ý kiến về Dự luật Chất lượng sản phẩm, hàng hóa với điểm mới là đã tách tổ chức giám định ra khỏi cơ quan kiểm tra chất lượng sản phẩm, hàng hóa nhằm bảo đảm tính công khai, minh bạch, đồng thời xây dựng cơ chế, định chế kiểm tra, giám sát đối với các tổ chức giám định và Nhà nước chỉ quản lý chất lượng ở góc độ bảo đảm an toàn cho sức khỏe con người, động thực vật, tài sản và môi trường, còn tiêu chuẩn chất lượng cụ thể sẽ do doanh nghiệp, nhà sản xuất đăng ký với các cơ quan chức năng.

Báo cáo giải trình tiếp thu và chỉnh lý Dự án Luật Hóa chất đã tán thành một phạm vi điều chỉnh khá rộng về hoạt động hóa chất; an toàn trong hoạt động hóa chất; quyền và nghĩa vụ của tổ chức, cá nhân tham gia hoạt động hóa chất và quản lý nhà nước về hoạt động hóa chất.

Dự thảo Luật cũng đã quy định khá toàn diện về bảo đảm an toàn trong sản xuất kinh doanh hóa chất khi kịp thời bổ sung các quy định về cất giữ hóa chất nguy hiểm dùng trong sản xuất sản phẩm hàng hóa và tiêu dùng; cung cấp thông tin về hóa chất độc, hóa chất nguy hiểm; kế hoạch, lực lượng, trang bị phòng ngừa, ứng phó và thẩm quyền phê duyệt kế hoạch phòng ngừa, ứng phó sự cố hóa chất…

Dự thảo Luật Năng lượng nguyên tử được trình với quan điểm: chỉ ứng dụng và phát triển năng lượng nguyên tử vì mục đích hòa bình, là giải pháp quan trọng bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia…

Vay vốn du học: Một dịch vụ đối phó?

Người vay du học liên tục tăng mỗi năm. Thế nhưng số người thật sự vay tiền cho mục đích đi du học lại không nhiều…

Khách hàng giao dịch vay tiền cho con du học tại Ngân hàng Á Châu.

Hàng loạt ngân hàng lớn, nhỏ đã tham gia lĩnh vực cho vay du học. Khách hàng liên tục tăng mỗi năm. Thế nhưng số người thật sự vay tiền cho mục đích đi du học lại không nhiều. Tại sao?

Thủ tục cho vay du học ở các ngân hàng tương đối giống nhau. Trong đó người được vay vốn là cha, mẹ, vợ chồng, anh chị em, người đỡ đầu, người giám hộ của du học sinh có nhu cầu vay vốn. Một vài ngân hàng như Ngân hàng Quân đội (MB) còn cho du học sinh vay.

“Trăm hoa đua nở”

Được nhiều phụ huynh, học sinh biết đến là dịch vụ cho vay du học của Ngân hàng Á Châu (ACB), thực hiện với ba hình thức: ký quĩ du học, cấp hạn mức tín dụng du học và vay thanh toán chi phí du học. Theo đó, ký quĩ du học là hình thức vay vốn để mở sổ tiết kiệm hoặc tài khoản nhằm mục đích chứng minh tài chính để xin visa tại các cơ quan xét cấp visa.

Cấp hạn mức tín dụng du học dành cho những người có nhu cầu sử dụng vốn vay trong một khoảng thời gian nhất định, để chứng minh tài chính xin xét cấp visa và thanh toán chi phí học trong suốt thời gian học tập tại nước ngoài. Vay thanh toán chi phí du học là để thanh toán toàn bộ chi phí đi học bao gồm học phí, sinh hoạt phí và các chi phí khác phát sinh theo từng năm học.

Ngân hàng Xuất nhập khẩu Việt Nam (Eximbank) giới thiệu hai hình thức cho vay là cho vay thanh toán chi phí du học và cho vay chứng minh tài chính. Mỗi hình thức vay đều có mức lãi suất cụ thể, áp dụng cho từng thời hạn vay dài hạn, ngắn hạn khác nhau.

Với Ngân hàng Công thương (Incombank), từ giữa năm 2004, Sở giao dịch 2 của ngân hàng này đã ký kết thỏa thuận hợp tác với các công ty tư vấn du học để phát triển dịch vụ cho vay du học. Trong đó, sản phẩm cũng là cho vay thanh toán chi phí và vay chứng minh tài chính.

Nhiều ngân hàng đang đẩy mạnh dịch vụ này nhằm thu hút những gia đình có con em đi du học đến với mình thông qua việc kéo dài thời hạn vay hay ưu đãi lãi suất.

Chẳng hạn như Ngân hàng Á Châu, Ngân hàng Phương Nam… có thời gian vay đến 10 năm với mức cho vay bằng 100% chi phí của du học sinh; Ngân hàng Phương Đông cho vay căn cứ trên khả năng trả nợ của khách hàng nhưng tối đa là năm năm.

Thời hạn vay dưới… ba ngày!

Điều đáng chú ý là ở hầu hết các ngân hàng, bên cạnh hình thức cho vay thanh toán chi phí luôn tồn tại hình thức cho vay chứng minh tài chính. Dù với tên gọi nào, hình thức vay này cũng chỉ là một cách mở sổ tiết kiệm hoặc tài khoản nhằm chứng minh tài chính để xin visa.

Một cán bộ tín dụng Ngân hàng X. giải thích: đây là cách mà ngân hàng sẽ mở sổ tiết kiệm để thân nhân cầm cuốn sổ này bổ sung vào hồ sơ xin visa với một số tiền có khi rất lớn. Trong khi đó, tài khoản được thể hiện trong cuốn sổ đó đã bị ngân hàng phong tỏa ngay sau khi làm xong. Và trên thực tế, hình thức vay này thật ra lại chẳng vay gì!

Điều này dễ được nhận thấy khi có một vài ngân hàng còn đưa ra thời hạn cho vay dưới… ba ngày. Tuy nhiên, đây lại là hình thức “làm ăn được” của các ngân hàng. Ông Trần Phạm Phú Khanh, trưởng bộ phận tín dụng có thế chấp khối khách hàng cá nhân Ngân hàng Á Châu, cho biết khách hàng vay vốn du học của ngân hàng chủ yếu theo hai dịch vụ ký quĩ du học và cấp hạn mức tín dụng. Số gia đình có nhu cầu vay vốn để trang trải cho các chi phí du học không nhiều.

Ông Đ. – giám đốc một công ty tư vấn đã từng làm thủ tục cho khá nhiều du học sinh – thống kê trong tất cả du học sinh đi du học làm thủ tục thông qua công ty ông, chưa có trường hợp nào vay vốn để trang trải chi phí. Những trường hợp sử dụng dịch vụ của ngân hàng đều là vay chứng minh tài chính!

Trong nhiều trường hợp, phụ huynh chỉ phải tìm đến dịch vụ của ngân hàng khi cần được trợ giúp để hoàn thành thêm thủ tục theo qui định của cơ quan xét cấp visa. Theo giám đốc một công ty nhiều năm hoạt động trong lĩnh vực tư vấn du học, cũng có không ít trường hợp đã lợi dụng dịch vụ này để gian lận, đối phó nhằm qua mặt các viên chức phỏng vấn xét visa để rồi sau đó khiến con em bị hụt hẫng, bơ vơ chỉ vì thiếu tiền ăn học.

* 70% là tỉ lệ ước tính số khách hàng đi vay để chứng minh tài chính trong tổng số khách hàng sử dụng dịch vụ cho vay du học.

Đấu giá công khai 6,5% vốn điều lệ Vietcombank

Chỉ có 6,5% vốn điều lệ của Ngân hàng Ngoại thương (Vietcombank) được đầu giá công khai trong nước…

Khối lượng cổ phần Vietcombank phát hành cho nhà đầu tư trong nước (ngoài cổ đông chiến lược và cán bộ nhân viên) là phần nhỏ – Ảnh: Việt Tuấn.

Chỉ có 6,5% vốn điều lệ của Ngân hàng Ngoại thương (Vietcombank) được đầu giá công khai trong nước.

Đây là tỷ lệ được xác định từ Quyết định số 1289/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về phê duyệt phương án cổ phần hóa Vietcombank, ký ngày 26/9/2007.

Giữ nguyên vốn nhà nước

Giá trị phần vốn nhà nước tại Vietcombank theo sổ sách kế toán tại thời điểm 31/12/2006 đã được kiểm toán năm 2006 là 11.127.248 triệu đồng (mười một triệu một trăm hai mươi bảy nghìn hai trăm bốn mươi tám triệu đồng). Cơ quan đại diện chủ sở hữu phần vốn nhà nước tại Vietcombank sau cổ phần hóa là Tổng công ty Đầu tư và Kinh doanh vốn nhà nước (SCIC).

Ngoài áp dụng các phương pháp quốc tế trong xác định giá trị doanh nghiệp, Vietcombank thực hiện các bước xử lý tài chính, xác định giá trị quyền sử dụng đất và hình thức sử dụng đất sau cổ phần hoá, đánh giá tài sản khác…, kết hợp với kết quả xác định giá trị doanh nghiệp của tổ chức tư vấn cổ phần hoá và định giá nước ngoài; đồng thời căn cứ tình hình cung cầu thị trường và các yếu tố khác tại thời điểm trước khi bán đấu giá cổ phần lần đầu để báo cáo Thủ tướng Chính phủ về giá khởi điểm, công bố giá trị doanh nghiệp và phần vốn nhà nước tại doanh nghiệp theo số đánh giá lại.

Hình thức cổ phần hoá được xác định là giữ nguyên vốn nhà nước hiện có tại Vietcombank, phát hành cổ phiếu thu hút thêm vốn theo nguyên tắc nhà nước nắm giữ cổ phần chi phối, qua nhiều giai đoạn với tỷ lệ vốn nhà nước giảm dần nhưng không thấp hơn 51% vốn điều lệ.

Cơ cấu phát hành

Theo quyết định trên, vốn điều lệ của Vietcombank là 15.000.000.000.000 đồng (mười lăm nghìn tỷ đồng).

Trong giai đoạn 1, tổng khối lượng phát hành trong đợt đầu là 30% vốn điều lệ, trong đó cổ phần bán đấu giá công khai trong nước là 6,5% vốn điều lệ; cổ phần bán ưu đãi cho cán bộ, công nhân viên và cho các đối tượng nắm giữ trái phiếu tăng vốn là 3,5 % vốn điều lệ; cổ phần bán cho nhà đầu tư chiến lược trong nước là 5% vốn điều lệ; cổ phần bán cho nhà đầu tư chiến lược nước ngoài tối đa không quá 20% vốn điều lệ.

Trong giai đoạn 2, Vietcombank sẽ phát hành và niêm yết tại nước ngoài nhưng tỷ lệ không vượt quá 15% vốn điều lệ.

Như vậy, tỷ lệ bán đấu giá công khai trong nước là 6,5%, thay vì 10% theo một số dự đoán trước đây. Với tỷ lệ 6,5%, một số ý kiến cho rằng khi đưa ra đấu giá công khai, kết quả khó phản ánh đúng phần lớn còn lại.

Nếu xét tổng thể của khối lượng phát hành, dự kiến sẽ có khoảng 35% thuộc về nhà đầu tư nước ngoài (gồm đối tác chiến lược và niêm yết quốc tế), trong khi tỷ lệ sở hữu của nhà nước không thấp hơn 51%; trừ cả phần bán cho cán bộ công nhân viên, đối tác chiến lược trong nước, “miếng bánh” dành cho nhà đầu tư trong nước khá hạn chế, trong khi cổ phiếu Vietcombank được đánh giá là hấp dẫn.

Chọn nhà đầu tư chiến lược như thế nào?

Đối với nhà đầu tư chiến lược nước ngoài, theo phương án đã được phê duyệt, tiêu chí đặt ra phải là các tổ chức tài chính có quy mô và năng lực tài chính tầm cỡ quốc tế hoặc khu vực; có kinh nghiệm đầu tư thành công tại khu vực; có chiến lược và văn hóa kinh doanh phù hợp; có chuyên môn, có kinh nghiệm và chuyên nghiệp trong cùng lĩnh vực hoạt động và đảm bảo không có xung đột về lợi ích với chiến lược phát triển của Vietcombank sau cổ phần hóa.

Vietcombank sẽ có tối đa không quá 2 nhà đầu tư chiến lược nước ngoài. Việc lựa chọn sẽ theo quy định của pháp luật và trình Thủ tướng Chính phủ quyết định. Việc lựa chọn nhà đầu tư chiến lược thực hiện trước khi bán đấu giá cổ phần lần đầu.

Nhà đầu tư chiến lược được tham gia trong cơ cấu tổ chức quản lý Vietcombank sau cổ phần hóa theo quy định của pháp luật.

Với nhà đầu tư chiến lược trong nước, đối tượng lựa chọn là các đối tác hoặc bạn hàng truyền thống.

Nhà đầu tư chiến lược phải cam kết đầu tư dài hạn, không được chuyển nhượng cổ phần trong thời gian ít nhất là 5 năm, kể từ ngày Ngân hàng Thương mại Cổ phần Ngoại thương Việt Nam được cấp Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh.

Việc bán cổ phần cho các nhà đầu tư chiến lược thực hiện theo đúng quy định tại Nghị định số 109/2007/NĐ-CP ngày 26/6/2007 của Chính phủ về chuyển doanh nghiệp 100% vốn nhà nước thành công ty cổ phần.

Đối với nguồn vốn thặng dư sau khi bán cổ phần, Vietcombank được quản lý một phần tiền thu được từ cổ phần hóa để đầu tư vào các công trình kết cấu hạ tầng trọng điểm của nhà nước theo quyết định của Thủ tướng Chính phủ. Tỷ lệ cụ thể do Thủ tướng quyết định sau khi hoàn thành cổ phần hóa.

Trong tháng 10/2007, Vietcombank sẽ trình Thủ tướng Chính phủ quyết định danh sách các nhà đầu tư chiến lược và giá khởi điểm cổ phiếu.

Có thể đánh thuế cổ tức từ cổ đông ngoài công ty

Phiên họp của Ủy ban Thường vụ Quốc hội chiều 26/9 được hâm nóng bởi Dự thảo Luật thuế thu nhập cá nhân…

Đưa cổ tức vào diện chịu thuế thu nhập cá nhân đã được nhiều nước trên thế giới đã áp dụng thành công.

Phiên họp của Ủy ban Thường vụ Quốc hội chiều 26/9 được hâm nóng bởi Dự thảo Luật thuế thu nhập cá nhân.

Đa số ý kiến đại biểu đề xuất đánh thuế cổ tức đối với các cổ đông bên ngoài và miễn khoản thu nhập này cho cán bộ công nhân viên trong công ty.

Đề nghị đưa cổ tức vào diện chịu thuế thu nhập cá nhân được Bộ Tài chính khẳng định là khả thi mà nhiều nước trên thế giới đã áp dụng thành công. Tuy nhiên, khi đưa vấn đề này ra bàn luận trước Ủy ban Thường vụ Quốc hội chiều 26/9 vẫn vấp phải nhiều ý kiến phản đối.

Chủ nhiệm Ủy ban Văn hóa giáo dục Quốc hội Đào Trọng Thi cho rằng việc đánh thuế đối với cổ tức cần phải xem xét dưới nhiều khía cạnh. Trong đó, Ban soạn thảo cần phân biệt rõ hai loại lợi tức cổ phiếu từ các cổ đông ngoài công ty và của cá nhân trong doanh nghiệp.

Vẫn theo ông Đào Trọng Thi, cán bộ công nhân là đối tượng trực tiếp tạo ra lợi nhuận cho công ty và đóng góp một phần trách nhiệm trong việc thực hiện nghĩa vụ thuế thu nhập doanh nghiệp đối với Nhà nước, để trả công họ, doanh nghiệp trích ra một lượng cổ phiếu và bán cho họ với giá ưu đãi.

“Thật vô lý khi khoản thu nhập ít ỏi từ lãi cổ phiếu (cổ tức) này lại bị đánh thuế. Tôi yêu cầu Chính phủ làm rõ việc đánh thuế như vậy có hợp lý không?”, ông Thi thẳng thắn đặt câu hỏi.

Đồng tình với quan điểm này, Chủ tịch Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam Đặng Ngọc Tùng đề nghị chỉ nên đánh thuế cổ tức đối với các cổ đông ngoài công ty và những người giữ trong tay nhiều cổ phiếu. Bên cạnh đó, Chính phủ cần xem xét đánh thuế theo bậc thang với loại thu nhập này, những cổ đông chiến lược, những cá nhân nắm trong tay nhiều cổ phiếu bị đánh thuế cao hơn so với những người làm công ăn lương bình thường.

Theo dự thảo Luật, các loại thu nhập nằm trong diện chịu thuế gồm thu nhập từ kinh doanh (hàng hóa dịch vụ, cho thuê tài sản, hành nghề độc lập…); thu nhập từ tiền lương, tiền công, thù lao; thu nhập từ đầu tư vốn, thu nhập từ chuyển nhượng vốn (chuyển nhượng chứng khoán, phần vốn và các hình thức khác); thu nhập từ chuyển nhượng bất động sản (quyền sử dụng đất, tài sản, chuyển nhượng quyền thuê mặt bằng, mặt nước…

Ngoài ra, các khoản thu nhập vượt trên 10 triệu đồng/lần phát sinh từ trúng thưởng xổ số, trúng thưởng trong các hình thức khuyến mại, trò chơi có thưởng, thu nhập từ tiền bản quyền, từ thừa kế, quà tặng… cũng nằm trong diện chịu thuế thu nhập.

Luật chỉ “nắm người có tóc”

Điểm mới của dự thảo luật lần này là các khoản thu nhập từ tiền công được quy định chi tiết gồm cả lương ca 3, làm thêm giờ, lương tháng 13, tiền thưởng và các khoản trợ cấp khác… đều nằm trong diện phải chịu thuế thu nhập. Tuy nhiên, đây cũng là vấn đề khiến nhiều đại biểu quan tâm nhất.

Đại biểu Đặng Ngọc Tùng đề nghị chưa đánh thuế đối với khoản thu nhập này vì người lao động vất cả năm mới được hưởng tháng lương thứ 13… lý do gì lại bắt họ đóng thuế. Doanh nghiệp đưa ra khoản thu nhập này cũng nhằm khuyến khích người lao động phấn khởi làm việc.

“Người lao động cực chẳng đã họ mới phải làm thêm, làm tăng ca để có thêm thu nhập đảm bảo cuộc sống, nếu đánh thuế thì còn ai muốn đi làm thêm”, ông Tùng nói.

Điều khiến vị Chủ tịch Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam băn khoăn là hiện nay, việc thu thuế đối với những người làm công ăn lương thì rất dễ vị họ chịu quản lý của doanh nghiệp. Còn các khoản của lãnh đạo tập đoàn, quan chức hay các ông chủ thì “chỉ có trời mới biết”. Đây cũng là lý do khiến nhiều đại biểu đặt câu hỏi phải chăng Luật chỉ nắm được những “người có tóc”.

Phó chủ tịch Quốc hội Uông Chu Lưu nhấn mạnh: “Mỗi năm, lượng kiều hối chảy về Việt Nam không ngừng tăng lên, thế nhưng nguồn thu này không phải đóng thuế trong khi khoản tiền làm thêm của người lao động lại phải đóng thuế. Ông Lưu yêu cầu Chính phủ phải làm rõ tại sao các khoản thu nhập từ kiều hối, chuyển nhượng nhà ở, thừa kế lại được miễn thuế.

Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Nguyễn Văn Giàu băn khoăn nếu tính theo hệ số tiền lương hiện nay, hầu hết lãnh đạo tỉnh ủy, thậm chí cả Bộ trưởng, cũng chưa thuộc diện chịu thuế thu nhập. Chẳng hạn hệ số tiền lương của một Bí thư tỉnh ủy là 4,3 thì mức lương chưa đến 2 triệu đồng – chưa thuộc diện chịu thuế… Còn với lương cơ bản thì hệ số 9,2 của Bộ trưởng cũng chưa thuộc diện đánh thuế thu nhập.

Bộ trưởng Tài chính Vũ Văn Ninh cho rằng nếu nói Luật thuế thu nhập cá nhân bỏ qua các chức danh bộ trưởng, lãnh đạo các tỉnh ủy… là không có cơ sở. Thuế đánh vào tổng thu nhập của cá nhân trong một năm gồm cả tiền thưởng và các khoản thu khác chứ không chỉ đơn giản là đồng lương tính theo hệ số.

“Bản chất thuế là công bằng đánh vào những người có thu nhập, nếu có thu nhập cao mà không đóng góp một phần nghĩa vụ của mình đối với Nhà nước là vô lý”, ông Ninh nói.

Đối với các khoản thu nhập từ tiền thưởng, lương thứ 13… cũng được quyết toán theo năm và dựa vào mức bình quân chứ không đánh trực tiếp vào khoản thu nhập ấy. “Nếu so với Nghị định thuế thu nhập cao hiện hành thì Dự án Luật mới, cá nhân sẽ đóng thuế ít hơn vì có cả khoản triết trừ gia cảnh”, Bộ trưởng Vũ Văn Ninh phát biểu.

Phó chủ tịch Ủy ban Thường vụ Quốc hội Nguyễn Đức Kiên cũng cho rằng bản chất của Luật thuế là đánh vào đồng thu nhập đầu tiên của người lao động, tuy nhiên, thu nhập của đại bộ phận người dân Việt Nam vẫn còn thấp nên Ban soạn thảo tính toán rất kỹ đến các khoản triết trừ gia cảnh. Thậm chí, những người làm luật còn tính cả đến tốc độ trượt giá trong vòng 3 năm khi dự án Luật có hiệu lực năm 2009.

“Còn việc đánh thuế đối với cổ tức và thu nhập từ tiền thưởng, làm thêm giờ, lương tháng 13… chúng tôi sẽ tiếp tục xem xét điều chỉnh cho đến khi hoàn thành bản dự thảo mới vào tháng 10 tới”, ông Kiên nói.

Triển khai Luật Thuế thu nhập cá nhân: “Dân vẫn lo tính khả thi!”

Bà Lê Hồng Hải, Phó tổng cục trưởng Tổng cục Thuế (Bộ Tài chính) cho biết như vậy trong cuộc trao đổi với VnEconomy…

Theo kế hoạch, tới 1/1/2009, Luật Thuế thu nhập cá nhân mới chính thức có hiệu lực áp dụng

Bà Lê Hồng Hải, Phó tổng cục trưởng Tổng cục Thuế (Bộ Tài chính) cho biết như vậy trong cuộc trao đổi với VnEconomy.

Bà nói:

Theo kế hoạch cuối năm nay Quốc hội sẽ xem xét và thông qua Luật Thuế thu nhập cá nhân, tuy nhiên do cần có thời gian thực hiện nên tới 1/1/2009, luật mới chính thức có hiệu lực áp dụng.

Để chuẩn bị thực hiện Luật Thuế thu nhập cá nhân, ngành thuế đã có những bước triển khai ngay từ bây giờ. Tới đây, sau khi luật được thông qua, Tổng cục Thuế và Bộ Tài chính sẽ tăng cường công tác tuyên truyền phổ biến luật tới người dân dưới nhiều hình thức.

Vậy việc quản lý thuế thu nhập cá nhân như thế nào?

Về tổ chức, chúng tôi sẽ tăng cường biện pháp quản lý để rà soát đảm bảo quản lý chặt chẽ các đối tượng nộp thuế.

Hiện Chính phủ và Bộ Tài chính đang chuẩn bị việc hình thành bộ máy chuyên trách về thuế thu nhập cá nhân. Scó bộ phận chuyên trách thuế thu nhập cá nhân ở cả 3 cấp của ngành thuế. Chúng tôi cũng sẽ tập trung đào tạo các cán bộ phụ trách vthuế thu nhập cá nhân trong thời gian tới.

Khối lượng quản lý thuế thu nhập cá nhân là khá lớn, như vậy phải có sự tham gia của công nghệ thông tin. Hiện ứng dụng công nghệ thông tin trong ngành thuế cũng đã khá phát triển và cũng đáp ứng được cơ bản yêu cầu. Khi thực hiện Luật Thuế thu nhập cá nhân, các ứng dụng sẽ tiếp tục được cải tiến để có thể quản lý tốt đối tượng nộp thuế.

Dự thảo Luật Thuế thu nhập cá nhân đã lấy ý kiến của nhân dân, vậy đâu là vấn đề được nhiều người dân quan tâm nhất?

Vừa qua Quốc hội tổ chức lấy ý kiến của nhân dân về dự thảo Luật, và qua tổng hợp lại và thông báo của Quốc hội thì về cơ bản là người dân đồng tình về sự cần thiết ban hành, và sự băn khoăn nhiều hơn là về tính khả thi thực hiện Luật.

Tuy nhiên theo tôi, tính khả thi của luật là rất cao bởi thời điểm thực hiện là 1/1/2009, tức là có thời gian cho ngành thuế chuẩn bị. Thêm vào đó, theo quy định của luật cũng như thông lệ trong quản lý thuế, thì nộp thuế thu nhập cá nhân nộp theo năm và việc quyết toán cuối năm kéo dài thêm một thời gian nữa. Năm 2009 có hiệu lực thì đến tháng 3/2010 mới thực hiện việc kê khai quyết toán.

Như vậy, scó đủ thời gian để chuẩn bị cho người nộp thuế hiểu biết về luật và cho cơ quan thuế chuẩn bị các điều kiện thực hiện.

Ngoài ra, ý kiến của nhân dân cũng băn khoăn về một số điều khoản cần làm rõ hơn những đối tượng chịu thuế hay không chịu thuế, thu nhập chịu thuế hay không chịu thuế. Điều nay ban soạn thảo đã tiếp thu và dự thảo luật đưa ra Quốc hội lần này sẽ bổ sung những ý kiến đó để làm cho rõ ràng và đầy đủ hơn.

Vậy còn mức thuế suất thuế thu nhập cá nhân?

Về mức thuế suất thuế thu nhập cá nhân, so với các quy định hiện hành về thuế thu nhập cá nhân thì đã giảm tương đối nhiều, nên đó là mức thuế phù hợp và tương đồng với các nước. Người dân không có nhiều ý kiến về mức thuế suất thuế thu nhập cá nhân.

Việc trả lương qua tài khoản có ích lợi như thế nào tới việc quản lý thuế thu nhập cá nhân, thưa bà?

Đây là một giải pháp tốt và tích cực, trong bối cảnh giao dịch tiền mặt hiện nay là một cản trở lớn đến việc kiểm soát thu nhập của cá nhân.

Sacombank hợp tác với Bảo Minh

Ngân hàng Sài Gòn Thương Tín (Sacombank) và Tổng công ty Bảo hiểm Bảo Minh vừa ký hợp đồng hợp tác song phương…

Hai bên cam kết quyền ưu tiên trong cung cấp và sử dụng các dịch vụ của nhau.

Ngân hàng Sài Gòn Thương Tín (Sacombank) và Tổng công ty Bảo hiểm Bảo Minh vừa ký hợp đồng hợp tác song phương.

Theo đó, Sacombank sẽ giới thiệu, cung cấp những dịch vụ ngân hàng có thể triển khai trong toàn hệ thống Bảo Minh; nhận làm đại lý giới thiệu, cung cấp các dịch vụ bảo hiểm của Bảo Minh cho ngân hàng và khách hàng của mình và sử dụng các dịch vụ bảo hiểm tại Bảo Minh.

Bảo Minh sẽ giới thiệu, cung cấp các sản phẩm bảo hiểm phi nhân thọ cho Sacombank và các khách hàng của Sacombank; giới thiệu sản phẩm dịch vụ của Sacombank đến cán bộ nhân viên trong toàn hệ thống Bảo Minh, mở tài khoản thanh toán tại ngân hàng này và đầu tư vào ngân hàng thông qua các hình thức gửi tiền có kỳ hạn, ủy thác đầu tư, ủy thác cho vay…

Ngoài ra, Bảo Minh cũng sẽ tiến hành các khóa đào tạo, huấn luyện và cấp chứng chỉ đại lý bảo hiểm cho các nhân viên của Sacombank. Hai bên cùng cam kết quyền ưu tiên trong việc cung cấp và sử dụng các dịch vụ của nhau.

Nạn nhân sập cầu Cần Thơ sẽ được Bảo hiểm Dầu khí hỗ trợ

Tổng công ty Cổ phần Bảo hiểm Dầu khí Việt Nam (PVI) là đơn vị thu xếp bảo hiểm đúng đoạn cầu Cần Thơ bị sập sáng 26/9…

Đưa nạn nhân sập cầu đi cấp cứu – Ảnh: AP.

Tổng công ty Cổ phần Bảo hiểm Dầu khí Việt Nam (PVI) là đơn vị thu xếp bảo hiểm đúng đoạn cầu Cần Thơ bị sập sáng 26/9.

>>Theo dòng sự kiện

Theo ông Nguyễn Ngọc Tuyến, Giám đốc Ban Giải quyết bồi thường ca PVI, giá trị bảo hiểm toàn bộ cầu Cần Thơ là 3.000 tỉ đồng. PVI sẽ hỗ trợ tài chính cho các nạn nhân trong vụ sập cầu này.

Được biết, toàn bộ cầu Cần Thơ được chia ra làm 4 gói thầu bảo hiểm do bốn công ty bảo hiểm phi nhân thọ thu xếp bảo hiểm. Đoạn cầu đầu tiên thuộc trách nhiệm bảo hiểm của công ty bảo hiểm Bảo Minh (bảo hiểm trị giá khoảng 600 tỉ đồng); kế tiếp là đoạn bị sập sáng nay do PVI thu xếp bảo hiểm; tiếp theo là đoạn của công ty cổ phần bảo hiểm Petrolimex (Pjico), và đoạn cuối cùng thuộc trách nhiệm bảo hiểm của Bảo hiểm Bảo Việt. Tổng giá trị toàn bộ bốn gói thầu bảo hiểm cầu Cần Thơ hơn 3.000 tỉ đồng.

Theo ông Nguyễn Quế Phong, Trưởng phòng Bảo hiểm tài sản và kỹ thuật của Bảo Minh, trong trường hợp cầu xây dựng hoàn tất, vì một lý do như động đất, lụt, sóng thần… làm tổn thất, sụp đổ toàn bộ cầu thì giá trị bồi thường là hơn 3.000 tỉ. Tuy nhiên, với phần xây dựng như hiện nay, ước tính giá trị bồi thường khoảng vài mươi tỉ đồng.

“Tổn thất đến đâu, bồi thường đến đấy”, ông nói.

Được biết, PVI đã thông báo công ty giám định quốc tế Crawford tới giám định thiệt hại. Khoảng 5 giờ chiều 26/9, ông Nguyễn Ngọc Tuyến, Giám đốc Ban Giải quyết bồi thường của PVI cũng đã ra sân bay Nội Bài bay đến Cần Thơ.

Theo một nguồn tin từ PVI, PVI chỉ có trách nhiệm đối với cầu Cần Thơ, không có bảo hiểm cho con người. Tuy nhiên, PVI đã quyết định sẽ hỗ trợ tài chính cho các nạn nhân ở cầu Cần Thơ.

“Vinalines vẫn đang thành công với “tay trái”

Tổng giám đốc Tổng công ty Hàng hải nói xu thế sắp tới của doanh nghiệp này sẽ là kinh doanh đa ngành, đa lĩnh vực…

Quang cảnh lễ ký thỏa thuận giữa Vinalines và ORIX – Ảnh: Từ Nguyên.

Ngày 25/9, tại Hà Nội, Tổng công ty Hàng hải (Vinalines) và Tập đoàn Tài chính ORIX (Nhật Bản) đã ký thỏa thuận hợp tác chiến lược.

ORIX là tập đoàn dịch vụ tài chính có trụ sở tại Tokyo, với phạm vi hoạt động ở 22 quốc gia và tổng tài sản lên tới 7.242 tỷ Yên (tương đương 65 triệu USD). Hoạt động chủ yếu của ORIX là cho thuê tài chính, cho vay, tham gia cổ phần tư nhân, cho thuê và khai thác phương tiện vận tải, phát triển dự án, bảo hiểm nhân thọ và đầu tư ngân hàng…

Thông qua bản thỏa thuận, ORIX sẽ hợp tác với Vinalines trong các lĩnh vực kinh doanh, thuê, mua tàu biển, các phương tiện vận tải và đầu tư vào các dự án logistic. ORIX cũng cam kết hỗ trợ Vinalines trong việc tiếp cận các nguồn vốn vay ưu đãi từ Ngân hàng Hợp tác Quốc tế Nhật Bản (JBIC) và các quỹ tài chính lớn trên thế giới.

Ngoài ra, ORIX sẽ cùng Vinalines tham gia đầu tư trong việc khai thác, kinh doanh khoáng sản, cảng biển, bất động sản, cơ sở hạ tầng và các hoạt động trong việc phát triển công nghiệp vùng duyên hải tại Việt Nam. Đặc biệt, hai bên sẽ cùng nhau thành lập Quỹ đầu tư liên kết, trong đó ORIX và Vinalines sẽ đóng vai trò đồng quản lý quỹ.

Nhân sự kiện này, VnEconomy đã có cuộc phỏng vấn ông Mai Văn Phúc, Tổng giám đốc Vinalines.

Thưa ông, gần đây Vinalines liên tiếp có các thỏa thuận hợp tác với các doanh nghiệp trong và ngoài nước. Vậy mục tiêu đằng sau những bản thỏa thuận này là gì, thưa ông?

Mỗi một sự hợp tác đều có một mục đích và ý nghĩa khác nhau. Chẳng hạn, việc hợp tác với Vietcombank, với Citibank là nhằm bổ sung nguồn vốn để Vinalines phát triển đội tàu và dịch vụ logistic. Còn việc hợp tác với ORIX hôm nay là để hai bên cùng hỗ trợ nhau trong lĩnh vực dịch vụ tài chính, logistic và các dịch vụ hạ tầng cơ sở khác.

Còn sâu xa hơn, việc hợp tác với các tập đoàn lớn trong và ngoài nước là nhằm mục tiêu đưa Vinalines trở thành một tập đoàn lớn, hoạt động đa ngành, đa lĩnh vực và có tầm ảnh hưởng lớn trong ngành hàng hải quốc tế.

Trong bản thỏa thuận với các đối tác có đề cập đến việc Vinalines sẽ gia nhập thị trường tài chính, ngân hàng, bất động sản… Vậy, những nội dung này đã được triển khai đến đâu, thưa ông?

Trên thực tế thì hiện nay Vinalines đã và đang tham gia vào các lĩnh vực như tài chính, ngân hàng, bất động sản, bảo hiểm…, những lĩnh vực mà nhiều người cho rằng không phải thế mạnh của Vinalines.

Tuy nhiên, đến thời điểm này, tôi có thể khẳng định Vinalines vẫn rất thành công với những lĩnh vực “tay trái” của mình, với tư cách không chỉ là đối tác mà còn là cổ đông chiến lược của một số doanh nghiệp tài chính khác.

Nhưng việc mở rộng kinh doanh đa ngành, đa lĩnh vực vẫn được các chuyên gia kinh tế cảnh báo là “con dao hai lưỡi”?

Chúng tôi xác định làm kinh doanh là phải dám đương đầu với thử thách. Tuy nhiên, là một doanh nghiệp nhà nước, chúng tôi luôn ý thức rằng mở rộng và phát triển những gì và đến đâu thì cũng phải nằm trong năng lực và khả năng của doanh nghiệp. Và thực tế là Vinalnes đã và đang thành công với chiến lược đa ngành, đa lĩnh vực của mình.

Chẳng hạn, Ngân hàng Thương mại Cổ phần Hàng hải tiền thân là ngân hàng của Vinalines, do Vinalines lập nên. Đến nay, ngân hàng này vẫn hoạt động kinh doanh rất tốt và Vinalines vẫn đang nắm giữ cổ phần chi phối tại đây.

Ngoài ra, những doanh nghiệp mà Vinalines đang là đối tác và cổ đông chiến lược thì cũng đang rất thành công trong lĩnh vực kinh doanh của mình.

Do vậy, theo tôi, kinh doanh đa ngành, đa lĩnh vực vẫn là xu thế tất yếu. Vấn đề còn lại là doanh nghiệp phải có những kế hoạch hành động cụ thể cũng như có sự kiểm soát chặt chẽ cả về tài chính lẫn nhân sự.

Được biết, mục tiêu của Vinalines là trở thành một tập đoàn kinh tế vào cuối năm nay. Vậy Vinalines đã chuẩn bị cho mục tiêu này đến đâu?

Hiện nay, chúng tôi đang tập trung triển khai các nội dung quan trọng trong Quyết định của Thủ tướng về việc chuyển đổi Tổng công ty Hàng hải thành Tập đoàn Hàng hải Quốc gia Việt Nam vào cuối năm 2007. Việc hoàn thiện điều lệ, quy chế hoạt động cũng như sắp xếp bộ máy đang được chúng tôi gấp rút thực hiện. Với sự chuẩn bị này, khi được Thủ tướng phê chuẩn thì chúng tôi sẽ nhanh chóng bắt nhịp ngay.

Cho đến thời điểm này có thể khẳng định, Vinalines đã đáp ứng đủ các tiêu chí để trở thành một tập đoàn kinh tế lớn. Vấn đề còn lại chỉ là khâu hoàn thành thủ tục hành chính. Dự kiến trong một đến hai tháng tới, quy trình thủ tục này sẽ được thu xếp hoàn chỉnh.