IPO Vietcombank sẽ lùi sang tháng 10

Nếu thuận lợi, đầu tháng 10 tới Vietcombank sẽ công bố đối tác chiến lược và tiến hành xác định thời điểm IPO…

Cơ chế mới thể hiện quyết tâm của Chính phủ trong việc cổ phần hóa ngân hàng.

Chính phủ vừa phê duyệt đề án cổ phần hóa Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam (Vietcombank) với những nội dung mới. Ngân hàng này cũng đang gấp rút đàm phán để chọn các đối tác chiến lược nước ngoài.

Nếu thuận lợi, đầu tháng 10 tới Vietcombank sẽ công bố đối tác chiến lược và tiến hành xác định thời điểm phát hành cổ phần lần đầu ra công chúng (IPO).

Một trong những nguyên nhân khiến lộ trình cổ phần hóa Vietcombank chậm hơn dự kiến là do vướng mắc trong các quy định pháp lý và những hướng dẫn cụ thể. Theo lãnh đạo ngân hàng, qua đề án phê duyệt, Chính phủ đã có những cơ chế mới thể hiện quyết tâm trong kế hoạch cổ phần hóa Vietcombank cũng như những cam kết chính trị liên quan.

Tháo gỡ những vướng mắc

Chính phủ chấp thuận kiến nghị của tư vấn và kiểm toán quốc tế về phương pháp xác định giá trị doanh nghiệp theo thông lệ quốc tế. Hiện công đoạn này có sự khác biệt bởi có nhiều phương pháp khác nhau. Những quy định hiện hành đã cho phép áp dụng một số phương pháp, nhưng khi triển khai cụ thể đòi hỏi phải có những hướng dẫn, trong đó có những hướng dẫn khó khăn, khó thực hiện.

Lãnh đạo Vietcombank cũng cho rằng nếu áp dụng các phương pháp của quốc tế thì không phải làm những việc đó, như kiểm kê tài sản, đánh giá lại tài sản, nhưng vẫn đánh giá rất chính xác. Mặt khác, sau khi xác định giá trị doanh nghiệp xong phải hạch toán, điều chỉnh giá trị sổ sách, có thể gây thắc mắc đối với nhà đầu tư.

Vietcombank sẽ không làm theo hướng này mà đánh giá giá trị theo phương pháp quốc tế, căn cứ trên cơ sở cung cầu của thị trường để đưa ra đấu giá. Khi đấu giá, thị trường sẽ xác định giá trị thực của doanh nghiệp. Thông qua đề án, Chính phủ cũng đã cho phép Vietcombank áp dụng phương thức quản trị doanh nghiệp tốt nhất có thể, kể cả theo thông lệ quốc tế.

“Đây là sự tháo gỡ quan ngại của nhiều nhà đầu tư quốc tế trong những năm qua. Cho đến bây giờ, các ngân hàng thương mại Việt Nam vẫn chịu sự điều tiết của Nghị định 49 của Chính phủ đối với quản trị doanh nghiệp. Trong khi đó Luật doanh nghiệp 2005 cũng đã có nhiều thay đổi so với Luật các tổ chức tín dụng.

Và đặc biệt là Bộ Tài chính cũng đã có Quyết định 12 và Quyết định 15 về quản trị doanh nghiệp đối với công ty đại chúng, công ty niêm yết cũng như điều lệ mẫu. Nếu Vietcombank niêm yết thì bắt buộc phải áp dụng những quy định đó và như thế trái với Nghị định 49”, lãnh đạo Vietcombank cho biết.

Mở “room” cho trường hợp Vietcombank?

Trong đề án cổ phần hóa, Vietcombank có đề nghị được niêm yết ở nước ngoài và Chính phủ đã đồng ý. Theo đó, khi niêm yết ở nước ngoài Vietcombank phải tuân thủ một số quy định về quản trị doanh nghiệp của thị trường quốc tế. Vietcombank cũng đề nghị nếu như Nghị định 49 có những điểm khác với Quyết định 12 và 15 thì cho phép Vietcombank áp dụng những quy định của Quyết định 12 và 15 mà không theo Nghị định 49.

Đề nghị thứ hai của Vietcombank cũng được Chính phủ đồng ý, đó là nếu thông lệ quốc tế về quản trị doanh nghiệp theo yêu cầu của thị trường Singapore hay Hồng Kông (hai điểm niêm yết mà Vietcombank đang nhắm tới) có những điểm tiến bộ hơn, khác với những quyết định trên và nếu không trái với luật hiện hành thì nên cho phép Vietcombank thực hiện.Lãnh đạo Vietcombank nhấn mạnh rằng đây là điểm quan trọng mà nhà đầu tư nước ngoài rất quan tâm. Đây cũng là động lực để tạo ra thay đổi thực sự về cơ chế quản trị.

“Nếu không đạt được điều này thì mục tiêu cổ phần hóa thất bại. Mục tiêu cổ phần hóa của Vietcombank hiện nay không phải để nâng cao năng lực tài chính nữa mà thay đổi một cách căn bản cơ chế, phương thức quản trị doanh nghiệp, bởi năng lực tài chính Vietcombank hiện đã đạt chuẩn yêu cầu khu vực và quốc tế rồi. Việc chấp thuận của Chính phủ trong vấn đề này tôi cho là sự tháo gỡ một nút rất quan trọng, bởi thay đổi cơ chế quản trị doanh nghiệp là mục tiêu quan trọng nhất”, vị lãnh đạo này giải thích thêm.

Về IPO quốc tế, Vietcombank đang tính toán những tỷ lệ thích hợp. Một số thị trường đòi hỏi phải đảm bảo tỷ lệ tối thiểu là 15%. Một số thị trường có thể xem xét tỷ lệ này thấp hơn vì quy mô Vietcombank tương đối lớn. Hiện tại, tỷ lệ sở hữu của nhà đầu tư nước ngoài trong ngân hàng Việt Nam tối đa là 30%.

Nếu theo quy định này, Vietcombank có thể dành 10% cho IPO quốc tế, trong 20% còn lại sẽ phân bổ 15% cho đối tác chiến lược nước ngoài và 5% để niêm yết. Và một điểm đáng lưu tâm là Chính phủ cũng có định hướng nếu đối tác chiến lược nước ngoài có những cam kết tốt có thể mở “room” trong trường hợp của Vietcombank.

Chọn đối tác chiến lược trước, IPO sau

Điểm mà Chính phủ quan tâm nhất là phải chọn được nhà đầu tư chiến lược tốt. Trong các yêu cầu, giá cả vẫn là yếu tố quan trọng, nhưng Chính phủ đề cao nội dung cam kết của nhà đầu tư nước ngoài, thời hạn của những cam kết đó. Họ phải có sự hợp tác, hỗ trợ Vietcombank lâu dài.

Về lịch trình, dự kiến đầu tháng 9 này, các nhà đầu tư chiến lược sẽ có bản chào cuối cùng. Và trong tháng 9, Vietcombank sẽ báo cáo kết quả lựa chọn đối tác chiến lược để Chính phủ quyết định. Nếu thuận lợi, đầu tháng 10 có thể công bố. Nhưng đây là quá trình không vội vàng, gò ép thời gian bởi liên quan đến quá trình đàm phán, quyền lợi giữa hai bên. Sau khi chọn đối tác chiến lược, thời điểm IPO mới được xác định.

Trong thời gian qua, một số nhà đầu tư nước ngoài đã chào giá rất cao khi tiếp xúc với Vietcombank. Tuy nhiên, lãnh đạo ngân hàng này cho rằng cần chú trọng ở những cam kết của họ bởi có những trường hợp cam kết “lỏng”, như một nhà đầu tư tài chính chứ không phải là nhà đầu tư chiến lược.

“Quan điểm của Vietcombank là nhà đầu tư chiến lược phải có tầm, tham gia hỗ trợ trực tiếp, cùng làm chứ không phải hỗ trợ một số tiền để đào tạo, tư vấn… Họ bỏ tiền vào là lời ăn lỗ chịu”, ông khẳng định.

Tăng trưởng đối mặt rủi ro tài chính toàn cầu

Liệu Việt Nam có đủ chắc chắn để cưỡng lại cơn bão bất ổn tài chính từ những rủi ro của thị trường thế chấp cấp hai tại Mỹ?…

Việt Nam có thể cưỡng lại được “cơn bão” subprime Hoa Kỳ và thị trường tín dụng toàn cầu nhưng điều đó không có nghĩa Việt Nam không phải đối mặt với những thách thức hiện tại.

Châu Á đang gặp phải những bất ổn tài chính từ những rủi ro của thị trường thế chấp cấp hai (subprime) tại Mỹ. Liệu Việt Nam có đủ chắc chắn cưỡng lại được cơn bão này?

Đây là chủ đề xuyên suốt tại Diễn đàn “Tình hình kinh tế và thị trường châu Á: Phòng tránh các cơn bão tín dụng dưới tiêu chuẩn” do Citi Vietnam tổ chức vào 29/8/2007 tại Hà Nội.

Đánh giá về sự bùng nổ của thị trường vốn toàn cầu trong thời gian gần đây, ông Yiping Huang, Giám đốc điều hành và Trưởng bộ phận kinh tế và phân tích thị trường (EMA) khu vực châu Á của Citigroup nói: “Được khích lệ bởi bức tranh kinh tế toàn cầu đang khởi sắc, sự tích luỹ của đồng đôla dầu mỏ, lượng dự trữ của các ngân hàng trung ương tại châu Á và sự bùng nổ của các phương tiện đầu tư thay thế như cổ phiếu tư nhân và các quỹ bảo hiểm, tất cả các công ty thuộc mọi hạng mức tín nhiệm đều đã tham gia vào các thị trường vốn để phục vụ cho mục đích tăng trưởng và tìm nguồn vốn phục vụ cho các kế hoạch mở rộng quy mô”.

Hiệu ứng domino thị trường vốn toàn cầu

Theo ông Yiping Huang, những năm gần đây, các công ty trên khắp thế giới đang có nhiều cơ hội tiếp cận sâu vào tất cả các thị trường tài chính và cùng với đó là các đợt phát hành trên thị trường vốn tăng với tốc độ chóng mặt. Chẳng hạn, tổng giá trị phát hành trái phiếu và cổ phiếu ở Mỹ là 81 tỷ USD trong năm 1980, đã tăng lên 4 nghìn tỷ USD vào năm 2000 và đạt khoảng 7,5 nghìn tỷ USD vào năm 2006.

Sự tăng trưởng vô cùng ngoạn mục này của dòng vốn khả dụng, tính thanh khoản cao, đã cho phép các công ty có được rất nhiều lựa chọn chiến lược và tài chính với mức chi phí đi vay vô cùng hấp dẫn.

Nhưng cũng chỉ vài tuần qua, thị trường tài chính nhiều nước trên thế giới đã gặp hàng loạt nan giải về cơ cấu liên quan đến chủ yếu thế chấp cho vay bằng tiền đi vay và các nghĩa vụ nợ có thế chấp (CDO/CLO).

Kết quả là các đợt phát hành trái phiếu đã bị giảm xuống, được tái cơ cấu hoặc bị rút khỏi thị trường, đặc biệt là tại các thị trường tỷ lệ lợi tức cao. Việc tiếp cận với các thị trường tín dụng cũng bị đình trệ và tất cả các tổ chức phát hành tại mọi hạng mức tín nhiệm đều phải chịu một mức chi phí vốn vay cao hơn.

Ông Yiping Huang phân tích, việc cho các công ty vay nợ ồ ạt đã kéo theo sự bùng nổ ghê gớm về các nghĩa vụ nợ có thế chấp (DCOs), dẫn đến việc phân tách rủi ro thế chấp thành nhiều loại rủi ro khác nhau, thích ứng với từng phân đoạn. Cụ thể, nếu như tổng phát hành tín dụng kiểm soát trên thế giới vào 2003 chỉ 100 tỷ USD thì con số này của 2007 đã lên tới 1,1 nghìn tỷ USD.

Và chính các quỹ tự bảo hiểm là người mua chính trong các đợt chào bán cổ phần nợ có thế chấp, chiếm khoảng từ 25 đến 33%. Vì giá trị của các tài sản thế chấp chủ yếu đã tuột dốc thảm hại nên các quỹ tự bảo hiểm đã phải gánh chịu nhiều mất mát nặng nề, buộc phải tái cơ cấu, thậm chí một vài quỹ đã phải ngừng hoạt động.

Ví dụ như, chỉ số ABX BBB biểu thị giá trị của các CDO chủ yếu có độ rủi ro cao nhất đã giảm từ 100 điểm vào đầu năm 2007 xuống còn khoảng 45 điểm vào cuối tháng 7/2007, khiến cho nỗi e ngại rủi ro trong các quỹ tự bảo hiểm tăng lên nhanh chóng, trong khi cho đến thời điểm này, các quỹ này vẫn coi đó là nguồn vốn khả dụng vô cùng quan trọng.

Thách thức đối với Việt Nam

Mặc dù khi định giá lại rủi ro đã xảy ra và trong bối cảnh tăng trưởng kinh tế thế giới đang có chiều hướng tốt và hầu như chưa có công ty nào vỡ nợ, nhưng theo ông Yiping Huang, cho đến nay, các điều kiện trên thị trường tín dụng có vẻ như đang bị tổn thương bởi các trục trặc kỹ thuật.

Và chính hiện thực này đã và sẽ tác động mạnh mẽ đến những nền kinh tế mới nổi ở châu Á, trong đó có Việt Nam từ những kênh sau: rủi ro trực tiếp từ các khoản vay chứng khoán có thế chấp bằng bất động sản tại Mỹ; việc định giá lại rủi ro của doanh nghiệp; tiếp cận tín dụng bị hạn chế trong các ngành công nghiệp và khả năng nền kinh tế Mỹ tăng trưởng chậm lại.

Nhìn lại bức tranh kinh tế Việt Nam trước những thách thức trên thị trường tài chính toàn cầu vài tuần qua, ông Bong Arjonillo, Giám đốc phụ trách kinh doanh nguồn vốn và ngoại tệ Citi Vietnam nhận xét, mặc dù có nhiều niềm tin rằng, Việt Nam có thể cưỡng lại được “cơn bão” subprime Hoa Kỳ và thị trường tín dụng toàn cầu nhưng điều đó không có nghĩa Việt Nam không phải đối mặt với những thách thức hiện tại.

Trước hết, lạm phát chưa có dấu hiệu dịu đi do ảnh hưởng của tăng giá thực phẩm, vật liệu xây dựng trong khi chính sách giảm thuế nhập khẩu phải mất một thời gian mới phản ánh lên giá bán lẻ. Để đối phó với lạm phát, cùng với giả định giá dầu mỏ ổn định thì Chính phủ phải thật nỗ lực áp dụng chính sách tiền tệ thắt chặt và quản lý tốt giá của các mặt hàng chủ chốt.

Thứ hai, đồng tiền Việt Nam (VND) đang bị yếu đi khoảng 0,8% kể từ cuối tháng 7/2007, trong bối cảnh thị trường tài chính toàn cầu đang náo động và Ngân hàng nhà nước mua thêm dự trữ ngoại tệ. Cùng lúc đó nhu cầu ngoại tệ (USD) cho nhập khẩu tăng; chênh lệch giá VND – USD trên thị trường liên ngân hàng đang được nới rộng cho thấy nhu cầu về VND giảm so với USD. Do đó, VND sẽ chịu nhiều áp lực trong kỳ tới do rủi ro ngoài ý muốn.

Thứ ba, cán cân thâm hụt thương mại tăng gần gấp đôi so với cùng kỳ trong vòng 7 tháng qua do nhập khẩu tăng so với xuất khẩu.

Thứ tư, cho đến tháng 8/2007, các dòng vốn lớn từ nước ngoài tiếp tục được bơm thêm vào, cộng với lượng dự trữ ngoại tệ đã mua trước đó sẽ tăng chỉ số này lên 20 tuần nhập khẩu. Khi dự trữ tăng ngoại tệ tăng thì lượng tiền lưu thông tiếp tục dư thêm và đó là một thách thức cho chính sách điều hành tiền tệ.

Từ thực tế này, lời khuyên của ông Bong đối với các doanh nghiệp là cần sử dụng một số công cụ huy động vốn và các chiến lược tài chính doanh nghiệp nhằm thích ứng tốt hơn với sự thay đổi trên thị trường.

Cụ thể, các doanh nghiệp cần biết tái cân đối tỉ lệ suất tiền vay; sử dụng chiến lược quản lý nợ để kéo dài thời gian đáo hạn, cố định mức lãi suất hoặc mua lại nợ và trái phiếu tuỳ thời cơ; tận dụng thị trường nợ tại những nơi ít bị ảnh hưởng bởi các biến động trên thế giới; sử dụng chứng khoán hoá; quy về việc coi trọng các biện pháp quản lý rủi ro.

Đối với việc điều hành vĩ mô, mặc dù một số chuyên gia cho rằng, Việt Nam đang được “cách ly” khỏi những biến động trên thị trường tài chính thế giới nhưng theo TS. Lê Xuân Nghĩa, Vụ trưởng Vụ Chiến lược phát triển Ngân hàng Nhà nước, muốn nền kinh tế tăng trưởng ổn định, trước hết lạm phát phải thấp.

Ông Nghĩa nói: “Nếu theo đuổi quan điểm chấp nhận lạm phát cao để tăng trưởng thì sớm muộn gì cũng lãnh hậu quả vì nền kinh tế phải giảm xuống để chống lạm phát. Đó là quy luật thị trường và bất kỳ ý chí nào cũng phải thua. Nếu duy trì lạm phát ổn định, hệ thống kinh tế vĩ mô tốt thì nhà đầu tư sẽ yên tâm làm ăn lâu dài”.

Điều ông Nghĩa nói cũng nhận được sự đồng tình của nhiều chuyên gia bởi lẽ, tăng trưởng bền vững thì sức đề kháng với biến động rủi ro từ bên ngoài sẽ tốt hơn.

Giá vàng thế giới vẫn tăng nhẹ

Theo tin từ Dow Jones, ngày 30/8, giá vàng giao ngay lúc mở cửa tại Hồng Kông đạt 666,10 USD/oz…

Vàng vẫn là nơi trú ẩn an toàn nhất khi những lo ngại về thị trường tin dụng tăng lên.

Theo tin từ Dow Jones, ngày 30/8, giá vàng giao ngay lúc mở cửa tại Hồng Kông đạt 666,10 USD/oz.

So với ngày 28/8, giá vàng tăng thêm 0,4 USD/oz. Hiện giá vàng Hồng Kông vẫn thấp hơn mức cao nhất tháng 8 là 4 USD/oz.

Theo ông Andy Montano, giám đốc Cty mua bán vàng bạc Scotia Mocatta ở Toronto, giá vàng chịu ảnh hưởng rất lớn của sự sụt giảm trên thị trường chứng khoán.Theo nhận định của nhà sản xuất vàng lớn nhất thế giới Barrick Gold Corp thì nhu cầu vàng từ ngành công nghiệp trang sức vẫn khá khả quan.

Các số liệu cho thấy chỉ số lòng tin tiêu dùng Mỹ giảm xuống mức thấp nhất trong vòng một năm qua. Vàng vẫn là nơi trú ẩn an toàn nhất khi những lo ngại về thị trường tin dụng tăng lên.

“Đụng chạm” SCIC

Đến thời điểm này của năm, Tổng công ty Đầu tư và Kinh doanh vốn nhà nước mới đưa được 10 doanh nghiệp lên sàn…

Trong quá trình SCIC đi “đòi” vốn nhà nước ở các doanh nghiệp, nhiều bộ, ngành, địa phương thậm chí cố tình trì hoãn bàn giao hoặc không tổ chức bàn giao.

Xóa cơ chế bộ chủ quản, có nghĩa các bộ, ngành không còn quản lý các doanh nghiệp nhà nước trực thuộc nữa. Vậy những doanh nghiệp này sẽ do ai quản lý?

Đòi vốn Nhà nước không dễ

Trong kế hoạch năm 2007, Tổng công ty Đầu tư và Kinh doanh vốn nhà nước (SCIC) dự kiến đưa 50 doanh nghiệp lên sàn chứng khoán. Nhưng đến thời điểm này, số doanh nghiệp lên sàn mới được 10. Đưa thêm 40 doanh nghiệp lên sàn niêm yết từ nay đến hết năm 2007 quả là một khối lượng công việc quá lớn, thậm chí khó có khả năng thực hiện đối với SCIC.

Dù sao 50 doanh nghiệp vẫn là con số nhỏ bé trong số 1.307 doanh nghiệp sẽ chuyển phần vốn nhà nước về SCIC theo quy hoạch của Chính phủ. Hiện nay, sau một năm đi vào hoạt động, SCIC đã nhận bàn giao 687 doanh nghiệp với tổng giá trị vốn nhà nước là 6.563 tỉ đồng, giá trị thị trường đến thời điểm hiện nay ước khoảng 29.655 tỉ. Theo kế hoạch, hết năm 2007 sẽ hoàn thành bàn giao vốn nhà nước tại khoảng 970 doanh nghiệp với giá trị sổ sách phần vốn nhà nước ước trên 7.000 tỉ đồng.

“Một năm qua, kể từ khi SCIC đi vào hoạt động với danh nghĩa đại diện cổ đông nhà nước trong các doanh nghiệp, chúng tôi cũng gặp những lực cản từ nhiều phía. Do là mô hình mới và lại đứng ra quản lý vốn đầu tư của hầu hết các doanh nghiệp nhà nước nên SCIC đụng chạm lớn đến quyền lợi của nhiều bộ, ngành, địa phương, những cơ quan trước đây là chủ sở hữu, quản lý doanh nghiệp”, Chủ tịch Hội đồng Quản trị SCIC, bà Lê Thị Băng Tâm nói.

Theo bà Tâm, trong quá trình SCIC đi “đòi” vốn nhà nước ở các doanh nghiệp, nhiều bộ, ngành, địa phương chưa tích cực phối hợp, chỉ đạo tổ chức bàn giao, cố tình trì hoãn bàn giao hoặc không tổ chức bàn giao để bán bớt hoặc bán toàn bộ phần vốn nhà nước tại doanh nghiệp mà không có ý kiến của Bộ Tài chính. Nhiều nơi sáp nhập hoặc giao quyền đại diện chủ sở hữu vốn nhà nước tại các doanh nghiệp thuộc đối tượng bàn giao về SCIC cho các tổng công ty nhà nước hiện hữu hoặc thành lập các tổng công ty nhà nước mới.

Ngoài ra, một số bộ, ngành, địa phương buông lỏng quản lý doanh nghiệp trước khi chuyển giao phần vốn nhà nước về SCIC, dẫn đến bộ máy doanh nghiệp hoạt động kém hiệu quả; nội bộ doanh nghiệp mất đoàn kết kéo dài, người đại diện không tuân thủ các quy định pháp luật. Bộ máy còn thiếu nhân lực của SCIC đã phải mất rất nhiều thời gian cơ cấu lại các doanh nghiệp này trong vai trò là cổ đông lớn nhất.

Mặc dù SCIC đã hoạt động một năm, và Chính phủ đã quy hoạch tương đối rõ ràng về “danh mục” doanh nghiệp nhà nước chuyển vốn về SCIC, nhưng còn không ít lãnh đạo các bộ, ngành, cơ quan chủ quản đề nghị thẳng với SCIC, “là quản lý thì đừng kinh doanh”, có nhiều địa phương đề nghị SCIC phải có chi nhánh, cơ sở ở đó… Và thực tế, là một cổ đông lớn trong doanh nghiệp, nhưng lãnh đạo SCIC cũng đã phải phê duyệt cả công văn làm thẻ doanh nhân APEC cho doanh nhân.

Ngay cả trong Nghị định 109/2007/NĐ-CP về chuyển doanh nghiệp 100% vốn nhà nước thành công ty cổ phần, mới được ban hành ngày 26/6/2007, vẫn có quy định yêu cầu khi cử người đại diện trong công ty cổ phần phải lấy ý kiến UBND ở địa phương. Đó cũng là quy định “khó hiểu” và gây khó khăn không nhỏ cho tiến trình tách bạch quyền sở hữu doanh nghiệp với cơ quan chủ quản. UBND các địa phương, không có liên quan gì đến quyền sở hữu doanh nghiệp nhà nước để có thể cho ý kiến về các chức danh lãnh đạo doanh nghiệp.

“Chúng tôi chỉ thực hiện quản lý vốn tại doanh nghiệp với vai trò là một cổ đông đầu tư bằng vốn nhà nước ở đó thôi, không can thiệp hành chính vào các hoạt động của doanh nghiệp”, bà Băng Tâm giải thích.

Cơ cấu tỷ trọng giá trị tài sản của SCIC tại thời điểm 31-7-2007. Nhóm A (màu vàng, chiếm tỷ trọng 74% giá trị tài sản của cả danh mục đầu tư), nhóm B (màu vàng nhạt, chiếm 19%), nhóm C (màu xanh, chiếm 7%)
Cũng vì những trì hoãn này, hồi tháng 5 vừa qua, Bộ Tài chính phải có Thông tư 47 nhắc nhở các cơ quan chủ quản khẩn trương bàn giao phần vốn nhà nước về SCIC. Nhiều bộ ngành vẫn làm theo quy định, nhưng đẩy doanh nghiệp thua lỗ đi, níu doanh nghiệp làm ăn tốt và nhiều lợi thế ở lại bằng nhiều cách.

“Một số doanh nghiệp trông thì sạch sẽ, nhưng khi đã nhận về rồi mới tá hỏa vì làm ăn thua lỗ nặng nề. Có những cơ quan chủ quản khi bàn giao sở hữu xong cũng lao đao vì hẫng hụt. Một số công ty khi rời cơ quan chủ quản cũng bối rối vì đã quen với việc làm gì cũng phải có tờ trình và được phê duyệt”, một cán bộ tham gia trực tiếp vào quá trình tiếp nhận vốn về SCIC chia sẻ với báo giới.

“Cắt gọt” mô hình SCIC thế nào?

Với mô hình tương đối giống Temasek của Singapore, SCIC muốn cơ cấu lại doanh nghiệp theo nhóm ngành nghề hoặc các doanh nghiệp có khả năng hỗ trợ, bổ trợ lẫn nhau, đưa các nhà đầu tư trong và ngoài nước với tư cách là nhà tư vấn, nhà đầu tư chiến lược tham gia vào quá trình tái cơ cấu doanh nghiệp nhà nước; phát triển quy mô vốn nhà nước do SCIC làm đại diện chủ sở hữu thông qua việc niêm yết, đấu giá doanh nghiệp trên thị trường chứng khoán trong nước và nước ngoài.

Tuy nhiên, mô hình SCIC có ưu điểm tới đâu, và cần cắt gọt thế nào, thì một năm chưa đủ để kết luận. Hai thương vụ SCIC đã thực hiện thời gian qua là chuyển nhượng vốn tại liên doanh Bảo hiểm Bảo Minh-CMG cho Công ty Bảo hiểm nhân thọ Dai-ichi (Nhật Bản) và chuyển nhượng 30% cổ phần tại Pacific Airlines cho nhà đầu tư chiến lược là Quantas vẫn đang chờ những kết quả ban đầu.

Trong chủ trương từng bước thoái đầu tư vốn tại các doanh nghiệp nhóm C (Nhà nước không cần nắm giữ), SCIC đã thí điểm thoái đầu tư vốn tại 11 doanh nghiệp dưới nhiều hình thức khác nhau, tổng giá trị ghi sổ phần vốn thoái là 113 tỉ đồng, giá trị thực tế thu về gấp 3 lần.

Nhưng ngay tại SCIC, Bộ Tài chính và các cơ quan liên quan còn nhiều ý kiến trái ngược nhau. Nhiều người trong cuộc cho rằng, việc thoái đầu tư tuy có tạo ra lợi nhuận nhất định, nhưng khoản lợi nhuận này chưa đáng kể so với tổng lợi nhuận thu được do nhiều lý do khách quan khác. Những ý kiến về việc bán bớt vốn nhà nước đang nắm ra thị trường chứng khoán đã gặp nhiều tranh cãi và e ngại trong thời điểm thị trường thăng hoa, nay chưa hết ý kiến vì thị trường đã đổi khác.

Và vì thế, tiến trình thoái đầu tư vẫn diễn ra quá chậm. Trong cơ cấu lợi nhuận đầu tư của SCIC, lãi thực hiện mới là 1% và cổ tức thu về (9%). Lãi chưa thực hiện trên 90%.

Trong quá trình xử lý nguồn vốn nhà nước ban đầu, còn có những doanh nghiệp hiện lợi suất đầu tư âm vài chục phần trăm do SCIC mua thêm cổ phần phát hành ở giá cao hơn mệnh giá (1.1-1.5 x), nhưng định giá cổ phần doanh nghiệp vẫn ở mệnh giá, do đó trong tính toán tạo ra lỗ và cộng thêm lỗ kỹ thuật. Ngược lại, ở các doanh nghiệp yếu lâm vào tình trạng giải thể hoặc phá sản thì sẽ phát sinh các vấn đề pháp lý và tiêu hao nguồn nhân lực và thời gian của tổng công ty này.

“SCIC đụng chạm lớn đến quyền lợi của nhiều bộ, ngành, địa phương, những cơ quan trước đây là chủ sở hữu, quản lý doanh nghiệp”, Chủ tịch Hội đồng Quản trị SCIC, bà Lê Thị Băng Tâm nói.

Nhìn tổng thể, dù mới phát triển ở giai đoạn đầu, nhưng SCIC vẫn có lợi thế riêng với việc đang nắm trong tay phần vốn nhà nước tại các doanh nghiệp như FPT, Nhựa Tiền phong, Nhựa Bình Minh, Vinamilk… Mười doanh nghiệp mà SCIC đang quản lý vốn nhà nước hiện đem lại tổng lợi tức lớn nhất cho tổng công ty (chiếm tới 98,13 % tổng lợi tức của toàn danh mục đầu tư của SCIC).

Nhưng cũng chính vì điều này, đòi hỏi của công chúng với SCIC càng khắt khe hơn, đặc biệt là về sự minh bạch và tính giải trình của SCIC trong các hoạt động của mình.

Sửa khung thuế xuất nhập khẩu

Biểu khung thuế mới sẽ được sửa đổi để đảm bảo phù hợp với tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế và cam kết gia nhập WTO…

Biểu khung thuế xuất khẩu, nhập khẩu hiện hành cần phải được sửa đổi để để đảm bảo phù hợp với tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế

Văn phòng Chính phủ đã có Công văn 2978/VPCP-KTTH thông báo ý kiến của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng về việc giao Bộ trưởng Bộ Tài chính thừa ủy quyền Thủ tướng Chính phủ báo cáo Ủy ban Thường vụ Quốc hội xem xét, quyết định việc ban hành Biểu khung thuế xuất khẩu, Biểu khung thuế nhập khẩu ưu đãi.

Biểu khung thuế mới sẽ được sửa đổi để đảm bảo phù hợp với tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế và cam kết gia nhập WTO.

Theo Bộ Tài chính, Biểu khung thuế xuất khẩu, nhập khẩu hiện hành đã đạt được những kết quả quan trọng, nhưng để đảm bảo phù hợp với tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế chúng ta cần phải sửa đổi.

Hạ mức thuế suất trần và sàn phù hợp với cam kết

Trước hết vì theo cam kết gia nhập WTO, hầu hết các mức thuế của những mặt hàng trong Biểu thuế nhập khẩu ưu đãi đều thấp hơn mức trần của khung và nhiều mặt hàng có mức thuế suất cam kết thấp hơn mức sàn của khung. Do đó, để phù hợp với cam kết, chúng ta phải hạ các mức thuế suất trần và sàn của khung.

Thứ hai, từ năm 2008, Việt Nam phải thực hiện Danh mục Biểu thuế chung ASEAN mới (AHTN 2007) đã được các nước xây dựng trên Hệ thống mô tả và mã hàng hóa HS2007 của Tổ chức Hải quan thế giới, trong đó mô tả của nhiều nhóm mặt hàng đã được thay đổi so với Danh mục biểu thuế mà chúng ta đang áp dụng.

Ngoài ra, Biểu khung thuế xuất khẩu, nhập khẩu ưu đãi mới cũng được xây dựng trên nguyên tắc đảm bảo thực hiện chính sách bảo hộ sản xuất trong nước có chọn lọc, có điều kiện và thời hạn; ổn định khung thuế suất đối với những nhóm mặt hàng đang được thực hiện có hiệu quả trên thực tế và phù hợp với các cam kết quốc tế.

Theo cam kết gia nhập WTO, Việt Nam chỉ cắt giảm thuế xuất khẩu đối với mặt hàng phế liệu kim loại. Vì vậy, việc điều hành thuế xuất khẩu chủ yếu là do yêu cầu quản lý Nhà nước chứ không phụ thuộc vào cam kết hội nhập.

Biểu khung thuế xuất khẩu mới được xây dựng nhằm tiếp tục thực hiện mục tiêu hạn chế xuất khẩu những sản phẩm thô, khuyến khích sử dụng nguyên liệu để tái chế và về cơ bản vẫn giữ nguyên khung thuế suất với hầu hết các nhóm hàng chịu thuế.

Khung thuế suất trần của một số nhóm hàng được điều chỉnh tăng lên là dầu mỏ (từ 0-8% lên 0-20%); than đá (từ 0-5% lên 0-20%); quặng kim loại (từ 0-3%; 0-5% và 5-20% lên thành 0-20%) nhằm định hướng hạn chế xuất khẩu nguyên liệu thô và tập trung cho sản xuất trong nước là chính.

Các mặt hàng được giảm thuế suất trần và sàn là nhóm hàng phế liệu sắt thép (từ 30-40% xuống 10-30%); phế liệu kim loại màu (từ 40-50% xuống còn 10-40%) để phù hợp với cam kết gia nhập WTO.

Ban hành Biểu thuế nhập khẩu ưu đãi

Trên cơ sở Biểu khung thuế nhập khẩu gồm 1.221 nhóm mặt hàng hiện hành, Bộ Tài chính đã ban hành Biểu thuế nhập khẩu ưu đãi với 10.680 dòng thuế chi tiết và theo cam kết WTO, Việt Nam ràng buộc với toàn bộ Biểu thuế này.

Hầu hết các mặt hàng thuộc nhóm có thuế suất cam kết thấp hơn mức trần, chỉ một số mặt hàng có mức cam kết thấp hơn mức thuế sàn của khung thuế suất. Do đó, Biểu khung thuế nhập khẩu ưu đãi mới sẽ giảm mức thuế suất trần khung của 1.149 nhóm hàng (chiếm 94%) để phù hợp với cam kết WTO và những nhóm hàng mà mức khung thuế suất hiện hành đang cao hơn nhiều so với thực tế áp dụng.

Giảm mức thuế suất sàn khung của 202 nhóm hàng (chiếm khoảng 16,5% trong Biểu khung) để thực hiện cam kết gia nhập WTO và lộ trình cắt giảm thuế nhập khẩu trong điều kiện thực hiện các cam kết quốc tế, đồng thời góp phần giảm thuế đầu vào đối với những nhóm nguyên vật liệu phục vụ sản xuất. Mức sàn khung của 1.019 nhóm hàng khác vẫn được giữ nguyên.

Ông Hà Huy Tuấn – Vụ trưởng Vụ Chính sách thuế, Bộ Tài chính cho biết, hiện nay các nước ASEAN đã xây dựng và thống nhất áp dụng Danh mục AHTN 2007 làm cơ sở để xây dựng Biểu thuế nhập khẩu ưu đãi. Dự kiến Việt Nam sẽ áp dụng Danh mục Biểu thuế nhập khẩu ưu đãi mới từ ngày 1/1/2008.

Sẽ có Kho bạc điện tử vào năm 2020

Chiến lược phát triển Kho bạc Nhà nước vừa được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt…

Đến năm 2020 sẽ hình thành Kho bạc điện tử và các hoạt động của Kho bạc Nhà nước phải được thực hiện trên nền tảng công nghệ thông tin hiện đại.

Chiến lược phát triển Kho bạc Nhà nước vừa được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt.

Theo đó, đến năm 2020 sẽ hình thành Kho bạc điện tử và các hoạt động của Kho bạc Nhà nước phải được thực hiện trên nền tảng công nghệ thông tin hiện đại.

Chiến lược phát triển Kho bạc Nhà nước đến năm 2020 tập trung vào 8 nội dung: Quản lý quỹ ngân sách Nhà nước và các quỹ tài chính Nhà nước; quản lý ngân quỹ và nợ Chính phủ; công tác kế toán Nhà nước; hệ thống thanh toán; kiểm tra, kiểm toán nội bộ; công nghệ thông tin; tổ chức bộ máy và phát triển nguồn nhân lực; tăng cường hợp tác quốc tế.

Để đạt mục tiêu đặt ra là hình thành Kho bạc điện tử, ngoài giải pháp số 1 là hoàn thiện các thể chế, chính sách, luật pháp, nâng cao hiệu lực về tổ chức bộ máy và chất lượng nguồn nhân lực, Chính phủ đặc biệt nhấn mạnh đến yêu cầu ứng dụng công nghệ thông tin hiện đại và hiện đại hóa công nghệ quản lý làm động lực cho cải cách và đổi mới hoạt động Kho bạc Nhà nước.

Theo đó, các cơ quan chức năng sẽ phải khẩn trương hoàn thiện hệ thống thể chế, chính sách về hoạt động Kho bạc Nhà nước bằng cách: xây dựng hệ thống kế toán Nhà nước theo chuẩn mực kế toán công quốc tế và hình thành Tổng kế toán Nhà nước; xây dựng Luật quản lý ngân quỹ; sửa đổi, bổ sung Luật ngân sách Nhà nước cho phù hợp với xu hướng cải cách hành chính, yêu cầu quản lý tài chính công trong giai đoạn tới và phù hợp với thông lệ quốc tế.

Tiếp đến, tập trung hiện đại hóa công nghệ quản lý làm động lực cho cải cách và đổi mới hoạt động Kho bạc Nhà nước và ứng dụng công nghệ thông tin hiện đại vào hoạt động của Kho bạc Nhà nước, trong đó ưu tiên đầu tư sử dụng các phần mềm tiên tiến trên thế giới phù hợp với yêu cầu quản lý tài chính-ngân sách trong tình hình mới và theo thông lệ quốc tế.

Nên thành lập ngân hàng chứng khoán?

Theo một ý kiến được nêu ra gần đây, có ba lý do để lập ra một ngân hàng đa sở hữu phục vụ thị trường chứng khoán…

Nguồn tiền đặt cọc, khoản thu trước khi chuyển cho doanh nghiệp trong cổ phần hoá lần đầu hiện nay là khá lớn – Ảnh: Việt Tuấn.

Sự kiện Sở Giao dịch Chứng khoán Tp.HCM (HOSE) chuyển tài khoản tiền cọc, tiền mua cổ phần đấu giá doanh nghiệp Nhà nước khi IPO từ Ngân hàng Đầu tư và Phát triển (BIDV) – chi nhánh Nam Kỳ Khởi Nghĩa (Tp.HCM) về Ngân hàng Sài Gòn Thương Tín (Sacombank) được nhiều người coi là “sự kiện 1/8”.

Bởi lâu nay, BIDV được Chính phủ, Bộ Tài chính và Ủy ban Chứng khoán giao nhiệm vụ đầu tư cơ sở hạ tầng và đảm nhiệm hoạt động thanh toán trên thị trường chứng khoán.

Một lãnh đạo của BIDV phân trần rằng, để thị trường hoạt động được thông suốt, ngay từ khi thị trường chứng khoán còn èo uột, BIDV đã đầu tư hệ thống thanh toán này hàng chục tỷ đồng – điều mà tại thời điểm đó, không một ngân hàng nào, kể cả ngân hàng quốc doanh muốn đảm nhận.

Miếng bánh bị chia sẻ

“Trồng cây sẽ có ngày hái quả”, khi thị trường chứng khoán bùng nổ, giao dịch trên thị trường sôi động hơn và nguồn lợi thu về cho BIDV cũng lớn hơn.

Ông Trần Đắc Sinh, Giám đốc HOSE cho biết: hiện ở Sở Giao dịch Chứng khoán Tp.HCM, có khá nhiều dịch vụ thu phí như bán bản tin cho các công ty niêm yết, phí cung cấp dịch vụ thông tin, phí tổ chức đấu giá… Số tiền thu được từ các hoạt động này thường tập trung ở tài khoản của HOSE tại BIDV – chi nhánh Nam Kỳ Khởi Nghĩa, Vietcombank – chi nhánh Tp.HCM.

Nhưng đó chưa phải là nguồn thu lớn, còn một khoản thu khác là khoản tiền cọc, tiền đấu giá cổ phần lên tới hàng chục nghìn tỷ đồng khi IPO doanh nghiệp Nhà nước. Ông Đặng Xuân Giang, Phó chủ tịch Câu lạc bộ Các nhà đầu tư chứng khoán nói: “Nguồn tiền đặt cọc, khoản thu trước khi chuyển cho doanh nghiệp trong cổ phần hoá lần đầu hiện nay là khá lớn và rất ấn tượng trong hoạt động của ngân hàng. Tôi được biết, các khoản này, nhà đầu tư không được hưởng lãi suất không kỳ hạn”.

Không đồng tình với việc chuyển giao tiền cọc, tiền đấu giá cổ phần cho một ngân hàng tư nhân có thể có tổng tích sản nhỏ hơn số tiền của nhà đầu tư và của doanh nghiệp sau đấu giá, một số ý kiến cho rằng, điều này sẽ để lại những rủi ro tiềm ẩn cho sự đổ vỡ của thị trường.

Nhưng ông Đặng Xuân Giang lại nhìn nhận khác: “Khi các ngân hàng đã được cấp phép hoạt động thì đương nhiên đã thừa nhận họ. Số tiền ngân hàng giữ so với tổng tích sản thì trong luật tín dụng đã quy định chỉ được phép huy động gấp bao nhiêu lần so với vốn điều lệ. Vì thế, khi đã rủi ro với ngân hàng này thì cũng có thể rủi ro với ngân hàng kia”.

Tiếp đó, ông Giang nêu quan điểm: nên đem đấu thầu xem ngân hàng nào được giữ số tiền này, thậm chí đấu thầu trong từng thương vụ. Trong nền kinh tế thị trường, giải pháp đấu thầu được coi là đương nhiên”.

Cũng theo ông Giang, khi đấu thầu, đối với những doanh nghiệp lớn như Vosco, bán đấu giá hơn 50 triệu cổ phần, giá khởi điểm 15 nghìn đồng/cổ phiếu thì thặng dư vốn thu về rất lớn. Vì vậy, không nên đánh đồng giá đấu thầu giữa doanh nghiệp lớn và doanh nghiệp nhỏ.

Tuy nhiên, TS. Nguyễn Sơn, Phó trưởng ban Phát triển thị trường, Ủy ban Chứng khoán, lại không tán đồng đấu thầu. Ông Sơn nói: “Việc lựa chọn ngân hàng chỉ định để thanh toán cho các giao dịch chứng khoán là do Ủy ban Chứng khoán lựa chọn chứ không phải do Sở Giao dịch Chứng khoán lựa chọn. Còn Sở cũng là một doanh nghiệp và họ có quyền lựa chọn bất cứ ngân hàng nào để mở tài khoản giao dịch. Việc chọn lựa được dựa trên cơ sở ngân hàng nào cung cấp dịch vụ tốt nhất, vì thế không cần phải đấu thầu”.

Ông Sơn lý giải, mặc dù việc Sở Giao dịch Chứng khoán lựa chọn ngân hàng là quyền tự chủ của họ nhưng cần phải đưa ra tiêu chí nhằm chọn được một ngân hàng tốt nhất, tránh những thông tin sai lệch về sự liên kết với nhau một cách không công bằng để hưởng lợi.

Nên thành lập ngân hàng chứng khoán?

Đã một tháng qua, kể từ khi “sự kiện 1/8”, chưa có một doanh nghiệp Nhà nước nào “rục rịch” IPO nên vấn đề “sớt” tài khoản tiền cọc, tiền đấu giá từ BIDV cho Sở Giao dịch Chứng khoán Tp.HCM nói riêng cũng như câu chuyện ngân hàng chỉ định thanh toán nói chung tạm lắng.

Nhưng dù có tạm lắng thì một vấn đề được đặt ra là làm thế nào để hài hoà lợi ích của nhiều bên thì vẫn chưa có câu trả lời thoả đáng.

Mới đây, một ý kiến được nêu ra: cần thành lập ngân hàng của thị trường chứng khoán. Theo đó, ngân hàng này sẽ tồn tại dưới hình thức một công ty cổ phần đa sở hữu, bao gồm các ngân hàng thương mại, công ty chứng khoán, công ty tài chính và Nhà nước giữ tỷ lệ phần vốn chi phối.

Theo ý kiến này, sở dĩ phải lập một ngân hàng đa sở hữu phục vụ thị trường chứng khoán vì ba lý do.

Thứ nhất, về mặt quản lý nhà nước, cụm từ “chỉ định” vẫn mang màu sắc phi thị trường và độc quyền, nhất là trong cơ chế thị trường.

Thứ hai, việc giao quyền cho một Sở giao dịch chứng khoán địa phương lựa chọn một ngân hàng nào đó cung cấp dịch vụ cho mình, khi dịch vụ đó liên quan đến hàng chục nghìn tỷ đồng và đằng sau đó là món hời không nhỏ thì dù dưới bất cứ lý do nào, cũng thật khó giải thích về sự vô tư trong sáng.

Hơn nữa, kể cả khi Ủy ban Chứng khoán ban hành tiêu chí để lựa chọn ngân hàng chỉ định và Sở Giao dịch Chứng khoán Tp.HCM, Trung tâm Giao dịch Chứng khoán Hà Nội thật khách quan chọn một ngân hàng nào đó để làm dịch vụ thanh toán thì rất có thể, món hời này lại thuộc về ngân hàng quốc doanh và vấn đề độc quyền cũng chưa được giải quyết rốt ráo.

Thứ ba, khi thành lập một ngân hàng của thị trường chứng khoán, đương nhiên ngân hàng sẽ chuyên nghiệp hơn với các nghiệp vụ thanh toán mang tính đặc thù. Mặt khác, ngân hàng này với mô hình đa sở hữu, ở một chừng mực nào đó miếng bánh cũng sẽ được chia thành nhiều phần cho nhiều chủ sở hữu hơn là tập trung vào một chủ như lâu nay.

Và đi liền với đó, sự rủi ro cũng được phân tán và sự an toàn sẽ cao hơn.

Trả lương qua tài khoản: Hiệu quả “3 trong 1”

Trả lương ngân sách qua tài khoản như một bước đệm quan trọng cho công cuộc phòng, chống tham nhũng lãng phí…

Thống kê của Ngân hàng Nhà nước cho thấy, 6 tháng đầu năm cả nước có trên 20 ngân hàng phát hành thẻ thanh toán với khoảng 6,2 triệu thẻ.

Ngày 28/8 Thủ tướng Chính phủ ra chỉ thị yêu cầu tất cả các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan trực thuộc Chính phủ, UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương thực hiện việc trả lương qua tài khoản cho cán bộ công nhân viên chức hưởng lương từ nguồn ngân sách nhà nước.

Đánh giá của các chuyên gia ngành tài chính, ngân hàng cho rằng việc trả lương qua tài khoản thực sự mang lại những hiệu quả tương tác “3 trong 1” vô cùng lớn. Đó như một bước đệm quan trọng cho công cuộc phòng, chống tham nhũng lãng phí của Chính phủ và tiến tới triển khai đề án thanh toán không dùng tiền mặt giai đoạn 2006-2010.

Cả ba nhà cùng lợi

Trước tiên, theo ông Nguyễn Trọng Nghĩa, Vụ trưởng Vụ Pháp chế (Bộ Tài chính), việc trả lương qua tài khoản là khá tiện lợi đối với cơ quan nhà nước. Vì nếu trả bằng tiền mặt, cứ đến kì lương từng bộ phận lại phải cử đại diện xuống tài vụ nhận tiền rồi chia nhỏ cho từng cán bộ, rất mất công sức. Hơn nữa, từng cơ quan khi sử dụng tiện ích tài khoản cá nhân sẽ tinh giản được biên chế.

Còn theo bà Dương Hồng Phương, Phó ban Thanh toán, Ngân hàng Nhà nước, chỉ thị mới này sẽ góp phần tạo thói quen nhận lương qua tài khoản ngân hàng cho công chức từ đó nhân rộng ra toàn xã hội đồng thời nó sẽ giúp minh bạch hóa các khoản thu nhập từ ngân sách Nhà nước, góp phần tích cực vào việc phòng chống tham nhũng. Chỉ thị này được ban hành đó là tiền đề quan trọng để tiến tới xóa bỏ việc thanh toán không dùng tiền mặt vào sử dụng trong nền kinh tế nhằm giảm chi phí ấn hành, phát hành, vận chuyển.

Với công nhân viên chức, theo qui định này thì chỉ phải mở một tài khoản cá nhân tại ngân hàng cung ứng dịch vụ và nhận tiền qua tại khoản đó định kì hàng tháng. Việc này không chỉ giúp họ hạn chế tình trạng đi đâu cũng phải cầm tiền mặt vì khi cần chỉ việc đến ngân hàng hoặc qua điểm có đặt máy rút tiền ATM. Hơn nữa, nhiều ý kiến của các cán bộ trẻ cho rằng thường khi lĩnh lương trực tiếp sẽ khó bảo quản, cất giữ và không tiết kiệm được nhiều tiền lương so với thanh toán qua tài khoản.

Riêng đối tượng “nhà băng” thì đây thực sự là điều không thể mừng hơn, việc tất cả các bộ ngành và cơ quan trực thuộc Trung ương thực hiện trả lương qua tài khoản chắc chắn giúp các ngân hàng có được cơ hội ngàn vàng để phát triển các dịch vụ cung ứng thẻ của mình tới các đối tượng này.

Theo một vị lãnh đạo của Ngân hàng Quân đội (MB), một trong những ngân hàng đang có dịch vụ trả lương qua tài khoản khá phát triển, thì trong thời gian tới cơ hội cho các ngân hàng với dịch vụ cung ứng thẻ vô cùng lớn, vì vậy ngay từ lúc này MB đang triển khai những kế hoạch cụ thể để thu hút lượng lớn các đơn vị này đến với dịch vụ của mình bằng hình thức trả lương qua tài khoản cá nhân và chi trả qua thẻ ATM.

Không chỉ riêng MB mà hàng loạt ngân hàng khác cũng đang bắt đầu tích cực triển khai các dịch vụ cung ứng thẻ như Techcombank, Habubank… với chế độ phục vụ tận “răng” cho cá nhân và các cơ quan hành chính, doanh nghiệp.

Cần hiện đại hóa ngân hàng, hệ thống thanh toán

Thực hiện việc trả lương qua tài khoản là việc làm mang lại lợi ích lớn, tuy nhiên với điều kiện cơ sở hạ tầng thanh toán còn hạn chế và hệ thống ngân hàng còn lạc hậu sẽ gây nhiều khó khăn trong việc triển khai. Hơn nữa hiện nay môi trường pháp lý, cơ chế chính sách về hoạt động thanh toán chưa cao, chưa rõ ràng cũng là trở ngại không nhỏ.

Chính vì vậy, trong chỉ thị cũng nêu rõ, Ngân hàng Nhà nước cần nhanh chóng đẩy nhanh tiến độ Dự án hiện đại hóa ngân hàng và hệ thống thanh toán nhằm phát triển hệ thống thanh toán toàn quốc gia đồng thời bổ sung và hoàn chỉnh bộ máy quản lí nhà nước về hoạt động thanh toán, cơ chế chính sách.

Bên cạnh đó, theo nhiều cán bộ, công nhân viên chức thì các ngân hàng nên mở rộng thêm điểm chấp nhận thanh toán POS chứ không chỉ tập trung ở nhà hàng, khách sạn, siêu thị lớn như hiện nay để có thể sử dụng nhiều tính năng của thẻ. Đặc biệt, trong khi dịch vụ cung ứng thẻ, tài khoản phát triển rầm rộ nhưng lại quá mang nặng tính độc quyền, thường thì thẻ ngân hàng nào thì dùng ngân hàng đó khiến khách hàng vô cùng “bí” khi giao dịch.

Thống kê của Ngân hàng Nhà nước cho thấy, 6 tháng đầu năm cả nước có trên 20 ngân hàng phát hành thẻ thanh toán với khoảng 6,2 triệu thẻ, 4 liên minh thẻ với trên 3.800 máy ATM. Tuy nhiên, hiện các liên minh này chỉ hợp tác với nhau rất hình thức và chưa hề có ý định chia sẻ cơ sở hạ tầng thanh toán.

Để thực hiện tốt việc trả lương qua tài khoản cho cán bộ công nhân viên chức và các tiến tới cho các doanh nghiệp, theo ý kiến của một vị lãnh đạo Ngân hàng Nhà nước thì ngoài nỗ lực về chính sách, cơ chế của cơ quan này, các ngân hàng thương mại – nơi cung cấp trực tiếp phương tiện thanh toán phải giữ vai trò quyết định.

Theo đó, các ngân hàng thương mại phải cung ứng tốt dịch vụ và bảo về quyền lợi tối đa của khách hàng, nhất là vấn đề bảo mật và hơn nữa các ngân hàng không chỉ dừng lại ở cung cấp thẻ, tài khoản thanh toán mà phải phát triển mạnh hơn, nhiều hơn các hình thức thanh toán tiện ích qua thẻ.Như vậy có thể thấy rằng, thực hiện thanh toán lương bổng cho cán bộ, công nhân viên chức đang thực sự chiếm được sự đồng tình, ủng hộ của rất nhiều người.

Tuy nhiên trong thời gian sắp tới, các cơ quan quản lý cũng như bộ máy ngân hàng cần có sự liên minh chặt chẽ, cần phát triển hệ thống cơ sở hạ tầng thanh toán hiện đại hơn để kế hoạch “xóa bỏ tiền mặt” của Chính phủ nhanh chóng đạt được kết quả tốt, mà trước mắt là việc hạn chế tình trạng tham nhũng và rườm rà trong công tác thanh toán lương cho cán bộ, công nhân viên chức – đó cũng là nội dung mà chỉ thị mới này qui định.

Giá vàng thế giới tiếp tục tăng

Ngày 28/8, giá vàng giao ngay lúc mở cửa tại Hồng Kông đạt 665,7 USD/oz…

Giá vàng tiếp tục tăng thêm 6 USD/oz so với ngày 24/8.

Ngày 28/8, giá vàng giao ngay lúc mở cửa tại Hồng Kông đạt 665,7 USD/oz.

Giá vàng tiếp tục tăng thêm 6 USD/oz so với ngày 24/8. Giá vàng đã tăng liên tiếp từ mức 656,2 USD/oz ngày 22/8, hiện giá vàng tăng thêm gần 1,5%.

Theo GFMS, nhập khẩu vàng của Ấn Độ có thể tăng lên 810 tấn năm 2007, trung bình khoảng 140 tấn trong quý 3 và quý 4, nếu giá vàng từ 635-675 USD/oz.

Nếu giá vàng là 700 USD/oz, nhập khẩu vàng của Ấn Độ chỉ khoảng 800 tấn. Ấn Độ tiêu thụ 1/5 sản lượng vàng thế giới.

GFMS dự đoán, giá vàng có thể tăng lên 700 USD/oz vào cuối năm nay nhờ lấy lại được vị trí là nơi trú ẩn an toàn trước những bất ổn trên thị trường tài chính.

Có thể thay đổi phương pháp tính CPI

Đề xuất về việc thay đổi phương pháp tính chỉ số giá tiêu dùng (CPI) đang được xem xét để trình Thủ tướng Chính phủ…

Phương pháp mới được đề xuất là tính CPI theo bình quân tháng.

Theo tin từ Bộ Kế hoạch Đầu tư, đề xuất về việc thay đổi phương pháp tính chỉ số giá tiêu dùng (CPI) đang được xem xét để trình Thủ tướng Chính phủ. Nguyên tắc của phương pháp mới là đảm bảo tuân thủ theo đúng thông lệ quốc tế, loại bỏ những hạn chế của phương pháp tính hiện tại mà Việt Nam đang áp dụng.

Ông Trần Kim Đồng, Vụ trưởng Vụ Tổng hợp, Tổng cục Thống kê (Bộ Kế hoạch Đầu tư) cho biết, phương pháp tính CPI mà Việt Nam đang áp dụng là tính chỉ số CPI bình quân so với tháng 12 của năm trước. Với phương pháp tính này, chỉ số CPI bị tác động rất lớn bởi giá cả của tháng 12.

“Đặc biệt, với đặc thù của Việt Nam có dịp Tết Nguyên đán, tháng 12 là tháng áp Tết, nên giá cả luôn có xu hướng tăng cao. Do vậy, nếu so với tháng 12 hàng năm, thì tốc độ tăng của các tháng sau đó thường là thấp, nhưng khi giá cả các tháng sau Tết hạ xuống, thì tốc độ tăng giá của các tháng sau đó lại cao. Các nước đã không dùng phương pháp tính so với tháng 12 hàng năm, bởi độ chính xác không cao”, ông Đồng phân tích.

Phương pháp mới được đề xuất là tính CPI theo bình quân tháng. Có nghĩa là, CPI của các tháng so với cùng kỳ năm trước rồi chia bình quân. Đây là cách tính mà hầu hết các quốc gia trên thế giới đang áp dụng để tính CPI. Với phương pháp được đề xuất này, tác động của việc tăng giá vào dịp Tết Nguyên đán của Việt Nam sẽ được loại bỏ khi CPI của các tháng được so sánh với nhau (thay vì so với tháng 12 của năm trước).

Điều quan trọng là, khi áp dụng theo thông lệ quốc tế, thì cơ sở so sánh CPI của Việt Nam và các nước sẽ đảm bảo nguyên tắc trên cùng một phương pháp tính, tránh tình trạng luôn có những sự khác biệt khi phân tích về chỉ số này của các tổ chức nghiên cứu trong nước và quốc tế.

Đương nhiên, sự thay đổi về phương pháp tính CPI sẽ kéo theo sự thay đổi về kết quả. Ông Đồng cho biết, theo cách tính của phương pháp mới này, CPI của Việt Nam năm 2007 dự kiến sẽ vào khoảng 7,5-8%. Tỷ lệ này có sự khác biệt rõ ràng với mức dự tính khoảng 8,4-8,5% khi tính bằng phương pháp hiện tại.

Cũng cần nói thêm rằng, các tính toán của các chuyên gia nghiên cứu dựa trên dự báo về khả năng có sự đột biến về CPI của các tháng cuối năm nay là không cao do các yếu tố tăng giá của một số mặt hàng có mức tăng cao trong những tháng vừa qua, đặc biệt là lương thực, thực phẩm không còn quá lớn. Và như vậy, với phương pháp tính mới, CPI năm 2007 hoàn toàn không nằm trong vùng lo ngại lớn khi tính toán các chỉ số kinh tế vĩ mô.

Tuy nhiên, ông Đồng cho rằng, sẽ không thể thay thế ngay lập tức phương pháp tính CPI mới mà không có một khoảng thời gian quá độ nhất định, có nghĩa là vẫn song hành công bố hai kết quả từ hai phương pháp tính khác nhau.

Theo ông Đồng, điều này là do các nhà nghiên cứu kinh tế vĩ mô cần phải có ý kiến và phải chuẩn bị dư luận cho việc thay đổi cách tính này. Đặc biệt, trong trường hợp phương pháp tính mới được Thủ tướng Chính phủ chấp thuận cho áp dụng thì việc tuyên truyền cần phải được thực hiện kỹ càng, tránh dư luận không tốt khi các chỉ tiêu kinh tế vĩ mô thay đổi.